Chuyện Phiếm Đạo Đời Tập 4

 

 

TRẦN NGỌC MƯỜI HAI

 

 

 

 

 

CHUYỆN PHIẾM ĐẠO ĐỜI

 

 

TẬP IV

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Cùng một người viết

 

 

 

 

Chuyện Phiếm Đạo Đời 1 – nxb An Phong Sydney 2008

Chuyện Phiếm Đạo Đời II – nxb An Phong Sydney 2009

Chuyện Phiếm Đạo Đời III – nxb An Phong Sydney 2009

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

L ờ i   b ạ t

 

 

 

 

 

 

 

Thưa quý vị và các bạn,

 

Một lần nữa, tôi lại được tác giả Trần Ngọc Mười Hai ưu ái giao cho việc soạn lời bạt cho CHUYỆN PHIẾM ĐẠO ĐỜI tập 4, thiết nghĩ không gì thích hợp hơn là xin được mở đầu bằng một chuyện vui con nhà đạo sau đây:

 

“Đức Giáo Hoàng có ý định tân trang tu bổ lại toà lâu đài Castel Gondolfo – thường được dùng làm nơi nghỉ hè của ngài. Ngài nói với viên kiên trúc sư rằng: “Con biết ý của ta rồi đó. Nhớ đừng trưng bày bất cứ cây thánh giá nào trong phòng ngủ, ta không muốn nhớ đến căn phòng làm việc của ta.”

 

Có một nhà báo nọ nói rằng sau khi đọc một chuyện phiếm nào đó, cái cuối cùng còn lại trong lòng người đọc đó là cái DUYÊN và cái TÂM của người viết. Cái DUYÊN để người ta vui. Để người ta cười. Và khi người ta vui người ta cười, thì cái thông điệp mà người viết muốn gửi đi sẽ được người đọc đón nhận một cách dễ dàng. Còn cái TÂM của người viết, là để khi đọc chuyện phiếm, người ta thấy được cái thiện ý. Cái thành tâm của tác giả. Vì rằng, khi nói đến chuyện phiếm, nguời ta có thể nghĩ ngay đến - bên cạnh chuyện hài hước - chuyện chọc cười hóm hỉnh, thì cũng có thể là chuyện cay cú, đôi khi đi đến chỗ tàn nhẫn. Lối viết đó có thể làm cho người đọc e dè. Thế nhưng, sau khi đọc chuyện phiếm của Trần Ngọc Mười Hai, người đọc không có cảm nghĩ e dè đó, trái lại vẫn tìm ra được cái DUYÊN và cái TÂM, của tác giả.

Nói một cách nào đó, chuyện phiếm muốn đạt đến trình độ nghệ thuật, phải lột tả được những nét tinh tế. Bất ngờ. Và thú vị. Thí dụ như, trong chuyện phiếm với nhan đề: “Lên đến trăm lần, nhất định mình chưa yêu”, có đoạn viết về một cụ bà 84 tuổi, như sau:

 

“Hôm ấy, nhóm phóng viên mới vào nghề thử tập tành tìm hiểu tư thế và nhân sinh quan rất cụ thể của một cụ bà tuổi bát tuần, làm sao mà cụ lại có thể cho rằng “lên đến trăm lần, nhất định mình chưa yêu”, nên mới làm cô dâu đến lần thứ tư như sau:

-Xin cụ cho biết cảm nghĩ của cụ về cuộc sống, về những gì giống-như-là-chơi-trò ú tim ở tuổi 84 rồi, mà vẫn cưới.”

 

Xem ra Trần Ngọc Mười Hai khá thành công trong lãnh vực viết chuyện phiếm … Đạo/đời. Nếu đánh giá bằng cái thước đo thời thượng kỹ thuật tin học, thì cứ xem có bao nhiêu “Hits“ là biết trang mạng đó được khách tứ phương lui tới, như thế nào. Thật ra, chuyện phiếm là những chuyện lông bông, nửa thật nửa ảo, trộn lẫn với tiếng cười. Thế nhưng, chuyện phiếm của Trần Ngọc Mười Hai ngoài dáng dấp viết cho vui, còn khiến người đọc sau khi cười, phải suy nghĩ. Suy và nghĩ có ra hay không, thì đó là chuyện của người đọc, chứ không phải của tác giả nữa. Chuyện phiếm Đạo/đời xuất bản năm 2010 là tập chuyện thứ 4, với nhiều đề tài khác nhau, đề cập đến mọi thứ chuyện trong đạo ngoài đời.

Thế nhưng, đa phần đó là những đề tài mà con nhà đạo hay thắc mắc. Có khi thắc mắc một mình. Mà cũng có khi đem ra bàn cãi nơi công khai. Tất cả những đề tài đó, là cơ hội để Trần Ngọc Mười Hai trình bày quan điểm của mình dưới ánh sáng đức tin. Qua Tin Mừng. Hoặc, qua giáo huấn của các vị đại diện giáo hội. Thí dụ như bài 16, Trần Ngọc Mười Hai bàn về nghi thức phụng vụ: chủ tế nên quay mặt về phía nào. Xoay lưng lại giáo dân, hay nhìn về phía cộng đoàn:

 

“Đứng/ngồi buổi tế tự, vẫn là cử chỉ cần rập ràng, cho xứng hợp. Nhưng, đứng/ngồi ở đời thường, là thói quen nay đã đổi, ở vài nơi. Thói quen hay thói tật, của một số người. Ở một số nơi. Đây, vẫn là đề tài của chuyện cười ra nước mắt. Cười không dứt…” 

 

Để kết luận cho bài viết này, Trần Ngọc Mười Hai gợi ý:

 

“Nếu thánh Phao-lô còn sống đến hôm nay, chắc hẳn ngài sẽ  thêm: ‘Ai có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Đức Kitô? phải chăng là phương Tây lẫn phương ta, phía trời Đông?’ Quả có thế. Dù là phương Đông, hay cõi trời Tây, ta vẫn chung một nhà. Nhà, Cha ta. Nhà, của ‘tứ hải giai huynh đệ’. Của, con dân Đức Chúa.”

 

Ngoài những điểm nêu trên, đọc chuyện phiếm Đạo/Đời của Trần Ngọc Mười Hai, người ta còn tiếp nhận được nhiều kiến thức. Kiến văn của tác giả quả là sâu rộng. Hầu như trong bất cứ chuyện phiếm nào, người đọc cũng có thể học hỏi được đôi điều. Thí dụ vấn đề thế nào là tiền bạc:

 

“Các cụ bảo: có tiền mua tiên cũng được. Được nhà được cửa, nhưng không được mái ấm/cơ ngơi, cho chính mình.

-Bọn trẻ nói: Tiền là tiên là Phật, lật đật xuống phố mua được đồng hồ, nhưng chẳng mua được thời gian.

-Và trẻ/già,cứ phán tiếp: Tiền, là sức bật tuổi trẻ, có nó ta mua được cả thuốc men, bon chen nhiều ống chích, nhưng không thể mua lấy sức khoẻ.

Tiền, là sức khoẻ rất tâm linh, có nó người người mua sách mua vở, nào đã mua được kiến thức. Tiếng tăm. Lòng kính trọng. Từ, người khác…”

 

Đức Giáo Chủ Biển Đức 16 – khi còn là Hồng Y Ratzinger – đã bắt mạch được tâm tình người thời đại, nhận ra lỗi lầm và đề ra con đường tương lai của giáo hội. Ngài đề cập đến một số vấn đề liên quan đến đức tin gay cấn nhất của thời đại như: tín điều không sai lầm của giáo chủ – vô ngộ - tình trạng độc thân của linh mục, vấn đề ngừa thai hay tái hôn, vv. Trong cuốn: MUỐI CHO ĐỜI, Hồng Y Ratzinger đã trả lời một cách thẳng thắn không che đậy những vấn nạn đó  

 

Về phần tác giả Trần ngọc Mười Hai - qua chuyện phiếm Đạo Đời - xem ra cũng bắt mạch được những nhịp đập của con tim thời đại qua một số những vấn nạn nhức nhối tiêu biểu của người Kytô hữu như: chuyện sống đạo, đi lễ, đọc kinh, cầu nguyện, ơn nói tiếng lạ, thờ cúng ngẫu tượng, vấn đề phụng vụ: đứng qùy, lễ cưới ngoài nhà thờ, bao cao su, chuyện có con, hoả táng, tai ương và hình phạt, vv…

Người xưa thường nói cứ xem quả thì biết cây. Nếu đọc kỹ các chuyện phiếm Đạo/Đời của Trần Ngọc Mười Hai, người ta thấy phảng phất đâu đó, cả lối văn lẫn ý tứ của các bậc tiền bối trong Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam như LM Nguyễn Thế Thuấn trong lãnh vực kinh thánh, giáo sư Nguyễn Ngọc Lan trong lãnh vực triết học và xã hội, và LM Đinh Khắc Tiệu trong lãnh vực thần học. Đó là những vị thày uyên thâm, đáng kính mà Trần Ngọc Mười Hai có vinh hạnh được học hỏi.

Về hình thức, một lần nữa, trong chuyện phiếm Đạo Đời tập 4, Trần Ngọc Mười Hai vẫn tiếp tục điểm tô các bài viết của mình bằng những ca khúc quen thuộc, để mở đầu và cũng để kết thúc các câu chuyện, như những nốt ruồi duyên, cần có trên gương mặt người đẹp.

Cuối cùng, đọc chuyện phiếm Đạo/Đời người ta thấy ngay Trần ngọc Mười Hai là một người rất tha thiết với niềm tin, và giáo hội.

Nếu chúng tôi không lầm, thì Trần Ngọc Mười Hai lúc này viết rất khoẻ. Và rất đều. Cứ nhìn vào 3 trang mạng do  Trần Ngọc Mười Hai phụ trách như:

 

www.suyniemloingai.blogspot.com

www.trangocmuoihai.blogspot.com

www.giadinhanphong.blogspot.com,

 

thì cũng rõ.

 

Một lần nữa, xin cám ơn tác giả Trần Ngọc Mười Hai và xin nghiêng mình bái phục. Chúc Trần ngọc Mười Hai tiếp tục viết mạnh với hy vọng rằng các câu chuyện phiếm đạo đời sẽ trở thành muối/men để thêm phần tác động vào một thế giới đang có nguy cơ mỏi mệt với tôn giáo.

 

Vũ Nhuận

Sydney 2010

Một ngày chớm thu.

 

 

 

 

 

 

 

 

 1. “Lên đến trăm lần, nhất định mình chưa yêu”

Rồi trách móc trời không gần cho tay với
Và cả nàng, hư quá sao mà kiêu ...??

(Ngô Thuỵ Miên – Tuổi Mười Ba)

 

(Mt 20: 1-6)

            Tuổi mười ba/mười tám, hay tuổi ba tám/tám ba cũng đều là như thế. Vẫn cứ tưởng mình là hăng say đóng góp công sức suốt cuộc đời, cho Nhà Chúa. Cho Giáo hội. Vẫn nghĩ rằng, mình sẽ được ơn mưa móc, hơn người khác. Chưa hẳn là thế. Nên, vẫn hát được: “lên đến trăm lần, nhất định … mình chưa yêu”. Chưa yêu mình, và yêu Chúa. Chưa thật sự hết lòng, vì Chúa. Vì Giáo hội. Có chăng, cũng chỉ là yêu cái “tôi”, đánh rất bóng, của mình thôi!

            Thế nên, mỗi lần mở băng nhạc, để nghe lại giọng hát của người ca sĩ nổi tiếng nhiều thời, hát bài “Tuổi mười ba”, bần đạo có cảm giác, như: người viết đã nhắn nhủ điều gì đó, với mình. Với người. Người nhà Đạo! Chốn dân gian. Nên hôm nay, nhân đọc tuồng tích Forrest Gump trích dẫn trên “Bản Tin” của một giáo xứ nhỏ bé, bần đạo thấy có đôi điều cũng nên chuyển đến bạn bè, để thưởng lãm. Trước tiên, là truyện kể:

 

“Phim truyện nhiều tập mang tựa đề “Forrest Gump”, có lúc được kể là ‘niềm hân hoan của người tham chiến’. Vào lúc nào đó, truyện phim nói về sự việc: “sao người chót hết lại có thể về trước nhất”. Câu chuyện trên, rút từ những điều mà nhà làm phim đã để lại trong đầu, người xem.

 

Forrest Gump rồi cũng chết. Cũng lên thiên đàng. Khi tới nơi, anh đã thấy thánh Phêrô đem đến cho anh 3 câu hỏi thuộc lọai vừa tầm, tuy không khó nhưng buộc anh phải giải mã trước khi bước qua ngưỡng cửa của Thiên đường. Ba câu ấy, là:

1) Ngày nào trong tuần bắt đầu bằng chữ T?

2) Một năm có bao nhiêu giây?

3)Tên cúng cơm của Chúa là gì?

Forrest trả lời trong thoáng chốc:

-Thưa, 2 ngày trong tuần bắt đầu chữ T là: hôm nay và ngày mai (today, tomorrow).

Thánh Phêrô liền nói ngay:

-Ta không nghĩ thế, đó là Thứ Ba và Thứ Năm (Tuesday – Thursday) nhưng con vẫn có được điểm cao. Thế còn câu hỏi tiếp, con trả lời ra sao?

-Con nghĩ, nếu như thế câu trả lời của con là: 12.

-12 ư?

-Vâng. Và, thưa, đó là ngày 2 tháng Giêng, ngày 2 tháng Hai, ngày 2 tháng Ba…

-Khoan cái đã! Ta biết là con đang cò cưa câu trả lời, để lấy lệ. Thế còn, câu hỏi cuối?

-Dạ, với câu hỏi cuối, trả lời của con: là Andy!

-Andy à? Thôi được, cứ coi như 2 câu đầu con đã biết cách trả lời. Nhưng sao lại đặt tên tục cho Đức Chúa là: Andy?

-Dạ thưa, vì đó là câu trả lời dễ nhất. Con học được điều ấy trong bài ca ANDY đi với tôi, ANDY tới với tôi, ANDY bảo tôi thuộc về Ngài’ 

Nghe thấy thế, thánh Phêrô bèn mở cửa ngọc và hối hả nói: “Thôi, con vào đi, hỡi Forrest Andy, vào lẹ đi!” (Richard Leonard, SJ – The Bulletin, Fairfield Parish Church 21.09.2008)

 

            Thật ra, câu truyện thực sự “không phải là chuyện phiếm” diễn tiến ở trên, đã như thế này:

           

                        “Như thế,

kẻ sau hết sẽ nên trước hết,

và kẻ trước hết sẽ nên sau hết" 

(Mt 20: 6)

 

            Thế đó, là công bình của Đức Chúa. Công bình của Ngài, không đặt nặng vào sự việc đến trước/đến sau. Ai làm nhiều/ai làm ít. Hoặc, có nên gọi các chú chim non thức sớm, vội bay đi kiếm gạo vào đầu giờ, là đàn chim ban sớm, nữa hay chăng? Và, “đàn chim thức sớm” ấy, có hưởng nhiều ân lộc/của thánh, đấy chứ nhỉ? Bởi, đàn chim hôm nay cũng nhận ra một điều, là: chúng có bay đi sớm hay đến trễ, thì cỏ xanh đồng nội vẫn cứ tràn đầy, nhiều giun dế.

            Hiểu cùng một kiểu, ta có thể bảo: nếu thế, thì Hội thánh thời tiên khởi, sẽ đạt nhiều ân huệ/đặc sủng từ Trời Cao, hơn giáo-dân-bậc-thứ rất tà tà kiểu “Giô-ni đi tàn tàn” phim dài nhiều tập? Hiểu như thế, ta sẽ đặt mình vào trường hợp của các thợ làm vườn tìm đến trước, chắc rằng rồi ra cũng sẽ ngồi đó mà càm ràm: “Chúa đối xử với tôi, thật chẳng được công minh cho lắm?”

            Tìm hiểu kỹ, bần đạo thấy: truyện kể về “đàn chim thức sớm”, về chàng “Giô-ni đi tàn tàn” hoặc về người làm vườn nho đến đầu giờ, những càm ràm về bất công, là thái độ của mỗi người chúng ta, vào mọi buổi. Càm ràm và bất bình, khi thấy Chúa gọi mời cả những người “ngoài luồng”, rất bạo lọan, rất căn nguyên/triệt để, chỉ đến làm vào giờ cuối, cũng được thụ hưởng ân-huệ nhưng-không ngang bằng, ở Nước Chúa. Như thế, có bất công chăng?

            Ở đây nữa, hỏi tức đã trả lời. Và trả lời, một cách ỡm ờ. Vu vơ. Lạ kỳ. Trả một lời, như ở trên:

 

                        “Trời hôm nay, mưa nhiều hay rất nắng,

                        Mưa tôi trả về, bong bóng vỡ đầy tay.

                        Trời nắng ngạt ngào, tôi ở lại đây

Như một buổi hiên, nhà nàng dịu mát.”

(Ngô Thụy Miên – bđd)

 

            Điều cần nói thêm ở đây, là: khi nghe hát, hoặc khi đọc dụ ngôn/truyện kể về “người làm vườn”, ta há chẳng nhận ra rằng: đó là tính khí thường tình của con người chúng mình, sao? Tính khí, vẫn mang nặng cảm giác hờn giận. Cay cú. Nhất là, khi ta bỏ hết công sức và mỏi mòn ngồi chờ Đấng Mê-sia, đến thưởng công. Nhưng khi Ngài đến thay vì thưởng công, lại làm ta thấy quá nhiều chuyện bất ưng, để càm ràm. Bất ưng nhất, là khi đám “Giô-ni đi tàn tàn”, làm việc ít giờ là thế, nhưng lại được thưởng công, ăn trên ngồi chốc, rất trên cao. Ngay tại phẩm trật triều đình của Giáo Hội. Của cộng đoàn. Còn tôi, tuy đến từ buổi sáng, như “đàn chim thức sớm”, vẫn không được hơn họ.

            Có lẽ vì thế, mà người ca sĩ nổi tiếng mọi thời, lại vẫn hát:

            “Trời hôm ấy, mười lăm hay mười tám

Tuổi của nàng, tôi nhớ chỉ mười ba

Tôi phải van lơn ngoan nhé! đừng ngờ!

Tôi phải van lơn ngoan nhé! đừng ngờ!”

(Ngô Thuỵ Miên – bđd)

 

            Chuyện Chúa đối xử, hay chuyện “đừng ngờ!” chính là, công minh Ngài vượt quá tầm tay với, điều mà ta có thể ngờ. Và, có thể kêu cầu. Bởi tự thân, ân huệ của Chúa luôn vượt quá chữ “đừng ngờ!”, ta vẫn có. Nghĩa là, Chúa luôn xử sự cách nghịch lý, khác với thói thường, của ta. Và thông thường, Chúa để lộ phong thái “đừng ngờ!” của Ngài, như sau:

 

            “Này bạn,

            Tôi không làm gì thiệt hại đến bạn,

            Tôi muốn trả cho người đến sau hết bằng bạn,

            Há nào tôi chẳng được phép làm như ý tôi sao?”

                        (Mt 20: 5)

 

            Và, có một điều dễ hiểu, nhưng người người có lẽ vẫn cứ không chịu hiểu, đó là: dụ ngôn “người làm vườn”, chỉ là truyện kể Chúa dùng để nói về Nước Trời. Nghĩa là, truyện kể chỉ là dụ ngôn để nói lên một điều, rằng: ở Nước Trời, tức chốn cộng đoàn trần gian ta đang sống, vẫn có những “ngoan nhé, đừng ngờ!”, khiến “tôi cứ phải van lơn”; là bởi vì, mọi hành xử Chúa đã và đang làm, đều đảo ngược tư thế “đừng ngờ!”, của người thân. Việc Chúa làm, cũng đảo ngược mọi mơ ước, đợi trông. Cùng, các hãi sợ, viển vông. Đảo luôn mọi đồn đoán khó tin, của người mình.

            Quả là, ta vẫn không ngừng tìm Chúa theo tầm nhìn, của riêng ta. Cũng tựa hồ như truyện khoa học giả tưởng, do ta chế. Trong khi đó, Chúa đến hành xử lại như một kẻ bần hàn, đói rét. Trần trụi. Thật không ngờ! Thế đó, là lý do tại sao nhiều người cứ mải quyết đoán: Chúa chỉ hoạt động theo cách thế thân quen. Nơi có con người. Qua con người. Vào thời điểm, mà người thường rất dễ nhận. Và, việc Ngài làm, thường kết thúc chung quanh đường ranh của những khôn ngoan, và tin tưởng. Tin vào Đạo. Tin vào Lời.

            Quả là, Chúa vẫn yêu thương đùm bọc Hội thánh. Nhưng dứt khoát, Ngài chẳng bao giờ chịu để cho những qui định  - hoặc còn gọi là luật Hội thánh từng ràng buộc các  hành xử, của Ngài. Ngài chẳng bao giờ bị khống chế bởi công lênh của các thành viên trong Hội thánh, những người vẫn nghĩ rằng mình đã xả thân hăng say vì Chúa, cho Chúa. Sẽ được hơn.

            Đây chính là điều, mà Chúa hằng nhắc nhở bạn và tôi hôm nay, những người hay say men chiến thắng, ỷ vào công lênh mình đóng góp, rồi tự cho mình thành quan to chức lớn, rất bệ vệ. Nhìn chung, ta vẫn  thấy nhiều người tự cho mình có công lênh, đã hy sinh thì giờ, công sức và tiền bạc, rất nhiều, để phụng sự, ắt có công. Rồi thì, cậy vào công lênh mình đóng góp, lại dễ cho mình ngang với quyền uy/chức vụ được “tạm thời” đề cử, ở trần gian. Để rồi, cứ ngồi mãi nơi quyền cao chức trọng ấy, không muốn nghĩ đến đổi thay.

Rồi cũng dễ nổi nóng, chóng bất bình, khi có người góp ý phản hồi. Hệt như người thợ đến-vào-giờ-đầu, vẫn cứ bất bình và càm ràm về cái-gọi-là “bất công” của chủ. Thay vào đó, lẽ đáng ra nên chăm lo cảm tạ hết mình, mới phải. Bởi lẽ, có nhờ Ngài, mình mới nên cao trọng. Có nhờ Ngài, mình mới thành ông trùm, bà chúa, rất cao sang, thôi.

            Khi cảm tạ, mình sẽ không còn thấy bất công, xảy đến ở vườn nho Hội thánh, Nước Trời. Có cảm tạ như thế, mình mới hiểu rõ thế-thái-nhân-tình, hơn. Nắm rõ hơn, Lời vàng Ngài căn dặn hôm trước. Có cảm tạ thật tình, mình mới không còn bất bình, chuyên khiếu kiện. Tốt hơn hết, cứ bắt chước phong thái người nghệ sĩ, luôn vẫn hát:

           

            “Áo nàng vàng, anh về yêu hoa cúc,

            Áo nàng xanh, anh đếm lá sân trường.”

 (Ngô Thuỵ Miên – bđd)

 

            Vàng hay xanh, anh vẫn mến. Mến đến độ:

 

“Sợ thư tình không đủ nghĩa yêu thương    

Anh thay mực cho vừa mầu áo tím.”

(Ngô Thuỵ Miên - bđd)

 

            Thay mực, cho vừa mầu áo tím của lê dân/bậc thứ, hoặc để đổi thay tâm tính/tính tình, để rồi mình nhận ra điều Chúa nhắn nhủ:                  

            “Phúc cho ai

            nghe lời Thiên Chúa

            và noi giữ.”

            (Lc 11: 28)

 

            Và, Lời Chúa vẫn khuyến khích mọi người trở nên thấp bé, như con trẻ. Bởi lẽ:

 

            “Cha đã giấu

không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này,

nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn.”

(Mt 11: 25)

 

            Và thay cho vừa mầu áo tím, là làm như truyện kể vui nhẹ về cụ bà 84, ở bên dưới:

 

“Hôm ấy, nhóm phóng viên mới vào nghề thử tập tành tìm hiểu tư thế và nhân sinh quan rất cụ thể của một cụ bà tuổi bát tuần, làm sao mà cụ lại có thể cho rằng “lên đến trăm lần, nhất định mình chưa yêu”, nên mới làm cô dâu đến lần thứ tư như sau:

-Xin cụ cho biết cảm nghĩ của cụ về cuộc sống, về những gì giống-như-là-chơi-trò ú tim ở tuổi 84 rồi, mà vẫn cưới. Và xin cụ cho biết đức lang quân của cụ lần này, làm nghề gì?

-Thì, cũng chỉ nho nhỏ thôi, đó là nghề … làm chủ nhà quàn.

-Chà! Thưa cụ, nghề này hấp dẫn dữ à.

-Dạ, cụ có thể bật mí cho biết, các vị lang quân trước kia, thì sao ạ?

-Mấy lão trự lúc trước ấy à? Vậy yên, cho tôi nhớ lại cái đã… À qua nhớ ra rồi. Lão đầu tiên hồi qua mới chỉ có đôi mươi là chủ một ngân hàng. Đến năm qua lên 40, thì qua đổi qua một lão khác là chủ một gánh xiếc, đến tuổi lục thập qua bèn cưới vị chủ trì một nhà thờ. Và bây giờ, ở tuổi bát tuần, qua lại muốn làm bạn trăm năm với ông chủ khác. Chủ này là chủ nhà quàn chuyên tổ chức các đám … viễn du miền cực lạc.

-Con dám xin cụ cho con hỏi câu chót nhé. Thưa, lý do nào, hoặc động lực nào thúc đẩy cụ lại làm thân thương yêu đến 4 ông chồng khác nhau, đều làm chủ cả vậy?   

-Chuyện nhỏ, bạn trẻ à. Qua cưới người đầu là vì tiền, người thứ hai là vì muốn… nổ lốp xốp. Tay thứ ba là để lúc nào cũng cảm thấy mình trong tư thế sẵn sàng, và đến người thứ tư là để … đi, thôi.”

 

            Cứ như quan niệm của cụ bà cô-dâu-ở-tuổi-bát-tuần, thì cụ là người đến cả vào giờ đầu lẫn giờ cuối. Ai cũng là chủ. Như thế không còn lý do gì để kêu oan, với càm ràm. Lúc nào cũng sẵn sàng, mà ra đi. Có công lênh sức lực để đóng góp hay không, không thành vấn đề. Có chăng chỉ là phong thái sẵn sàng, để phục vụ. Để yêu thương, rồi sẽ vui hưởng cuộc đời. Dù đời mình, có “mưa nhiều hay rất nắng”. Nắng ngạt ngào hay mưa trả về, mình vẫn “ở lại đây”. Ở nơi dịu mát, có bóng cây. Hoặc, chốn Nước Trời, tràn đầy hạnh phúc.

 

            Trần Ngọc Mười Hai

            Vẫn nhớ lời dặn

            “sau hết nên đầu hết        

            đầu hết nên cuối hết”

            của Đức Chúa,

            trong cuộc đời.

      

 

 

 

2. “Ai ơi, người về cho ta nhắn với”

Nha Trang quê hương dịu hiền
Ngàn đời lòng tôi mến yêu
.

(Minh Kỳ/Hồ Đình Phương – Nha Trang)

 

(Mc 10: 35-45)

Còn gì sướng bằng, “buồn ngủ, gặp được chiếu manh”. Manh chiếu, mà bần đạo nay gặp được là nhạc bản cổ xưa, mình vẫn ưa. Nhạc bản này, diễn tả tình người, ở quê nhà. Tình người Nha Thành, êm ấm. Có cát trắng. Trăng thanh. Đề huề, niềm nhung nhớ. Nhớ và thương, hơn cả nỗi niềm nhung nhớ của “người tình không chân dung”, thời trước. Nha Trang, quê nhà thứ hai của bần đạo, rõ ràng là quê hương dịu hiền. Miền nhung nhớ. Với lời lẽ, khi xưa người nghệ sĩ vẫn cứ hát:

 

“Nha Trang hoà bình vương vương khắp lối,

đêm đêm trăng thanh rạng ngời

ngày ngày nắng ấm xinh tươi.”

 (Minh Kỳ/Hồ Đình Phương- bđd)

 

            Nhớ Nha Trang, là nhớ những ngày nắng ấm xinh tươi. Hoà bình. Nhớ trăng thanh. Gió mát. Rất rạng ngời, tình nhớ thương dân con đồ đệ của Đức Chúa. Rạng và ngời, tình thương mến dành trọn cho Hội thánh. Hôm nao. Tình Hội thánh, có giảm suy không, mà sao dân con người người cứ vắng bóng. Thưa thớt. Đi đâu rồi.

            Tình cảm thân thương đó, được tỏ bày với Hội thánh hôm nay, vẫn có lời tả oán, rất ái ngại. Không đứng vững. Vẫn có cái gì đó chưa ổn, ở trời Tây. Trời của Tây, nay thấy xuất hiện những giòng chảy, thê lương. Kiệt xuất. Mê hồn. Như trần tình cảnh báo về số người đi Đạo, rày sa sút.

            Cách đây không lâu, vào niên biểu hai nghìn lẻ tám, Tuần báo Newsweek ở Hoa Kỳ, có thực hiện một khảo sát về số Người Mỹ tự nhận mình không tín ngưỡng, có cho biết: năm 1990, số người Mỹ tự nhận không dính dự với tôn giáo, đang có tỷ lệ 8% đã lên đến 15%. Tức, cũng ăn khớp với số người theo Đạo Chúa, đang bớt dần.

            Ở Úc, số người tự cho là mình không dính dự đến tín ngưỡng/tôn giáo ở mức cao. Thống kê năm 1991 cho biết: số người này nay lên đến 12.9% trong tổng số dân Úc. Với thống kê 2006, số  người này đã lên đến 18.7% (xem Peter Kirkwood, The decline of Christianity in Australia and America, Eureka St 12/6/2009)

            Nói gì thì nói, chứ tác giả Jon Meachem từng nhận định trong tờ Newsweek vào độ ấy, đã biện luận: số người đi Đạo, vẫn ở mức cũ, nghĩa là: có đến 76% tổng số người Mỹ tự nhận mình theo Đạo Chúa (so với Úc, tỷ lệ này là: 64%). Và phần đông số này, là người Công giáo (tính ra có: 25%, ở Mỹ; và 25.8%, ở Úc). Về chuyện này, có đến 45% tổng số người đi Đạo ở Mỹ (và 34% ở Úc), nói: họ là những người “đã tái sinh”. Và, tác giả Peter Kirkwood kết luận: “Vị thế của Kitô-giáo ở Mỹ đã khác hẳn. Ở Úc, con số ấy không đến nỗi khác lắm.” (x. P,Kirkwood, bđd)            

            Vấn đề đặt ra với bà con mình, là: quan ngại như thế có cần thiết lắm không?

            Để hồi đáp, có lẽ cũng nên nghe người nghệ sĩ xưa, cứ hát tiếp:

 

            “Nha Trang từ ngày xua tan bóng tối,

            mơ say dâng lên bầu trời,

thề cùng giữ vững tương lai.

            Nha Trang, ngày này khách du bước tới  

            không ai quên trao nụ cười,

để mừng lòng thêm thắm tươi.”

(Minh Kỳ/Hồ Đình Phương- bđd)

 

            Thật cũng đúng. Hãy cứ xua tan bóng tối, những nghi nan vọng về. Để rồi, ta chỉ nghĩ đến tương lai. Thứ tương lai, đặt nặng phẩm chất, hơn là vào số lượng, người đi Đạo.

            Chất lượng người đi Đạo và giữ Đạo, còn là chất lượng ta nghe biết và thực hiện Lời Chúa, sống đời thường. Với tâm tư ta vẫn nghĩ, vẫn suy như nghệ sĩ xưa, rày tưởng nhớ:

 

            “Còn đâu những chiều vui xưa?

Còn đâu những chiều say sưa?

Ngồi nơi biển buồn trông ra khơi, mênh mông…?

(Minh Kỳ/Hồ Đình Phương- bđd)

 

            Say sưa, không nhìn trời. Chỉ nhìn những biến và đổi. Say sưa. Vui xưa. Là, vui say sống những ngày thân thương có Chúa. Có người anh người chị, cận kề bên nhau, lòng an ủi. Giùm giúp. Thích thú. Nhớ để đời.

            Hỏi, là hỏi xem có còn ý nghĩ ưu tư. Viển vông. Lo sợ. Về thiên đàng/hoả ngục, chốn ấy. Rất nhiều bên. Có linh mục nọ, cho rằng Hội thánh cứ giảng và dạy về “hoả ngục”, rất nghĩa đen. Nhưng, chú giải tử tế, ta sẽ thấy bản văn kinh thánh nói về ngục thất đầy những “hoả”, chỉ là ảnh hình mà sách Khải huyền muốn diễn tả về hoàn vũ theo lối nói hùng hồn, biểu tượng. Chứ không mô tả một thực tế, rất nghĩa đen (xem Kevin O’shea, CssR meditation: All saint and all souls, Sunday 1/11/2009).

            Thiên đàng, thì khác hẳn. Cũng là loại hình ngôn ngữ đầy biểu tượng. Biểu trưng. Nhưng, thiên đàng không là phỉnh gạt, đánh lừa tâm tưởng chúng ta. Mà là, một xác tín về Thiên Chúa, Đấng tràn đầy tình thương. Hiểu như thế, Thiên Chúa sẽ thực hiện theo kiểu cách riêng tư để đưa ta về với Ngài, một khi ta không còn sống ở thế giới gian trần, này nữa.

            Xem như thế, khi dùng ảnh hình Thánh kinh (đa phần từ các bài trong Khải huyền) để diễn tả trạng thái tốt lành của Thiên Chúa, của Đạo, ta nên biều rằng: ảnh hình ấy, biểu trưng cho điều gì đó, rất cao cả. Cao cả, đến độ không nên dùng nghĩa đen, để đặt tên. Điều, mà ta có thể đặt tên cho, không là nỗi niềm lo sợ của con người. Mà, là Tình Yêu Thiên Chúa, rất đích thực. Và như thế, hình ảnh hoả ngục thực sự đã dẫn đến niềm lo sợ, của chính ta. Trong khi đó, thiên đàng mới dẫn ta về với Tình Yêu Thương cao quý, đích thực của Đức Chúa, đối với ta (x. Kevin O’Shea, CssR – bđd).  

            Như thế, ta sẽ không còn ưu tư lo lắng, nhưng cùng hát với nghệ sĩ khi xưa, rằng:

 

            “Nha Trang, còn tràn hương thơm gió núi,

hoa xuân trao nhau nụ cười

người người sánh bước chen vai…”

(Minh Kỳ/Hồ Đình Phương- bđd)

 

            Với nhà Đạo, sánh bước chen vai, không phải để mon men về đất miền có biển xanh cát trắng, lấm bụi trần. Mà, để trao cho nhau những nụ cười. Ngõ hầu tìm nguồn vui sống. Sống vui. Sống vững chãi, vì không còn lắng lo cho số lượng người đi nhà thờ/nhà thánh. Chỉ, mỗi ưu tư chăm chút về chất lượng tình Chúa. Tình người.

            Tình người, hôm nay cũng đã khác. Khác ở chỗ, nó không còn tập trung vào chuyện xưa tích cũ. Rất khô khan. Nhàn nhạt, về đủ thứ. Nhưng, đã biết bung ra. Bung nhiều, về xứ miền nhiều phấn chấn. Cội nguồn. Hấp dẫn dân nhà Đạo. Như truyện kể của linh mục nọ, về Châu Phi, ghi ở dưới:

 

“Tôi có quen một linh mục. Ông được mời đến xứ đạo nọ để san sẻ lời Chúa, trong một buổi Tiệc Thánh, rất Châu Phi. Ông là một trong số rất ít những người da trắng, sống chung đụng với hàng trăm giáo dân da mầu, người bản xứ. Đất miền này. Ông thuật lại: khi ông đứng bục để chia sẻ Lời Chúa, thì giáo dân ngồi dưới vừa nghe vừa nhún nhảy. Cười hát vang vang. Vui thú. Nhộn nhịp. Và, mỗi khi ông kể dăm ba câu chuyện hài hước để minh hoạ cho đề tài thần học và Kinh thánh, thì giáo dân ở đó cứ đòi ông kể thêm, nhiều hơn nữa. Và, bài chia sẻ hôm ấy, kéo đến gần 20 phút, mà họ vẫn không thấy là dài. Bởi lẽ, cứ sự thường, thánh lễ ở hầu hết các miền bên Châu Phi, kéo dài hơn hai tiếng đồng hồ. Không thấy ai đi trễ. Chẳng thấy ai vội về. Không càm ràm. Chẳng chê trách, Vẫn vui hát.” (x. Richard Leonard sj Sunday meditation, 18/10/2009)

 

            Nói cách khác, nếu nhìn vào mức suy giảm trong số những người đi nhà thờ, rồi chán nản cho rằng Đạo Chúa đã và đang suy sụp. Cũng không đúng. Như truyện kể ở trên, có người nhìn sự kiện truyền Đạo, nay khác hẳn. Khác, tức là mọi công tác rao truyền Đạo Chúa không còn tập trung vào lục địa già/xưa, cổ lỗ nữa. Nhưng đã chuyển hướng về đất miền trẻ trung, đầy phấn chấn. Nói cách khác, nay là lúc các xứ truyền giáo khi xưa đã khởi sự quay về nguồn cội, để rao truyền Tin Mừng của Chúa, cho các vị từng ngủ vùi trong quên lãng. Khi sự dữ/Ác thần, đã ở trong. Trong Đạo. Trong đời.

            Nói “các vị”, nhưng là chính ta. Chính là dân con Đạo Chúa, vẫn theo Đạo và giữ Đạo của Chúa, một cách rất “Tây”. Tây, trong suy tư. Tây, cả trong cách hành xử, nhiều khiếm khuyết. Tây, còn theo nghĩa mà đức thày khác, đức thày Dòng Tên ghi danh ở trên, đã có quan niệm rất mới, như sau:

 

“Rõ ràng là, văn hoá rất “Tây” của chúng ta, dù có đủ tính chất tinh vi phức tạp, công bằng và uyển chuyển, xem ra đang mất đi cái thần hồn và thần tính, của chính mình. Các nước đã phát triển, nay đã nhanh chóng trở thành đất miền truyền giáo rất mới, của thế giới. Mai ngày, các nước còn tiến triển, có lẽ sẽ giúp ta tìm lại diện mạo Đức Kitô, trong nền văn hoá của chính mình. Và như thế, điều này sẽ giúp tìm được con Đường.Sự Thật. Và, sự Sống. Của Tin Mừng.

Các nước đang phát triển,tuy còn kém cỏi rất nhiều thứ, vẫn cho ta thấy được rằng: cả vào khi người người có nhu cầu thiết yếu để mưu cầu cuộc sống hằng ngày. Họ vẫn sống, đúng phẩm giá con người, dù có khó khăn về kinh tế và cuộc sống thường nhật, họ vẫn yêu thương. Vẫn đứng vững trong niềm tin, rất chung thuỷ. Đương nhiên là việc này cũng chẳng làm ta ngạc nhiên hay bị sốc, gì hết. Bởi, như Chúa nói với ta qua Tin Mừng thánh Máccô đoạn 10, câu 35-45, là: không ai, không có gì, và cũng chẳng có nền văn hoá nào, được phép thống trị người khác. Hoặc, trở thành cơ chế độc đoán, với bất cứ người nào, văn hoá nào. Chí ít, là văn hoá khác kiểu “Tây” của mình. Điều, khiến cho cộng đồng dân Chúa khắp nơi trở thành những con người cao cả, là: lòng khiêm nhu, độ lượng, trong phục vụ. Khiêm nhu/khiêm hạ, cả vào lúc được người khác phục vụ mình, đề cao mình nữa…” (x. Richard Leonard sj, bđd)

 

            Tính khiêm nhu độ lượng ấy, nay vẫn thấy ở những đất miền bị mọi người cho là nghèo, là hèn. Đang phát triển. Một Châu Phi. Châu Á. Với, Ấn Độ. Những nơi sản sinh nhiều đấng bậc rất lành tuy chưa được phong thánh, nhưng vẫn nói về Nước Trời ở trần gian, có Chân. Có Thiện. Có Mỹ, như ngài Mahatma Gandhi của Ấn Độ, rất đức độ, như sau:

 

*Cách hay nhất để tìm lại chính mình, là để mất đi con người mình, bằng việc phục vụ  kẻ khác.”     

*Thiên Chúa nhiều lúc cố tìm ra người để Ngài chúc phúc, nhưng cũng khó.

*Khi chiêm ngưỡng nét diệu kỳ của buổi chiều tà hoặc cái đẹp của mặt trăng, hồn tôi bỗng trải rộng ra hơn, bằng việc phụng thờ Đấng Tạo Hoá.

*Khi ta có được sự hài hoà giữa những gì ta nghĩ, với những gì ta nói và những gì ta làm, đó là lúc ta thực sự có hạnh phúc.

*Nếu ta thực sự muốn dạy cho thế giới này biết về hoà bình, và dấy lên cuộc đấu tranh chống lại chiến tranh, thì có lẽ ta phải bắt đầu từ nơi con trẻ.

*Với tôi, vẫn là chuyện huyền bí để nghĩ rằng sao mà con người vẫn cứ cho là mình được tuyên dương bằng sự khiêm hạ/nhún nhường của tha nhân.  

*Thật quá dễ để ta có thể làm thân với bạn bè của người khác. Nhưng làm bạn với người mà mình cho là kẻ thù, vẫn là bản chất của tôn giáo đích thực. Ngoài ra, tất cả chỉ là chuyện làm ăn/tầm phào, mà thôi.

*Về nguyện cầu, tốt nhất nên có con tim không lời lẽ, hơn là có lời lẽ mà không con tim. 

*Không có gì làm ta phí phạm thân xác bằng sự lo lắng. Những ai không có niềm tin vào Thiên Chúa sẽ phải xấu hổ mà ưu tư về bất cứ thứ gì, giống như thế.

*Chỉ mỗi phục vụ độc nhất cho một con tim bằng hành động duy nhất nào đó, vẫn tốt hơn là cả ngàn cái đầu cứ co cụm lại cúi rạp, mà cầu kinh.  

*Đừng nên để mất niềm tin vào nhân loại. Bởi, nhân loại là biển cả bao la, nếu chỉ một giọt nước biển bị dơ bẩn, toàn biển cả đâu có bẩn dơ.

*Chính ta phải là sự đổi thay, nếu muốn thế giới này thay đổi.

 

            Trên đây là những lời lẽ nói lên được nhiều điều, chẳng cần phải thêm thắt một lời bàn nào hết. Bởi, càng có lời bàn, ta càng làm cho những lời ấy rối rắm, những ưu tư. Ưu tư – lo lắng, như lời bàn về giảm suy số lượng những người còn niềm tin nơi Đạo. Chí ít, là chất Đạo của niềm tin.

 

            Lời cuối hôm nay, bần đạo xin đề nghị, là: cứ thế mà hát vang câu ca của nghệ sĩ, từng viết:

 

            “Nha Trang lời này mong sao nhắn tới,

tuy xa bao nhiêu ngày rồi, mộng đẹp còn

luôn với tôi.”  

 (Minh Kỳ/Hồ Đình Phương- bđd)

 

            Nếu đồng ý với nghệ sĩ, mộng đẹp hôm nay về niềm tin hay bất cứ thứ gì, vẫn là điều mà bạn và tôi, ta mong ước. Mong ước nhiều, về niềm tin vẫn có trong ta. Nơi ta. Niềm tin của ta và của người, vẫn được Thầy Chí Thánh nhắc nhở, ở Tin Mừng:

 

“Chén Thầy sắp uống, anh em cũng sẽ uống;

Phép rửa Thầy sắp chịu, anh em cũng sẽ chịu.

Còn việc ngồi bên hữu hay bên tả Thầy,

thì Thầy không có quyền cho,

Thiên Chúa đã chuẩn bị cho ai

thì kẻ ấy mới được.”   

            (Mc 10:  39-40)

 

            Thêm nữa một lời cuối, là một nhắc nhở, rằng: niềm tin cũng là quà tặng, từ Đức Chúa. Chí ít, là số người đi nhà thờ, để kính tôn.

 

            Trần Ngọc Mười Hai  

vẫn cầu cho mình

            đừng quá lo về số lượng,

            để rồi nghi ngờ về chất lượng của niềm tin.

Anh em mình.

     

 

3. “Thương nhau thật nhiều

biết mấy tin yêu”

Cho nhau trọn tình dẫu có điêu linh
Xa nhau trọn đời vẫn nhớ thương nhau

(Nguyễn Trung Cang – Thương nhau ngày mưa)

 

(Ep 4: 3)

            Chừng như, con dân nhà Đạo mình vẫn có lề thói khá quen quen, là: “thích đồ cổ”. Đồ rất cổ, bần đạo muốn nói ở đây, có thể là “truyền thống giáo phụ”. Là, lề lối “bảo thủ”, khó gột bỏ. Gọi đó là tính nệ cổ, cũng rất đặng. Nên vừa rồi, bần đạo có dịp nghe câu hát: “cho nhau trọn tình, dẫu có điêu linh”, và: “xa nhau trọn đời vẫn nhớ thương nhau”, lại thấy nhớ. Thấy rất thấm. Thấm đến độ, bần đạo bèn lại ngẫu hứng phiếm lai rai, cùng  bàu bạn hôm nay.

            Ôi thôi chết! Bần đạo nói thế cũng không phải. Thấy mà thương ở đây, chẳng cứ là thương hại. Hay thương tâm. Rất tội nghiệp. Cũng không là, thương cảm, thương “cho roi cho vọt”, lọt tọt chẳng còn gì để thương. Để nhớ. Thương ở đây, là: “thương nhau thật nhiều biết mấy tin yêu”. Nói đúng hơn, thương là: thương và tin trọn đời. Dẫu điêu linh. Mất định hướng. Rất lúng túng.

            Quả thật, bần đạo thấy lúng túng khi buộc phải minh định lập trường về những “nệ cổ”/cổ lệ, mà người thời nay, ít để ý. Nhưng vẫn thương. Thương, cho người bận tâm/để ý những chuyện xa vời, ít vấn vương. Không quan trọng. Trong cuộc sống.

            Trước khi đi xa hơn, về những chuyện không vương vấn, lấn cấn sự sống, bần đạo mời bạn mời tôi, ta mời mình thử tản mạn qua truyện kể rất lễ mễ, ở bên dưới:

 

“Thánh lễ vừa xong, bé em chạy đến gần chủ tế

vừa giảng xong. Bé ngước đầu tuyên bố, rất dõng dạc:

-Mai ngày khi khôn lớn, con sẽ kiếm thật nhiều tiền, đem đến tặng cha.”

-Cảm ơn con nhiều. Nhưng sao lại làm thế?

-Bởi vì, mỗi lần ba con đi nhà thờ nghe cha giảng.

Về nhà, Ba cứ bảo: ông cha, dạo này giảng có lẽ nghèo nàn nhất, trong số các cha mà ba vẫn nghe!” 

 

            Câu đó, không chắc có phải vì nghe cha giảng, thấy cha nghèo. Hay, bài giảng của cha bao giờ nghe thấy cũng nghèo, so với các vị khác, không? Chuyện này, bần đạo không dám quyết đoán. Nhưng, mỗi lần nghe cha/thày giảng/giải, cũng nên suy nghĩ, chứ đừng nên có động thái như bé ở trên. Chí ít, là khi ta nghe cha/cố chuyên giảng/giải về những chuyện xa xưa, giống trái đất.

            Xưa như đất, là vấn đề thời đại. Lâu nay. Thời buổi này, vẫn còn những hỏi/đáp để giải mã những thắc mắc về nhà thờ, ở bên dưới, nghe cũng ngộ:

 

“Tôi vẫn nghe nói: ta phải cúi đầu khi đi lễ. Thứ nhất, là cúi đầu khi đọc Kinh Tin Kính, có còn buộc phải làm nữa hay không? Dường như, chẳng còn mấy ai nhớ làm chuyện ấy. Người bước lên đọc Sách thánh, cúi đầu là bái bàn thờ hay bái ông cha chủ tế? Cúi như thế, phải cả người hay chỉ mỗi đầu, mà thôi? Xin cho biết.”

 

Hỏi và đáp những chuyện cũ xưa /cổ lỗ, vẫn là

“nghề của chàng”. Chí ít, của “chàng trai linh mục”, mà kinh nghiệm giải đáp thuộc cỡ thượng thừa, rất John Flader, nơi tờ The Catholic Weekly, như sau:

 

“Trước hết, xin dành câu trả lời cho câu hỏi chót hết, dựa trên sách của Gm Peter Elliott có tựa đề: “Các Lễ Nghi trong Nghi tiết Phụng vụ La Mã”. Giám mục Elliott từng nói rõ: có hai loại cúi đầu trong nghi tiết Phụng vụ, là: cúi cả người hoặc cúi rạp mình, và cúi đầu, mà thôi.

Cúi rạp mình, tức cúi gập ngang lưng nghiêng mình về phía trước,là kiểu cúi trong khi cử hành thánh lễ; cúi trước mặt chủ tế vào trước và sau khi xông hương. Đây cũng là lối cúi mình trước Giám mục, mỗi khi đến gần ngài, từ chỗ ngài mà đi, hoặc mỗi khi đi ngang trước mặt ngài (mục 202).

Viết những điều này, trước tiên, Gm Elliott viết cho các thừa tác viên giúp lễ, chứ không phải cho bổn đạo đừng ngồi dưới bàn quỳ. Cho nên, ta cũng nên thêm một điều nữa là: mọi người chúng ta hãy cúi đầu thật sâu trước khi lĩnh nhận Mình Máu Chúa, nếu như người ấy muốn rước lễ theo tư thế cúi đầu, thay vì bái gối hoặc quỳ mà rước lễ.

Cũng nên thêm một điều, là: việc cúi đầu trong khi đọc Kinh Tin Kính vào lúc đọc câu “và bởi phép Chúa Thánh Thần Ngài đã nhập thể trong cùng lòng Đức Nữ Đồng Trinh Maria, và đã làm người.”

Mỗi năm hai lần, vào dịp lễ Giáng Sinh và lễ Truyền Tin, các tín hữu đều bái gối khi đọc những lời như thế, thay vì chỉ cúi đầu. Quả thật, là ngày nay nhiều người không còn biết cúi đầu nữa, thật đáng buồn. Trước ngày cải tổ phụng vụ hơn 40 năm về trước, toàn thể cộng đoàn đều cùng với vị chủ tế, đều bái gối mỗi khi đọc những lời như thế, trong Kinh Tin Kính. Và lúc đó, chẳng một ai thắc mắc về mầu nhiệm cao cả Con Thiên Chúa Xuống Thể, làm người. Và cũng từ ngày Hội thánh cho phép chỉ cần cúi đầu thay vì bái gối, nhiều người không còn tỏ dấu hiệu gì, để cung kính.

Để trả lời cho câu hỏi thứ hai, Gm Elliott cũng nói: người bước lên bục để đọc sách, trong lúc bước lên cung thánh, cũng cúi đầu trước bàn thờ, sau đó trước vị chủ tế, rồi mới bước lên bục, để đọc (mục 258). Cả hai lối cúi này, đều là cúi sâu từ ngang lưng.

Về cúi đầu trước vị chủ tế, không thấy nói trong sách nghi tiết phục vụ, như nói trong các nghi thức do Đức Giám mục cử hành, làm chủ tế  (mục 76-77), có thể coi như thói quen cung kính diễn tả với vị linh mục. Chính vì lý do này, mà Gm Elliott đã nói đến trong sách của ngài (mục 258).

Một số người có thể thắc mắc hỏi tại sao người bước lên đọc sách không cần bái gối trước nhà tạm, khi bước lên cung thánh. Lý do, là vì Sách Các Lễ Nghi trong Nghi Thức Phụng vụ La Mã có nói là: nếu nhà tạm có Mình thánh Chúa được đặt trên cung thánh, thì “linh mục, phó tế, và các thừa tác viên đều bái gối khi bước lên và khi rời cung thánh, nhưng không phải vào lúc đang cử hành thánh lễ. (sđd mục 274)

Lối cúi khác, tức là chỉ cúi đầu mà thôi, thường đi kèm với cúi nhẹ thân vai. Vị chủ sự nghi thức phụng vụ sẽ làm như thế khi nghe đọc lớn tiếng Tên ba Ngôi cực trọng (tỉ như vào phần đầu kinh Vinh Danh) và vào lúc người đọc cất tên danh thánh Đức Giêsu, Đức Mẹ và các thánh mà buổi lễ hôm đó được cử hành, để mừng kính (m 275).

Nhiều bổn đạo vẫn có thói quen cúi đầu mỗi khi nghe đọc đến tên cực trọng Đức Giêsu hoặc Đức Mẹ. Cũng thế, cũng là thói quen thông thường của nhiều người trước mặt chủ tế mỗi khi bưng khiêng các vật thể trong kiệu rước lễ vật dâng tiến Chúa, và cúi đầu mỗi khi đưa hoặc nhận lễ vật dâng tiến với chủ tế. 

Về việc này, Gm Elliott có nói: Chỉ cúi nhẹ một chút cũng đủ để tỏ lòng cung kính lẫn nhau và biết ơn trước và sau khi nhận vật gì hoặc làm việc gì, theo cách nào đó, vào khi cử hành nghi tiết.” (m 203)

Cùng một lý do như thế, các thừa tác viên Thánh Thể hoặc chú giúp lễ vẫn thường cúi đầu trước và sau khi đưa bình rượu lễ hoặc dĩa rửa tay cho chủ tế. Cả vị chủ tế nữa, cũng có thể cúi đầu đáp lễ. (x. sđd mục 277)

Mọi kiểu cúi đầu như thế, không nên chỉ coi như việc mang nặng hình thức hoặc vô nghĩa, trống rỗng, mà như dấu hiệu căn bản để tỏ lòng cung kính Đức Chúa hoặc đấng bậc vị vọng, dù đó có là Giám mục, linh mục hoặc thừa tác viên, mà thôi.”(bđd, 08/02.2009 tr. 10)

 

            Cúi đầu thờ lạy, hay chào Chúa Mẹ là chuyện đương nhiên, đã đành. Nhưng, hễ gặp cha cố đấng bậc mà lại cứ phải bắt con chiên ngoan đạo gục đầu chào rất kính cẩn, mới thành chuyện. Chuyện, là chuyện dây dưa khi xưa, hôm nay. Ở nhà Đạo. Cũng rất nản. Nản, vì cứ phải nghe, phải biết những chuyện cãi tranh, lanh chanh cùng đố kỵ như chuyện “cũ/mới được giỡ bỏ”. Chẳng hạn như chuyện giỡ bỏ mọi “dứt phép thông công” đối với 4 vị giám mục từng gây tranh luận, nổ như đom đóm.

            Nổ nhiều nhất, là chuyện vừa mới xảy ra có liên quan đến Gm Richard Williamson đã bất chợt công khai có thái độ chống Do thái. Từ dạo ấy, các giới có thẩm quyền trong Giáo hội đều bài bác thái độ báng bổ của vị giám mục này.

            Về cung cách cũ/mới cần có khi cử hành nghi tiết phụng vụ, cũng đã thấy xảy ra một vài bất bình trong/ngoài Hội thánh ở Brisbane, Úc. Bất bình, lại rộ lên trong nội bộ Hội thánh khi chính Đức đương kim Giáo Hoàng Biển Đức có quyết định lạ thường, về nghi tiết phụng vụ này khác, theo kiểu cũ hay theo sau Công Đồng Vatican II. Quyết định của ngài giỡ bỏ việc dứt phép thông công đối với 4 vị giám mục, để làm nhẹ đi mọi căng thẳng vốn có trong giáo hội, từ ngày ấy. Nhưng, việc này lại kéo theo những thách thức về sự hiệp nhất trong giáo hội.

            Phiếm luận hôm nay, không phải để nói “ai đúng ai sai”/ai phải ai quấy. Mà chỉ muốn bảo rằng, trong mọi thử thách đối với sự hiệp nhất trong giáo hội, ban ngành, đoàn thể trong xã hội, luôn cần đến thương thảo. Việc thương thảo bao giờ cũng tế nhị. Tế nhị, là vì trong mọi cuộc tranh và cãi, bao giờ cũng có cái giá phải trả đều rất đặt. Cử chỉ hài hoà độ lượng của Đức Giáo hoàng, cùng với việc thừa nhận các cộng đoàn Anh giáo bất phục tùng, luôn đem đến với người trong cuộc, sự thông cảm hiểu biết cần có cho một hiệp nhất. 

            Thông cảm cho một hiệp nhất, là luôn nhớ đến lời các thánh viết trong thư, gửi các giáo đoàn, như đoạn bên dưới là một ví dụ cụ thể:

“Anh em

hãy thiết tha duy trì sự hiệp nhất

mà Thần Khí đem lại,

bằng cách ăn ở thuận hoà

gắn bó với nhau.”

            (Ep 4: 3)

 

            Có thuận hoà gắn bó, mới xứng là nhân chứng cho tình thương yêu của Đức Chúa. Mới là có quan hệ thân thương của dân con nhà Đạo. Của những người hiện đang sống trong Nước Trời, ở trần gian. Quan hệ ấy, dù mang cung cách cũ/mới, dù ở trong hay ở ngoài giới có thẩm quyền, nhà Đạo. Thuận hoà - gắn bó, cả vào khi bạn và tôi, vẫn hát:

 

“Khi mặt trời vắng bóng,

khi lời nguyền khuất lấp

nghe lạc loài kiếp sống sao mỏi mong..”

 (Nguyễn Trung Cang – bđd)    

 

            Và, thuận hoà – gắn bó, có đoàn kết/hiệp nhất, vào những lúc, có:

 

“Như giọt buồn nước mắt,

            mưa ngại ngùng héo hắt,

thương người về buốt giá, trên đường xa.”

(Nguyễn Trung Cang – bđd)    

 

            Nói cách khác, dù có buốt giá, xa lạ/cũ mới, ta vẫn cứ: “Thương nhau thật nhiều biết mấy tin yêu”, vẫn cho nhau trọn tình”, trọn nghĩa, trọn chữ thương yêu. Thương cả những người xa lạ, chẳng hề quen. Thương, cả vào khi mình không còn nhớ những ân tình xưa/cũ, để trả nợ. Trả nợ ân tình, dù chỉ là một ngụm sữa nhỏ. Như câu truyện ở bên dưới:

                       

Một cậu bé nghèo làm nghề bán hàng rong để kiếm tiền học. Một ngày nọ nhận thấy mình chỉ còn mỗi một hào mà bụng đang đói, cậu định bụng sẽ sang nhà kế bên xin một bữa ăn. Một phụ nữ đẹp ra mở cửa. Bối rối trước cuộc gặp gỡ không hẹn trước này thay vì ăn cậu xin uống. Người phụ nữ đoán ra cậu đang đói và mang đến cho cậu một ly sữa lớn. Cậu chầm chậm nhấp từng ngụm sữa rồi hỏi: “Cháu phải trả cho cô bao nhiêu ạ?" Người phụ nữ trả lời:

-Cháu không nợ cô cái gì cả. Mẹ cô đã dạy không bao giờ nhận tiền trả cho lòng tốt cả.

-Cháu sẽ cám ơn cô từ sâu thẳm trái tim cháu."

Khi ra đi cậu cảm thấy khoẻ khoắn hơn và niềm tin của cậu vào con người cũng mãnh liệt hơn. Trước đó cậu gần như muốn đầu hàng trước số phận.

Nhiều năm sau đó người phụ nữ bị ốm nặng. Các bác sĩ địa phương đều bó tay. Họ chuyển bà đến một thành phố lớn và tiến sĩ Howard Kelly được mời đến tham vấn. Khi ông nghe tên thị trấn nơi người phụ nữ ở, một tia sáng ánh lên trong mắt ông. Ngay lập tức ông khoác áo choàng và đi tới phòng bệnh người phụ nữ ở.

Ông nhận ra được ngay ân nhân của mình năm xưa. Quay về phòng hội chẩn, ông quyết định dốc hết sức để cứu bệnh nhân này. Và cuối cùng nỗ lực của ông đã thành công.

Tiến sĩ Howard Kelly đề nghị phòng y vụ chuyển cho ông hoá đơn viện phí của ân nhân. Ông viết vài chữ bên lề của tờ hoá đơn và cho chuyển nó đến người phụ nữ. Bà nhìn tờ hoá đơn và biết rằng sẽ phải thanh toán nó hết đời mới xong. Bỗng nhiên có cái gì đó khiến bà chú ý và bà đọc những dòng chữ này: "Trị giá hoá đơn bằng một ly sữa." Ký tên: tiến sĩ Howard Kelly

 

Truyện kể ở trên, chắc nhiều người nghe đã quen. Nhưng, dù quen nghe những truyện kể nhè nhẹ như thế, vẫn nên thêm ở đây lời bàn của người viết, không ký tên: Hãy mở rộng trái tim với mọi người vì một mai bạn cũng cần người khác mở rộng trái tim, dành cho mình. Do đó, giúp đỡ người khác chính là mục tiêu để được sống hạnh phúc.”

Nói theo kiểu khác, kiểu lạm bàn nhiều phiếm luận, ta có thể bảo: “Thương nhau thật nhiều, biết mấy tin yêu”, chính là biết mở rộng tâm can. Với mọi người. Dù người ấy, chỉ là chú em đi bỏ báo. Không đủ tiền mua nước giải khát, bèn phải xin. Dù chú ấy, nay đã trở thành người nổi tiếng, trong giới y khoa/phẫu thuật, rất Howard Kelly. Howard Kelly hay gì gì đi nữa, ta vẫn cần vòng tay mở rộng. Mở, trái tim. Mở, cho mọi người. Dù, người chỉ mở bằng bát chè xanh. Tươi mát. Đầy hạnh phúc.

Có cởi mở, người người mới đi vào cuộc sống thân thương, thoải mái. Sống hăng say, chẳng câu nệ chuyện cúi gập người. Hoặc, chỉ cúi sơ mỗi cái đầu. Có cởi mở, mới thấy đời đi Đạo của người mình, đâu câu nệ gì chuyện cúi hay không cúi. Nhưng vẫn kính. Vẫn tôn. Vẫn thờ lạy.

 

Có cởi mở, mới hát rằng:

 

“Như mưa ngày nào, thấm ướt vai em,

như mưa ngày nào, khuất lấp sao đêm

Thương em ngày nào, khóc ướt môi mềm.”

 (Nguyễn Trung Cang – bđd)    

 

Có cởi mở, mới lại thấy:

 

“Thần khí của Đức Chúa ngập tràn cõi đất,

bảo toàn mối hiệp nhất giữa muôn vật muôn loài,

thấu hiểu hết mọi lời mọi tiếng.”

(Kn 1: 7)

 

   Và, khi có Thần Khí tràn ngập, thì: dù “Xa nhau trọn đời, vẫn nhớ thương nhau”. Đó là cuộc sống Nước Trời. Đó là tình thân thương cộng đoàn, con cái Chúa. Ở trần gian.

 

Trần Ngọc Mười Hai

Thêm một lần tự nhủ

về những cúi đầu rất thương yêu.

Trọn đời.

 

 


4. “Gió bay từ muôn phía”

tới đây ngập hồn anh, rồi tình lên chơi vơi.”

(Đoàn Chuẩn/Từ Linh – Tà Áo Xanh)

 

(Ga 6: 61)

            Tình nghệ sĩ, có là tình chơi vơi, lên như gió. Rất ngập hồn. Hay vẫn là, tà áo xanh. Bay muôn phía. Kín như mây trời. Ngồi chờ sáng?...

Ngồi tản mạn, bần đạo thường tự hỏi: “tình mình bây giờ”, có là tình của nhà Đạo vẫn được bảo, từ lời kinh chăng? Lời kinh Đạo Chúa rất Phúc Âm, vẫn là tình của Kinh Sách. Không tranh chấp. Chẳng kỳ thị. Rất dễ nhận. Bởi lời kinh Chúa phán, chứ không như ca từ người nghệ sĩ vẫn cứ hỏi:

 

“Sao mùa xuân, lá vẫn rơi?

Sao mùa xuân, lá vẫn bay?

Em ơi, có hoa nào không tàn?

Có trời nào, không mây?

Có tình nào, không phai?

(Đoàn Chuẩn/Từ Linh – bđd)

 

Tình đời là như thế. Còn, tình người đi Đạo chắc sẽ “không nhạt phai”. Bao giờ. Duy, có tình tự mà người tin vào Đạo Chúa, và Đấng Allah, lại thấy có điều khá lạ. Rất nghịch lý. Nghịch thường. Nghịch lý với nghịch thường ở hai Đạo? Nghịch lý là gì? Nghịch thường là sao? Có gì giống nhau giữa hai đạo, về nghịch lý?

Để hồi đáp, có lẽ cũng nên có một thoáng mạn đàm/định nghĩa về cụm từ này. Theo định nghĩa của tác giả Nguyễn Văn Khôn, trong “Hán Việt từ điển” thì: “nghịch lý” là những gì trái  lý lẽ, thường tình.

Với nhà Đạo, nghịch lý là những gì khác với lý sự bình thường. Với, những chuyện rất nghịch nhĩ, khi mới nghe. Nhưng, suy cho kỹ, vẫn là sự thật thường tình, trong đời. Một đời rất Đạo. Một sự thật về yêu thương và tha thứ trong đạo, như Lời Chúa nói ở Tin Mừng thánh Máccô, như:

 

Quả thật,

nhiều kẻ đứng đầu sẽ phải xuống hàng chót,

còn những kẻ đứng chót sẽ được lên hàng đầu"

(Mc 10: 31)

 

hoặc Tin Mừng thánh Mátthêu:

“Vì kẻ được gọi thì nhiều,

mà người được chọn thì ít.”

(Mt 22: 14)

 

Mới đây, một tác giả ở Úc, là Lm Herman Roborgh sj có nghiên cứu về những nghịch lý/nghịch thường nơi Đạo Chúa và Hồi giáo, đã tìm ra 5 nghịch lý/nghịch thường “hơi giống nhau” được liệt kê và mạn bàn, ở bên dưới:   

Nghịch thường thứ nhất:

Người Đạo Chúa và Hồi giáo, đều coi mình là tôi tớ và bạn của Chúa.

Thánh Kinh nói: Đức Kitô đến, để phục vụ. Chứ, không phải để được phục vụ. Thế nên, người nhà Đạo vẫn coi mình là kẻ tôi đòi. Tức, bày tôi chỉ đòi phục vụ lẫn nhau. Mà thôi. Mặt khác, Đức Giêsu cũng nói: Ngài có quan hệ thân thương/mật thiết với Chúa Cha. Vì thế Ngài gọi:“Abba! Cha ơi!” là như thế. Ngài còn khích lệ những kẻ dấn bước theo Ngài rằng: họ không còn là tôi tớ, nhưng là bạn của Ngài. Ngài muốn dân con/đồ đệ biết đường mà sẻ san tương quan mật thiết với Chúa. 

Cũng thế, Kinh Koran gọi các kẻ tin nơi đạo Hồi là tôi tớ của Thiên Chúa. Tức, những người biết từ bỏ chính mình để thần phục và tuân giữ lệnh truyền của Thiên Chúa. Vì, Ngài là Đấng Quyền năng sáng láng biết rõ tâm can bí ẩn, của con người. Kinh Koran, cũng nói: Thiên Chúa quan hệ với con người qua cung cách hiền từ, xót thương:“Thiên Chúa là Đấng từ bi nhân hậu. Ngài tỏ lòng thương xót, hết mọi người.” Tôi tớ nào vững tin sẽ được gọi mời về với tương quan có Chúa, qua Đấng Quyền năng vẫn gần gũi họ. Gần hơn cả tĩnh mạch đưa vào trong tim.

Xem như thế, ca từ người nghệ sĩ ở trên, nên nghe thêm:

 

“Em còn nhớ anh nói rằng:

khi nào em đến với anh,

xin đừng quên chiếc áo xanh.”

(Đoàn Chuẩn/Từ Linh – bđd)

 

            Đến với anh. Với Chúa. Trong tương quan mật thiết, thân thương, cũng đừng nên quên tấm áo của lòng thanh thanh, trong sạch. Chiếc áo xanh hay lời kinh đêm, là chỉ dẫn về một nghịch lý hoặc nghịch thường khác, ở

bước thứ hai:

            Nơi Đạo Chúa và đạo người Hồi, cả hai đều coi niềm tin của con dân mình, là con đường đích thực. Cả hai đều khẳng định về đường lối nhỏ, khác. Nhà Đạo tin Đức Kitô là Con Đường, dẫn đến Chúa. Bởi, chính Chúa đã mặc khải:

 

Tôi nói cho các ông hay:

từ phương đông đến phương tây,

nhiều người sẽ đến dự tiệc cùng tổ phụ

Áp-Ra-Ham

(Mt 8: 11)

 

Xem thế, có thể nói: Hội thánh Công giáo, công nhận người ở ngoài cũng có được ơn cứu độ. Hội thánh, công nhận giá trị của đường nhỏ khác, dẫn đến Chúa.

Tợ như thế, kinh Koran nói: Thiên Chúa chọn đạo Hồi làm tôn giáo rất thực:“Hôm nay, Ta hoàn thiện đạo cho các ngươi. Ta hoàn tất mọi chúc lành để gửi đến với các ngươi. Và, Ta chọn tôn giáo cho các người là đạo Hồi.” Đồng thời, kinh Koran thừa nhận niềm tin của người ở ngoài, như sau: ‘người đạo Hồi, đạo Do Thái, Thiên Chúa giáo hay Sa-bian, đều tin vào Chúa. Tin vào ngày Cánh chung. Mọi đạo đều làm điều tốt lành. Đều được Thiên Chúa thưởng công bội hậu.”

            Rõ ràng là thế, mà sao nghệ sĩ xưa, vẫn coi đó như nghịch thường, nên mới viết:

 

            “Lúc anh ra đi, lạnh giá tâm hồn

            hoa mai rơi, từng cánh trên đường

            lạnh lùng mà đi, tiếc nhớ thêm cho

            hoa tàn, nhạc bay theo không gian.”

 (Đoàn Chuẩn/Từ Linh – bđd)

            Thật ra, hoa có tàn/nhạc có “bay theo không gian”, thời gian đi nữa, thì niềm tin người Đạo Chúa, nào phai nhạt? Chắc chắn là thế, như lời kể về

nghịch thường thứ ba, ở hai Đạo:

            Điểm thứ ba, mà người Đạo Chúa lẫn đạo Hồi đều công bố sự thật niềm tin của mình, là: vẫn quyết tâm đạt đến đối thoại.

            Cụ thể hơn, Tân Ước nói: Đức Giêsu sai phái con dân/đồ đệ Ngài ra đi mà giảng dạy và làm phép rửa nhân danh Cha, Con và Thánh Thần. Và, vào lúc Chúa sinh, Thần thánh trên thiên cung, đã đồng thanh loan tin vui mà hát rằng: “Bình an cho người được hưởng ân huệ của Chúa”. Công Đồng Vatican II đã khích lệ kẻ tin Chúa hãy sống hài hoà, bình an với đạo Hồi. Có nhiều văn kiện, cũng hỗ trợ cuộc đối thoại giữa các kẻ tin vào cùng một Chúa. Dù khác giáo phái.

            Cũng thế, truyền thống đạo đức từng đặt nền tảng trên Kinh Koran và luật Sunna của tiên tri Mohammad cũng khuyến khích người đạo Hồi mời gọi mọi người theo đạo của họ, và dặn rằng: “Không nên cưỡng bức người khác theo tôn giáo mình.” Kinh của đạo Hồi, còn khuyến khích người theo đạo này nên kiếm tìm mẫu số chung giữa họ và các đạo khác. Nên, mới bảo:“Đức Chúa của chúng ta và Thiên Chúa của anh em, cũng là Một. Cùng giống nhau.”

            Dựa vào các điểm trên, ta tự hỏi: phải chăng nghệ sĩ xưa đã “ngộ”, nên mới hát:

 

            Biết nhau để mà nhớ

            nhớ nhau để sầu dâng

            tình trần ôi mong manh…”

 (Đoàn Chuẩn/Từ Linh – bđd)

 

            Mong manh. Tình sầu dâng. Là bởi, người đời chưa nhận ra nghịch thường/nghịch lý, bước thứ tư:

            Nghịch thường bước thứ tư, là: tín hữu hai đạo đều nhận ra phương cách thành kẻ tin: cách bình thường và cách hoàn thiện hơn. Hẳn, kẻ tin chúng ta đều biết: Đức Kitô đến, không phải để phá huỷ lề luật hoặc dẹp bỏ tiên tri. Nhưng, là dạy mọi người biết thực thi phương án tốt nhất. Tức, tuân thủ lề luật, thật đúng cách.

 

Ngài vẫn dẫn dụ: ‘đó là cửa hẹp. Là, con đường gồ ghề dẫn đến sự sống’. Ngài đã chẳng khuyên răn người thanh niên giàu có, trong Tin Mừng, là:

 

Nếu anh muốn trở nên hoàn thiện,

hãy bán tài sản của anh đi

mà đem cho người nghèo,

anh sẽ được một kho tàng trên trời.

Rồi đến theo tôi."

(Mt 19: 21)

 

            Tựa như thế, kinh Koran cũng chuyển đến người người đi theo đạo Hồi, cũng một thông điệp có lời dạy về niềm tin được các ngôn sứ phổ biến từ thời Abraham:

 

“Người dẫn dắt tôi vào nơi thẳng tắp, chính trực,

vào với niềm tin của Abraham, đấng công chính,

với niềm tin trinh trong,

không phải là đa thần.”        

 

            Kinh Koran công nhận mức độ khác nhau để giúp người theo đạo mình, biết đường mà gần gũi đấng Allah. Biết, nói về ‘con đường thẳng tắp’ tạo nhiều thứ; hơn là đòi hỏi qui cách bình thường, nơi kẻ tin. Người đi đạo Sufi, tức đạo có mặt ở trần gian, trước đạo Hồi, cũng đã triển khai ‘con đường’ và ‘trạm dừng chân’,  tương tự. Nơi, qua đó kẻ theo đạo Hồi có những bước tiến dài, trong sống đạo.

 

            Có thể là, vì nhớ những chuyện tương tự, nên nghệ sĩ xưa vẫn hát:

 

            “Em còn nhớ anh nói rằng

            tâm hồn anh dễ chóng quên

            tâm tình anh dễ chóng phai.

            Em ơi, có đâu ngờ đến rằng

            có tình nào không phai

            như tình anh với em.”

(Đoàn Chuẩn/Từ Linh – bđd)

 

            Nghịch lý/nghịch thường, là ở chỗ: tuy được dạy rằng “tâm hồn anh/tâm em dễ chóng quên”. Tâm hồn anh và mối tình cũng em, cũng dễ phai. Phai hay nhạt, còn tuỳ thuộc cố gắng của kẻ tin. Vẫn cố gắng chống lại sự dữ/ác thần. Để rồi, cầu Chúa ban ơn thứ tha cho riêng mình. Bước thứ năm:

Thứ tha/hoà giải, là những nghịch lý/nghịch thường bước thứ năm. Ở hai đạo.

            Nghịch thường ở đây rất dễ thấy. Nhất là khi, ta nghe Chúa nói:

“Thầy đến

không phải để đem bình an,

nhưng để đem gươm giáo.”

(Mt 10: 34)

 

Ngài nói thế, để chỉ trích các nhà lĩnh đạo tôn giáo, chỉ biết sống như người giả hình. Và, Ngài từng đuổi đám người buôn thần bán thánh ra khỏi đền thờ, là vì thế. Ngược lại, Ngài còn dạy con dân/đồ đệ biết thứ tha cho kẻ địch thù. Bởi, chính Ngài đã tha cho những kẻ đóng đinh Ngài vào thập giá. Hạ nhục Ngài.

            Kinh Koran cũng cho phép người theo đạo Hồi, ‘tranh đấu tuân theo đường lối của Thiên Chúa’, và tuyệt đối ngăn cấm họ gây hấn. Trái lại, Kinh này còn khuyên họ biết hối lỗi và thứ tha. Coi đó, như chọn lựa phải lẽ. Đấu tranh, bao giờ cũng phải được cân bằng với tha thứ. Hối tội.

            Nói cách khác, dân con Đạo Chúa lẫn người đi theo đạo Hồi đều thấy chuyện nghịch lý/nghịch thường ở quá trình truyền thống, của đạo mình. Chối bỏ, hoặc tránh né các thực tại nghịch thường/nghịch lý, cũng chẳng lợi ích gì. Trái lại, tất cả những nghịch ngạo ấy đều đi vào cuộc sống của kẻ tin. Nhờ đó, cho ta biết đến sự cao cả của Thiên Chúa. Vẫn luôn hiện diện. Trong trần thế. Nơi ta. (x. Herman Roborgh, Eureka Street 25/6/2009)

            Cảm nghiệm điều này, hẳn nghệ sĩ nhà mình đi dần vào kết luận, rất thực tiễn?

 

            “Rồi chiều nào băng giá

            tâm hồn tìm đến nhau

            Em mơ trong tiếng hát

            Anh mơ trong nét bút, đa tình sao.”

(Đoàn Chuẩn/Từ Linh – bđd)

 

            Đa tình sao? Là bởi, “nhạc đời còn ghi những nét thương yêu”, nên người người vẫn mãi ghi đậm các nghịch lý/nghịch thường ở lời dạy, nơi nhà Đạo. Nghịch thường trong cách diễn tả. Nhưng, không nghịch ngạo, trong cuộc sống. Bởi, sống Đạo là sống chung cùng với những nghịch lý/nghịch thường. Của nhiều thứ. Các thứ và những sự, cứ diễn ra hằng ngày, chốn nhân gian. Trần thế.            Suy cho cùng, dù gặp nhiều nghịch thường trong cuộc sống, ta vẫn nhớ lời nhắn nhủ từ Đức Chúa, ở Tin Mừng:

 

            “Thần Khí mới làm cho sống,

chứ xác thịt chẳng có ích gì.

Lời Thầy nói với anh em

chính là Thần Khí và là Sự Sống.”

(Ga 6: 61) 

 

            Nhờ Thần Khí là Lời, ta hiểu được thế nào là nghịch thường/nghịch lý, trong cuộc sống. Những chuyện rất nghịch và rất thường, vẫn xảy đến. Với ta. Ở đời thường.

 

            Để minh hoạ cho chuyện phiếm hôm nay, mời bạn mời tôi, ta nghe thêm một truyện kể, khá nghịch nhĩ, mà người thường ở huyện vẫn cứ gặp. Trong cuộc đời. Như sau:

 

“Hai vị cao niên sống ở viện, cứ nhìn trời nhìn đất rồi nhìn nhau, thấy hoài cũng chán. Các cụ rủ nhau ra ghế đá công viên ngồi một chốc, xem trời đất thiên hạ có còn xoay vần theo kiểu nghịch ngạo như trước không. Trong khoảng thời gian rất phút chốc, hai cụ hỏi nhau:

-Này ông bạn, tôi nay 83 cái xuân tròn. Cũng biết khá nhiều chuyện. Chuyện không xuôi rót, trót lọt hoặc chuyện rất bình thường. Nhưng sao dạo này, bọn trẻ cứ làm nhiều chuyện ngược đời, rất khó coi? Còn cụ, cụ có nhận xét gì về những lý lẽ rất nghịch ngạo ấy không? Có khác xưa, không? Tôi thấy nhiều cái ngược đời, nữa đấy cụ.

-Chẳng giấu gì cụ, tuổi tôi đây không bằng tuổi cụ, nhưng cũng thấy mình bây giờ như con nít.   

-Con nít nghĩa là làm sao, tôi chẳng hiểu?

-Thưa cụ, tôi có cái cố tật, là: xưa kia, cái gì cũng chơi, cũng thử hết. Vì thế, giờ này mới ra nông nỗi này. Nghĩa là, già đầu mà như con nít. Người thì to lớn. Mà, ăn với uống chỉ tí chút, như trẻ con. Xử sự thì không còn giống như người lớn, vẫn hệt như con trẻ. Muốn ăn là ăn. Muốn ngủ là ngủ. Chẳng giờ giấc. Chẳng nghe ai. Bởi thế nên, các cụ ta hồi xưa nói có lý, chứ đâu nào nghịch ngạo: “một già một trẻ, ngang nhau.”

 

Già trẻ ngang nhau, có thể là nghịch lý, ở đời thường. Bởi vậy, nên người thường hễ gặp người già hay bọn trẻ, đều “kính nhi viễn chi”. Vẫn đưa các cụ vào viện, như đưa con trẻ vào chốn ‘ký nhi’, để khỏi gặp nghịch cảnh, trong đời mình.

            Sống đời nghịch cảnh, có những chuyện nghịch ý, vẫn là chuyện thường rất ngỗ, mà không nghịch. Bởi, có nghịch ngạo hay nghịch biện, nhưng không nghịch luân nghịch đức, là tốt rồi.

Thế nên, lời cuối gửi đến tôi/đến bạn, là ta cứ thế mà sống. Cứ thế, nghe lời giảng dạy của đấng bậc rất cao, nhưng không nghịch. Dù, nghịch biện, nghịch giải. Dù, nghịch liệu, nghịch thuyết. Rất thường tình. Ở trần thế.

 

Trần Ngọc Mười Hai

mong quen dần

với các nghịch biến của đời thường.

Ở huyện.

 

 

 

5. “Mời người lên xe về miền quá khứ”
Mời người đem theo toàn vẹn thương yêu.”

(Phạm Duy- Nghìn trùng xa cách)

 

(Ga 6: 56)

            Về miền quá khứ, phải chăng là về với tình của Chúa. Thân thương. Trìu mến. Nguyên vẹn. Về, là về với những ảnh hình khó quên, thời ấu thơ. Đơn sơ. Vô tư lự. Về, là về với quê miền Chúa nhắc nhở, rất nhiều lần.

            Được nhắc nhở, cũng như được nghe đi nghe lại nhiều lần, những nhạc bản tương tợ tình tự “nghìn trùng xa cách”, mà bần đạo thấy giống như nhiều người. Thấy, lòng mình dâng cao một cảm tính. Tình tự. Khó tả. Khó, cả vào khi nguyện cầu. Lúc dâng lễ. Có linh mục.

            Nếu gọi đó là, “nghìn trùng cách xa”, cũng không đúng. Gọi bằng lời ca ở dưới, chắc phải hơn:

 

            “Đứng tiễn người vào, dĩ vãng nhạt mầu

            sẽ có chẳng nhiều, đớn đau.”

(Phạm Duy – bđd)

 

            Gọi gì đi nữa, hôm nay đi vào “dĩ vãng nhạt mầu”, lòng người thấy mình lâng lâng khác nào tình tự của những người kể truyện xưa, có “dĩ vãng nhiệm mầu”, có “tình mình bây giờ”, ở dưới:

 

“Người mẹ trẻ, đang bận nấu nướng với sắp đặt đĩa bánh bông lan thơm phức, mừng ngày người con nhỏ rước lễ lần đầu. Vui với bạn. Bà bỗng thấy hai con, đứa anh tên Bình, đứa em tên An, rõ ràng là thế mà sao vẫn nhanh chân, dành phần, đòi ăn trước. Mẹ hiền, nhân cơ hội, liền dạy cho các con thêm một bài luân lý để đời, rất  “công dân giáo dục”, rằng:

 

-Ví thử hôm nay Chúa đến mừng lễ; cùng ngồi ăn với các con. Chắc, Chúa sẽ ngồi chỗ đó, hai con thì ngồi ở đây. Chúa làm phép, Ngài cầm bánh lên, rồi nói: “Này là bánh tình thương, có giao ước.” Con chắc sẽ xin nhường phần ăn trước, cho người anh em, đang ngồi chờ. Còn con, xin dùng sau!... Thế, còn các con, bây giờ các con sẽ xử sự như thế nào?

Thằng em dành nói trước:

-Con, thì con nói với anh: Anh Hai à! Bữa nay anh làm Chúa Giêsu, nhe. Đồng ý nhé?

-Không. Anh không đồng ý tí nào. Em làm Chúa Hài Đồng. Mới giống.”

 

            Làm Chúa Hài Đồng, hay làm Đức Chúa buổi Tạ Từ, vẫn là làm Kitô-khác. Làm Kitô-khác, là thực hiện sống đời phụng vụ, toàn cả năm. Sống Phụng vụ Lời Chúa, trước ngày Ngài ra đi thực hiện công trình cứu độ. Để rồi, Ngài gửi Thần Khí đến với anh em ta, hết mọi người. Sống Phụng vụ, còn là thực hiện cuộc sống sinh động, buổi Tiệc Thánh.

Thời xưa, khi dự Tiệc Thánh, người dân đi Đạo ít khi được rước Chúa vào lòng, khá thường nhật. Ít, vì luật Hội thánh có những điều khoản, khiến giáo dân khi đi lễ, phải chuẩn bị lòng trí rất nhiều điều. Những là: phải xưng tội để lòng thanh sạch. Sốt sắng. Phải, kiêng nhịn rất nhiều thứ. Kiêng, ít nhất một tiếng trước giờ lễ. Phải, là con nhà đạo đức. Không rối rắm. Lắm chuyên chăm.

Ngày nay, đặc biệt sau Công Đồng Vatican II, chư thánh ở cộng đoàn được miễn chuẩn khá nhiều. Được rước Chúa vào lòng, cả hai hình thức. Tiệc Thánh hôm nay, được hiểu là Tiệc Lòng Mến, có sẻ san. Sẻ san Mình Chúa. San sẻ, tình người. Nếu ngoài đời, người nghệ sĩ sẽ còn hát:

 

“Trả hết về người, chuyện cũ đẹp ngời

Chuyện đôi ta, buồn ít hơn vui

            Lời nói, lời cười

            Chuyện ngắn, chuyện dài…”

 (Phạm Duy – bđd)

 

Vâng. Chuyện ngắn, chuyện dài. Vẫn là chuyện hôm nay. Đầy đặn. Ý nhị. Đẹp đẽ.

Chuyện hôm nay, về Tiệc Thánh/Lòng Mến, mang nhiều ý nghĩa bổ dưỡng cho hành trình, ta vẫn sống. Tiệc Thánh/Lòng Mến hôm nay, là tiệc thức ăn bồi bổ. Củng cố quãng ngày dài, trong đời. Ngày, rao truyền tình yêu thánh thiêng, ta nhận lãnh. Từ cộng đoàn. Cho cộng đoàn. Tính thánh thiêng của Tiệc Thánh/Lòng Mến, gói ghém sâu sắc trọn Con Người Đức Kitô. Chứ, không chỉ là Mình và Máu Thánh, ta rước vào. Mà là, trọn vẹn Con người Đức Kitô. Rất thánh. Rất “người”.          

Sâu sắc, trọn vẹn là thế; nhưng, hôm nay, vẫn còn có người cứ thư-từ gạn hỏi ý nghĩa của Hiệp thông/Rước Chúa có là rước đón trọn vẹn Đức Chúa, chứ không chỉ những Mình và Máu Thánh, khi lĩnh nhận. Chính vì thế, đức thày John Flader, ở Sydney đã lại có những giòng chảy chính mạch. Súc tích. Gọn nhẹ, như đã đăng trong The Catholic Weekly, hôm 09/8/2009, tr.10:

“Ông/bạn nói rất đúng. Thật sự, còn đúng hơn bản thân mình nghĩ, nữa. Như tôi có lần nói trong mục/cột này về “Rước lễ theo hai dạng thức”, Hội thánh luôn hiểu rằng: dù ở dạng thức nào, chỉ mỗi Bánh hoặc cả Bánh và Rượu thánh, chúng ta vẫn đón nhận không chỉ Thân Mình hoặc Máu Thánh Chúa thôi, nhưng là trọn vẹn Đức Kitô.

Đây là tín lý về sự kiện mà truyền thống Giáo hội gọi là: Hai việc đi đôi, cùng một lúc. Bởi, ta không thể tách ly Thân Mình Chúa, phân làm hai dạng thức được. Ngài hiện diện theo cách trọn vẹn, dù phần cực nhỏ ở Bánh Thánh hoặc chỉ một giọt Máu Thánh Châu Báu của Chúa.

Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo, có viết:“Trọn vẹn Đức Kitô hiện diện cách toàn hảo trong mỗi phần, dù rất nhỏ, của Mình Máu Chúa. Xem thế, khi bẻ Bánh, ta không phân xẻ Đức Chúa, bao giờ.” (x.GLHTCG #1377)

Dù, thừa tác viên cầm Mình Thánh Chúa, đưa lên cao và nói: “Mình Thánh Chúa Kitô”, thì Đấng mà ta rước vào lòng, không chỉ là Mình Thánh Chúa thôi, mà trọn Mình và Máu Thánh Chúa. Trọn vẹn Đức Kitô, cách toàn hảo.

Cụm từ “Mình Máu Chúa” có thể làm ta dễ ngộ nhận, lầm lẫn. Lầm và lẫn, ở chỗ: ta cứ tưởng mình đang rước vào lòng, chỉ một phần thân thể Đức Kitô, tựa như có người lầm tưởng rằng Tiệc Thánh Thể là một “sự việc”; hoặc tệ hơn nữa, chỉ đón nhận vào lòng mỗi Thân xác Đức Kitô, Đấng đã chết.”

 

            Nói theo ngôn từ ngoài đời, nếu quan niệm Mình và Máu Chúa theo hai hình dạng tách bạch, há nào, người đời vẫn cứ hát lời của nghệ sĩ, cứ chẳng tin:

 

            Nối gót người vào dĩ vãng nhiệm mầu

            có lũ kỷ niệm trước sau

vài cánh xương hoa nằm ép trong thơ

             rồi sẽ tan đi, mịt mù…”

 (Phạm Duy – bđd)

 

            Không. Không phải thế. Mình Máu Chúa, trước sau không là “kỷ niệm cũ”, cũng chẳng là “vài cánh xương hoa”, như sự vật. Bởi sự vật, sẽ tan đi. Mịt mù. Xa cách. Tách bạch. Đằng này, Thân Mình Đức Kitô, có Mình và máu Thánh, rất trọn vẹn. Hoà hợp. Sống động. Phục Sinh. Như đức thày, nay giải thích tiếp: 

“Thế nhưng, không phải ta nhận vào lòng mình một “sự vật”, mà là rước đón vào trong ta một nhân vật – Nhân vật Sống động đã Phục sinh, là chính Đức Giêsu Kitô. Chẳng thế mà, sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo, lại giải thích: “Dưới dạng thức bánh – rượu được thánh hoá, chính Đức Kitô rất sống động và vinh hiển, đang hiện diện theo cung cách rất phải lẽ, rất đích thật và quan trọng.”(x.GLHTCG #1415)

Đó là như thể, khi bước chậm xuống lòng nguyện đường, để đón Ngài vào lòng, ta gặp ngay chính Đức Giêsu sống thực đang từ từ đến ôm chầm lấy ta, và Ngài hiến trọn mình Ngài cho ta. Với trọn niềm tin – yêu như thế, ta sẽ đón nhận chính mình Ngài.

Tuy nhiên, trong Hiệp thông Rước lễ, ta không chỉ đón nhận Ngài mà thôi, mà còn trở nên kết hợp mật thiết với Ngài nữa. Như Chúa đã nói tại nguyện đường Ca-pha-na-um: “Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì ở lại trong tôi, và tôi ở lại trong người ấy.” (Ga 6: 56)

Ngài hiến tặng chính mình Ngài cho ta trong tương quan thần thánh có Giao ước. Và, ta trở nên ‘một xác phàm” với Ngài. Về sự thật rành rành này, thánh Phaolô tông đồ có thư cho cộng đoàn, khi thánh nhân áp dụng việc Hiệp thông Rước lễ, bằng những lời lẽ như: “Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Ki-tô sống trong tôi. Hiện nay tôi sống kiếp phàm nhân trong niềm tin vào Con Thiên Chúa, Đấng đã yêu mến tôi và hiến mạng vì tôi.” (Gal 2: 20)

Thánh Thể thực sự là một ân huệ Chúa tặng ban, rất quý. Trái đất này, không có kết hợp nào mật thiết hơn với Đức Kitô, cho bằng Hiệp thông Rước Chúa. Khi đã kết hợp nên một với Đức Kitô theo cung cách này, ta chẳng thể quay về với thói quen của cuộc sống thường nhật, mà lại không thấy có gì đó đặc biệt, vừa xảy ra.

Ngay kìa, thánh nữ Faustina đã ghi nhận những lời lẽ thân mật của Chúa, như sau: “Khi Ta thân hành ngự vào lòng con người vào buổi Hiệp Lễ, thì Tay ta tràn đầy đủ mọi ân huệ lành thánh Ta muốn phú ban cho các linh hồn, nhưng linh hồn chẳng màng để ý. Họ bỏ Ta đó một mình, cứ mải mê làm chuyện khác… Họ lại đối xử với Ta như món đồ chết cứng.” (Nhật ký #1447)

Không. Mình Thánh Chúa không là đồ vật đã chết. Ngài là một nhân vật sống động, là Bản thể Sinh động Đức Giêsu, Đấng hiến trọn Thân Mình Ngài cho chúng ta. Để trở nên một, với ta.

Hơn nữa. Đức Giêsu không đến một mình. Ngài luôn kết hợp với Chúa Cha và Chúa Con, cùng đến với Ngài. Từ cõi miên viễn, Ba ngôi thần thánh luôn kết hợp trở nên Một. Một Thiên Chúa. Một Thân Mình. Ba ngôi Thiên Chúa không thể tách rời. Đức Giêsu từng bảo: Tôi ở trong Cha và Cha ở trong Tôi.” (Ga 14: 10)

Vì thế, khi đón rước Đức Giêsu, Ngôi Hai trong Ba ngôi Thiên Chúa vào lòng, ta đón nhận trọn vẹn cả Ba ngôi Thiên Chúa, cùng một lúc. Ta thực sự trở thành đền thờ cho Ba Ngôi rất thánh. Như thế là, toàn bộ Thiên Đàng đang ở trong hồn ta.

 

Thánh nữ Têrêxa thành Lisieux đã có kinh nghiệm về việc này khi thánh nữ đón Chúa lần đầu vào những ngày tháng sau khi thân mẫu của thánh nữ vừa qua đời. Lúc ấy, thánh nữ xúc động đến độ nước mắt tuôn trào, nhưng chẳng phải bởi vì, như thánh nữ có bày tỏ, thân mẫu của thánh nữ không có mặt ở đó.  

Thánh nữ từng viết: “Tựa như sự vắng mặt của mẹ thân yêu đã có thể làm con mất đi niềm hạnh phúc vào ngày con rước Chúa lần đầu! Chừng như toàn thể thiên đường đang đi vào hồn con thoạt vào lúc con đón rước Đức Giêsu vào lòng, cả thân mẫu của con cũng đến với con nữa.” (Chuyện Một Tâm Hồn).

 

            Tâm hồn trinh trong đón Chúa, là trạng thái tâm hồn hạnh phúc nhất. Hạnh phúc, cả với nghệ sĩ ngoài đời lẫn các vị lành thánh, trong Đạo. Chẳng thế mà, nghệ sĩ vẫn hát câu “nghìn trùng”, như:

            “Nghìn trùng xa cách, người cuối chân trời,

Đường dài hạnh phúc, cầu chúc cho người.”  

(Phạm Duy – bđd)

 

            Hạnh phúc, không chỉ là chuyện mình cầu chúc, cho mình và cho người. Hạnh phúc, luôn có đó. Vẫn còn đó. Có và còn, khi mọi người, cả đời lẫn Đạo, đón nhận Chúa ở trong lòng. Nhè nhẹ. Thân thương. Êm ái. Như ý tưởng truyện kể ở bên dưới, để minh hoạ:

 

“Vợ chồng trẻ mới cưới, chưa kịp thu xếp, vẫn phải ngủ gần phòng của bố mẹ. Có một đêm, anh chồng thấy hạnh phúc dâng cao, bèn thủ thỉ với vợ mới cưới, rằng:

-Em à, anh cảm tạ Chúa đã gửi em đến cho anh. Anh quan niệm rằng em chính là hạnh phúc, là lửa ngọn đời anh. Em là ánh sáng tình yêu. Là, ngọn đèn trái tim anh…

Bỗng từ phòng bên, có tiếng người mẹ hiền, thúc giục:

-Khuya rồi, tắt đèn mà đi ngủ, hỡi các con…

 

            Nhưng đèn hạnh phúc, một khi đã ngự vào lòng, làm sao tắt?  Thân Mình Chúa, cũng thế. Khi Tình Chúa ở với mọi người, qua dạng thức toàn hảo, thì nỗi niềm hạnh phúc ấy, sẽ là hạnh phúc miên trường. Ấm êm. Chan chứa. Không hề tắt.

 

            Đó, là ý nghĩa của Thánh Thể. Của Tiệc Lòng Mến. Rất thân quen.

 

            Trần Ngọc Mười Hai

            Những mong bạn và mình

            ta luôn trân trọng

            tâm tình này.   

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

6. “Trầm trầm êm êm thánh thót”

Nhịp nhàng khoan thai thắm thiết
Nhạc lòng đưa câu luyến tiếc
Người ơi còn nhớ?..

(Văn Phụng – Tiếng Dương Cầm)

 

(Rm 10: 15-16)

            Với nghệ sĩ hôm xưa, câu hỏi đời thường vẫn đặt, có là: anh nhớ chăng anh, người nghệ sĩ dương cầm nổi tiếng xứ Ba Lan? Chopin, là tên người. Với nhà Đạo hôm nay, câu hỏi thường đời vẫn hỏi có lẽ là: anh nhớ chăng anh, bổn phận Chúa nhắc nhở, còn là: hãy học hỏi về niềm tin? Tin, là yêu Chúa, đó môn học.

            Thú thật với bạn và với tôi, những người đang đọc và viết những giòng này, thì bình thường, người đời thích đọc hơn thích học. Chí ít, là đọc những truyện cười rất vắn. Chẳng chết ai. Như câu truyện văn vắn ở bên dưới:

 

“Vào lúc cơm lành canh ngọt, hai vợ chồng ngồi nói chuyện đời, với nhau. Chồng hỏi:

-Khi anh nổi giận, la mắng dữ dội, mà sao chẳng bao giờ thấy em có phản ứng gì hết? Em có bí kíp kềm chế cơn nóng giận, hay thế ư?

-Có gì đâu anh. Em chỉ làm mỗi việc, chùi rửa kỳ cọ là xong ngay, hết giận!

-Ngộ nhỉ! Làm mỗi việc chùi rửa kỳ cọ thôi cũng nén cơn tức giận được cơ à?

-Đúng thế. Em cọ rửa bằng bàn chải đánh răng của anh, có vậy thôi!...

 

            Thật chẳng biết, quyết hạ cơn giận bằng những việc làm như thế, có là bí kíp ở đời thường không. Nhất thứ, là bí kíp của thứ tha. Bỏ dồn nén. Bớt tức giận. Hoặc, học hỏi nơi người đồng Đạo, phương cách áp dụng những gì được khuyên dạy, để còn tin?

            Thông thường, nhiều người cứ tưởng: muốn trau dồi niềm tin yêu trong Đạo, chỉ cần dõi theo lời răn dạy của các đấng vị vọng, ở nơi cao. Cao ngất, tựa lời dạy ngày thứ Tư ở quảng trường thánh Phêrô, Rôma. Chứ đâu hiểu rằng hiện giờ, tại các trường trung/tiểu học công lập, ở phương Tây, cũng vẫn thấy các buổi dạy về niềm tin, cho con trẻ.

            Đó mới chỉ là một trong nhiều phương cách, rất dễ làm. Trang trọng. Nghiêm chỉnh. Không thua chuyện nguyện cầu, ở tại nhà. Tham dự nghi lễ. Hoặc, ngồi lại mà nói chuyện với con cái, cả vào lúc các cháu còn nằm nôi. Dỗ dạy bằng ảnh hình, ở trong nhà. Bằng, gương sáng ba/mẹ sống, vẫn đối xử với nhau, hiền hoà. Khiêm hạ. Tóm lại, kiểu nào cũng để thuận theo lời dạy, của các thánh.

            Như thánh Phaolô từng có lời khuyên, như sau:

 

            “Phàm ai tin vào Người, sẽ không phải hổ thẹn…

Làm sao tin Đấng mà ta không hề nghe biết?

Làm sao nghe biết, nếu không có người giảng rao?

Làm sao rao giảng, nếu không có người được sai đi?..”

            (Rm 10: 11-16)

 

            Cũng thế. Tựa như câu hát ở đầu đề, làm sao trả lời câu hỏi “người ơi còn nhớ?” nếu ta không nghe và hát tiếp:

 

            “Chopin ngày xưa vì ai dệt nên câu nhạc lâm ly

            cho đời, say trong tiếng tơ,

            cho tình, dâng muôn ý thơ…”

(Văn Phụng – bđd)

 

            Chopin ngày xưa, hay câu nhạc hôm nay, có ai hay biết mà nhớ được. Nếu không có người chỉ bảo, dỗ dạy. Chí ít, là ở trường lớp, có thơ và nhạc. Hệt như thế, niềm tin hôm nay, cũng nên điều nghiên, dỗ dạy, cả ở tại nhà hay ngay trường lớp. Không nhất thiết phải ở nhà thờ. Bởi, nhà thờ bây giờ, nào có còn nhiều đám “trẻ người non dạ” ham thích mà lui tới!

            Xưa kia, tại trường lớp các em đến, còn được học đôi bài sách bổn, giáo lý, sách phần. Nay không biết ở trường/nhà Việt Nam, quê hương mình, có còn thế nữa không? Thành thử, cũng nên đặt vấn đề, để tìm hiểu.

 

            Tìm và hiểu, để rồi cùng tiếng dương cầm người nghệ sĩ nổi danh xưa, ta thơ thới:

 

            “Tiếng dương cầm còn vang thiết tha

            riêng mình ta đây với ta

            chìm đắm trong một giấc mơ…”

(Văn Phụng – bđd)

 

            Tiếng thơ xưa. Giấc mơ nay. Phải chăng tất cả đều là bận tâm của nhà trường?

Một số trường ở nước ngoài, khi xưa vẫn có thói quen cho trẻ nhỏ đọc hoặc hát kinh, trước buổi học. Đọc/hát kinh, không có nghĩa chỉ ê a ba câu kinh kệ, do các vị thừa sai khi xưa để lại, bằng thuật ngữ ít người hiểu. Mà là, đọc các ý/đoạn Tin Mừng, qua đó thày/cô vẫn thêm thắt bằng lời giải thích về bí tích. Với lẽ Đạo. Bằng câu hỏi/giải đáp, rất đời thường. Tựu trung, cốt để các em vẫn cứ êm ả mà gói mình trong tình thương yêu của Đạo Chúa.

            Ngoài trường lớp, các em cũng có thể học hỏi chung cùng với cha/mẹ bằng cách theo chân các ngài bước vào chốn vắng, rất nguyện cầu. Ở nơi đó, không chỉ có đọc kinh, linh tinh chuyện nghi lễ, tế tự. Mà, bằng lời ca tiếng nhạc. Bằng cả vào thời khắc ba/mẹ gặp gỡ cộng đoàn chuyên chăm, sau nghi thức. Những nói cười. Chào hỏi.

Bằng vào những thứ ấy, để rồi các em quen dần với tập quán tiếp cận môi trường lành thánh, những tin yêu. Để rồi, từ đó, các em sẽ dần quen với đường lối giải thích mang tính chuyên môn, có chủ đề. Đẹp hơn nữa, là khi bạn trẻ, dù mới lớn, nhưng đã có đôi chút kinh nghiệm chuyện trò không theo hình thức khô cứng. Bắt buộc. Nhưng, dám nói chuyện với người lớn. Không chỉ là chuyện “chó cắn xe/xe cán chó”, ở bên đường. Ngỗ nghịch. Trẻ con. Nhưng quan trọng hơn, vẫn là: biết nghe. Nghe, cả những chuyện tưởng rằng rất khô, và rất khó.

Nói chuyện bàn thảo/thắc mắc, còn là phương cách học hỏi rất hữu hiệu. Kết quả. Hữu hiệu ở chỗ, các em nay biết mình thuộc cùng cộng đoàn niềm tin. Chung nơi ở. Ở nơi, có người để mình tỏ bày niềm tâm sự. Và hiểu biết về niềm tin, qua Kinh Sách. Bởi, qua chuyện trò nhè nhẹ, các bạn có thêm nhiều viễn ảnh. Thêm sâu sắc về nhiều điều. Những điều thiết yếu. Tốt đẹp. Rồi từ đó, các bạn sẽ dàn trải mọi tương quan hiểu biết và tin-yêu với bạn bè cùng nhóm. Cùng sở. Suốt cuộc đời.

Kịp khi nên người trưởng thành, các bạn sẽ còn học nhiều hơn. Bằng sách vở. Suy tư. Nghiềm ngẫm. Làm thế, dân con Đạo Chúa sẽ thẩm định được mọi vấn đề trong đời. Chín chắn. Chững chạc. Dù rằng vấn đế ấy, quan niệm nọ, có được biện bạch/tranh luận ở đâu đó. Dù ở trường ốc/cơ sở, hoặc báo/đài. Có làm thế, các bạn mới bị đánh động. Quan tâm nhiều đến tư tưởng/bài vở của các bậc vị vọng, ở trên cao. Cao, như tầm cỡ Giám Mục, Hồng Y, Đức Cha rất thánh, là Giáo Hoàng.

Học về niềm tin, không chỉ học bằng mắt. Bằng tai. Nhưng, bằng kinh nghiệm sống. Các vị cao tuổi, hẳn còn nhớ những buổi giảng. Hoặc, tuần Đại Phước. Hành hương. Tĩnh tâm. Những kinh nghiệm hiếm quý ấy, ít khi gặp. Nhất nhất đều bổ ích. Bổ, cho người học. Có ích, cho cả các vị giảng. Nhiều vị còn bày cho nhau kinh nghiệm từng trải về những bách hại ở đâu đó. Trực tiếp hay gián tiếp. Các ngài sống sót được, là nhờ cùng nhau hỗ trợ. Và kinh qua mọi nguy nan hiểm nghèo bằng việc sẻ san kinh nghiệm. Nguyện cầu. Hiệp thông.

Trả lời câu hỏi ở trên:“người ơi còn nhớ?”, chắc bạn và tôi, ta rồi cũng có kinh nghiệm để hồi đáp. Kinh nghiệm, như chuyện hành hương/hành trình đi Jerash, Nêbô, Madaba về đất miền những đá và sỏi xứ Gio-đan. Kinh nghiệm, bầu bạn có lần cho biết: nhìn những gạch vụn nát đổ, ta nhớ nhiều về các giai thoại được kể, ở Cựu Ước. Với bạn, với anh thì hành hương miền sỏi đá còn là kinh nghiệm học hỏi về niềm tin, rất giá trị.

Nghe đến đây, chắc bạn và tôi, ta sẽ cho rằng kinh nghiệm của bạn bè ở ngoài nước, không chỉ đáng giá hoặc quý giá, thôi. Nhưng, còn đắt giá, nữa. Bởi, chúng tôi đây, cơm cháo gạo tiền còn chẳng đủ, nói gì hành hương, với hương hành, một nhập thế? Thế nhưng, giả như người vừa hồi đáp lại là đạo hữu tin vào Đấng Allah quyền thế, vẫn cứ được yêu cầu: ới hỡi bạn mình, hãy nên tìm đến Mecca, một lần trong đời, để tỏ bày niềm tin, nơi đấng thánh. Thế còn người mình, thì sao?. Thế thì, mình nghĩ sao?           

Nói cho cùng, nghĩ sao thì cứ nghĩ, hãy như nghệ sĩ năm xưa, ưa đàn hát:

 

“Nhớ đêm nào tình xuân ngất ngây

mưa phùn rơi rơi ướt vai

đi mãi tìm ai yêu đàn…”

(Văn Phụng – bđd)

 

Có lẽ, nghệ sĩ Văn Phụng dám để “mưa phùn rơi rơi ướt vai”, rồi cứ đi mãi “tìm ai yêu đàn.” Rất trữ tình. Lãng mạn. Ngất ngây. Thế, nhưng tác giả “Tiếng Dương Cầm có biết rằng: nhiều lần, bọn tôi là những người tin yêu Đức Chúa, Đấng từng đặt chiên con lên vai, chỉ để đi tìm chỉ một chiên nhỏ lạc đàn, thì mưa phùn có “rơi rơi ướt vai”, nào sá gì. Đức Chúa còn chấp nhận chịu đòn, rồi chết nhục, chỉ vì bọn này, rày vẫn cứng tin?

Thành thử, cứng tin hay mềm tin, có lẽ đã đến lúc, tôi cũng như bạn, ta suy tư về phương cách: không chỉ học về niềm tin, cho riêng mình. Mà còn, tìm cách chuyển đạt niềm tin ấy, cho mọi người. Chuyển, không chỉ bằng phương pháp dạy dỗ, giáo dục. Hoặc, giảng giải. Cho ai. Chuyển, là đạt đến, bằng cách chứng tỏ và nói lên niềm tin ấy, cho nhiều người. Và, mọi người.

Chứng tỏ bằng cách nào, đó là vấn đề. Vấn đề là, bạn và tôi, ta có thể theo phương sách của các thánh, ở trên. Hoặc theo phương pháp tư riêng. Ít thấy. Nhưng dễ làm. Ở đây nữa, tôi và bạn, chắc rằng mình cũng đừng dài giòng kể lể, về chuyện mình. Tốt hơn, hãy kể bằng cuộc sống. Nói, bằng lập trường. Bằng, gương sáng cuộc đời. Nụ cười thân thương. Hiếm quý. Ta gửi đến với muôn người. Mọi người. Bởi, những người có niềm tin vào Đấng dạy ta tin, mới có được hạnh phúc. Có hạnh phúc, rồi sẽ biết cười.

Vậy thì, hỡi bạn và tôi, ta hãy cười. Cười, là đã tin. Tin rồi, vẫn cứ cười. Cười như nhiều người. Cười như mọi người. Với mọi người. Cười, để chứng tỏ: mình đang tin và rất yêu. Cười, như người người ở truyện kể ngay bên dưới:

 

“Ngày đầu học Cao Đẳng, vị phụ giảng tự giới thiệu mình trước nhất, rồi sau đó yêu cầu học viên tìm đến với nhau mà chào hỏi. Chí ít, là những bạn bè, mình chưa quen. Tôi sắp đứng dậy, thì chợt thấy có bàn tay của ai đó đặt nhẹ lên vai. Quay lại, bèn thấy cụ bà khá cao niên, gửi đến cho tôi nụ cười rất tự hào, rồi vội nói:

-Chào bạn trẻ đẹp trai, cao ráo. Tên goa là Hồng. Năm nay, goa mới có 87 cái xuân nồng. Có thể nào bạn cho goa áp má hôn hoà bình, được hông?

-Dạ được. Sao tuổi này, mà bác còn đến lớp để làm gì?

-Để tìm chồng. Chỉ muốn tìm người nào giàu, tốt mã một chút sinh con đẻ cháu cho vui cửa vui nhà, một chút có được không?

-Thật thế không, thưa đồng môn?

-Nói chơi vậy thôi chứ, chả giấu gì bạn, đã

từ lâu, goa chỉ ao ước đến trường để học, dù chỉ một lần trong đời. Nay được phép, là mãn nguyện!

Thế là, sau đó, hôm nào tôi cũng tháp tùng cụ đi dọc hành lang khu học vụ, nói chuyện với cụ, không biết mệt. Tôi học hỏi nơi cụ, rất nhiều điều. Đặc biệt là cụ ăn vận rất lịch lãm. Sang trọng. Chẳng mấy chốc, đến cuối học kỳ, bạn bè liền ngỏ ý mời cụ phát biểu cảm tưởng về đường lối giáo dục của trường, tổ chức nơi sân vận động. Cụ nhận lời ngay. Cụ sửa soạn thật kỹ, chăm chút ghi vào 5 tấm bìa tóm lược, vì quá hồi hộp phải nói trước đám đông. Nhưng có 5 tấm bìa, cụ lại để rơi mất 3. Cuối cùng, cụ cũng lên khán đài, cầm chặt máy vi âm, phát biểu:

-Trước hết tôi xin lỗi mọi người. Vì hồi hộp,nên tôi bỏ đâu mất mấy tấm bìa ghi chú, nay có thế nào xin nói như thế.

Mọi người cười ồ, nhưng cụ bà cứ tiếp tục:

-Ta ngừng chơi bóng không phải vì tuổi ta xế bóng, về già. Nhưng, ta già là vì ngưng chơi bóng. Trong đời, có 4 điều giúp ta trẻ mãi: +hãy lo mà tận hưởng giây phút hiện tại, +quẳng gánh lo đi, rồi sẽ thành công. +Mỗi ngày trong đời, hãy cố mà cười và nhìn mọi chuyện trong chiều hướng tươi vui. +Phải biết mộng và mơ. Vì một khi đã hết mơ và hết mộng, ta chỉ còn nước chờ chết.

Trên đời, hiện có quá nhiều người đang sống nhưng dường như đã chết. Nhưng, không họ biết mình đã chết từ lâu.

Trong đời, có 2 chuyện khác nhau một trời một vực, là: chóng già và chóng lớn. Nếu bạn mới có 19 cái xuân xanh, mà suốt ngày chỉ biết nằm dài, chẳng làm nên tích sự gì. Thì bạn cũng sẽ bước qua tuổi 20, thật mau chóng. Như tôi đây, nay đã 87, chỉ cần nằm dài một năm thôi, cũng sẽ bước qua tuổi 88, rất dễ. Chóng già, là việc chẳng cần tài ba. Năng khiếu. Nhưng, muốn chóng lớn, phải biết nắm bắt cơ hội. Không nuối tiếc thời gian, hoặc bất cứ thứ gì. Ở tuổi già, ta không chỉ hối hận về những điều mình đã làm. Nhưng tiếc rằng, mình đã không làm được nhiều điều, cho đích đáng. Thế nên, trong đời, hãy tìm cơ hội để học và hỏi. Dù học chỉ rất ít.

Phát biểu của cụ bà tên Hồng cứ tiếp tục trong khí thế khích lệ người người nên học và nên hỏi. Đủ thứ điều..

 

            Truyện kể trên, hao hao giống bài phát biểu vào lễ mãn khoá niên học. Nhưng điểm son trong truyện, là câu cuối. Lúc nào, ta cũng nên học. Học, mọi lúc. Hỏi, mọi tuổi. Chí ít, là những điều cần cho sự sống. Rất tâm linh.        

            Lời cuối hôm nay, bần đạo xin góp ý một điều, người xưa vẫn nói “học thày không tày học bạn”, quả rất đúng. Nhất thứ: chuyện học và hỏi ấy, là chuyện Đạo. Tức, những chuyện cốt thiết nhất cho mọi người. Ở nhà Đạo. Nhưng, học gì thì học, hãy như người nghệ sĩ vẫn cứ hát:              

 

            “Trầm trầm…êm êm…thánh thót..”

            Nhịp nhàng khoan thai, thắm thiết..”

(Văn Phụng – bđd)

 

            Có như thế, chuyện mình học và hỏi, mới khắc sâu trong tâm khảm. Cả cuộc đời.

 

            Trần Ngọc Muời Hai

            Vẫn muốn học và học.

            Học mãi

            Suốt cuộc đời.

      

 

7. “Anh đưa em đi về.Về quê hương ta đó”

Anh xin đưa em về. Về quê hương tuyệt vời.”

(Hoàng Thi Thơ – Rước tình về với quê hương)

 

(Mt 18: 3)

            Có những chuyện trong đời, rất tuyệt vời. Nhưng người đời thường chẳng dám. Chẳng dám ăn. Chẳng dám nói. Cũng chẳng dám làm. Nhưng cứ nghe. Nghe đi nghe lại, mãi không chán. Ấy đó, chuyện đời thường. “Về quê hương ta đó”. Ấy đó, chuyện người đời. “Về quê hương tuyệt vời”. Chuyện Nước Trời. Của người anh hùng tuổi nhỏ. Rất hay ho. Như truyện kể ở bên dưới, mà rằng:

 

“Lễ hội ngày ấy, bé Bình chạy đến ôm chầm lấy chân mẹ, đưa ra một yêu cầu lâu nay bé vẫn thích. Nhẹ nhàng. Gọn nhẹ. Bé hỏi nhỏ người mẹ hiền, chỉ một câu: “Mẹ ơi, hôm nao đi chợ, mẹ nhớ mua cho con chiếc xe đạp nhỏ, nhé mẹ! Tụi bạn con, đứa nào cũng có, hết trơn đó.” Nghe hỏi, mẹ hiền giật mình đến thót, thấu tim gan. Vẫn ôn tồn nói: “Con à, nhà mình nghèo lắm, e rằng mẹ không đủ sức mua xe cho con, đâu. Hay, con ra nhà thờ cầu Chúa xem sao, nhe con.”

Thoạt nghe xong, bé Bình thay vì chạy đến nhà thờ cầu Chúa, cho đạt ước mơ, bé lại nắn nót ngồi viết thư, cho Chúa. Lời thư tuy rất ngắn, nhưng dạt dào niềm ao ước: “Chúa yêu, con biết mình phải rất ngoan mới mong được Chúa đoái nhận lời cho quà. Nhưng, con vẫn muốn xin Chúa cho mẹ con được giàu hơn chút xíu, để mẹ mua chiếc xe đạp, cho con. Con xin điều này, Chúa ráng nhớ. Ký tên, Bình.”

Viết xong, thấy không được. Bé Bình sửa lại:  “Chúa dấu yêu, suốt năm rồi, con là đưa bé ngoan nhất nhà. Con xin Chúa món quà, để còn tin. Chúa nhớ cho con. Ký tên, bé Bình của Chúa.”

Một lần nữa, thấy không được. Bé Bình lại xé đi, viết thư khác: “Chúa thân mến, xưa rày con nghĩ: con là đứa bé không đến nỗi tệ. Bởi thế nên, nay xin Chúa cho con một chiếc xe đạp được không, Chúa? Con vẫn chờ Chúa. Ký tên: bé Bình, là con đó.”

Đọc lại, vẫn thấy chưa hay. Bé Bình nghĩ ra một diệu kế, bèn chạy một mạch đến nhà thờ, vào tận trong. Nhìn trước ngó sau, không thấy ai quanh đó, bèn bưng đại bức tượng nhỏ, về nhà. Giấu cạnh giường. Không cho người lớn thấy. Rồi, bé viết thư ngắn, rất gẫy gọn: “Chúa mến, con vừa thực hiện một việc lớn. Là, đem tượng Mẹ của Chúa về nhà đặt ở nơi kín đáo, không ai biết. Nếu Chúa muốn nhìn lại mặt người Mẹ của mình, thì Chúa phải biết điều mà cho con một chiếc xe. Bằng không, Chúa biết rõ chuyện gì sẽ xảy ra. Con tên Bình, Chúa há biết!”

 

            Truyện ở trên, có thể chỉ hư cấu. Kể cho vui. Cũng có thể, là minh hoạ cho sự việc xảy đến trong cuộc đời. Một đời, có quá nhiều thứ. Những, viển vông. Không tưởng. Trẻ con. Nhưng, trẻ hay không, vẫn là chuyện khuyên can/răn dạy, Chúa từng bảo. Ở đâu đó. Nơi Kinh Sách:

                                   

            "Thầy bảo thật anh em:

            nếu anh em không trở lại

            mà nên như trẻ nhỏ,

            sẽ chẳng được vào Nước Trời.”

            (Mt 18: 3)


            Vào Nước Trời, là quê hương ta đó. Có “gió mát trăng thanh”. Đồng xanh xôn xao chào đón. Hữu tình. Đậm đà. Hương hoa (Hoàng Thi Thơ - bđd). Nhưng xem ra, lời thơ/tiếng nhạc người nghệ sĩ  vẫn chưa nói hết nhu cầu cần có, để vào được Nước Trời, như đã viết. Nói cách khác, khung trời tuổi nhỏ, xem ra chưa thấy có đàn trẻ tung tăng, lời nguyện cầu, cần thiết. Để dâng lên. Nước Trời hôm nay, có bao gồm đàn trẻ bé, vẫn tâm tình nguyện cầu và suy gẫm. Suy rất đậm. Gẫm rất sâu. Như lời Ngài, thường nhắc nhở:

 

“Như trẻ thơ đặt hết niềm tin nơi Chúa”    

(Tv 131: 1)

 

Và:

 

Đức Giê-su đáp: các ông chưa bao giờ đọc sao:

Ta sẽ cho miệng con thơ trẻ nhỏ

cất tiếng ngợi khen?"

            (Mt 21: 16)

 

            Vào Nước Trời, nhiều người ít khi thấy trẻ nhỏ cất tiếng ngợi khen. Nguyện cầu. Suy gẫm. Nước Trời hôm nay, còn vắng thấy bậc ông bà/cha bác truyền đạt niềm tin nơi Chúa, với trẻ em. Dù, con trẻ vẫn thường có năng khiếu tự nhiên dấy tràn niềm vô tư, mở ra với không gian linh ứng. Đấy là điều, mà các nhà tâm lý đã xác chứng rằng con trẻ luôn có trong mình một tâm thức, rất thiêng liêng.

            Điều mà nhiều người vẫn thấy, là: con trẻ thời nào cũng có kinh nghiệm đậm sâu đâu kết với các nhiệm mầu của Thiên Chúa. Cả vào khi, các em cùng với người lớn sống trong môi trường mà mọi người đều trân quý vật chất, xác thể. Trong khi đó, mọi sự thật thiêng liêng cao cả, đã mất giá. Mất tự tạo. Mất, trong đau buồn. Tự ý.

            Thời thế hôm nay, mang nhiều dáng vẻ lâm nguy. Lo ngại. Lo và ngại, khi con trẻ của chúng ta không được dẫn dụ, để suy gẫm, nguyện cầu. Tự thân, con trẻ có thói quen ngay từ hồi nhỏ đã biết hướng lòng về với Chúa. Với Cha. Trong âm thầm, chuyện vãn. Rất ngây thơ. Tự nhiên. Lành thánh.

            Còn nhớ,Kinh Sách xưa, Chúa chẳng bảo:

 

            “Hãy để các trẻ nhỏ đến với Thầy,

đừng ngăn cấm chúng".      

(Mt 19: 14)

 

            Để con trẻ đến với Chúa, là dẫn dắt các cháu biết chuyện trò với Ngài, trong thinh lặng. Để chúng đến với Người, vì con trẻ là chính là sự lành thánh thơ ngây, rất tích thiện. Vì thơ ngây trong trắng, trẻ nhỏ dễ mở ngỏ lòng mình, để đón Chúa hiện diện, ở với mình. Vì hồn nhiên giấy trắng, trẻ thơ luôn sẵn sàng nghe người lớn hướng dẫn, cứ nguyện cầu. Làm thân. Với Chúa. Với mọi người.

            Bậc ông bà/cha bác nên dẫn dắt trẻ tập nguyện cầu, ngay tại nhà. Tìm nơi yên tịnh, để gẫm suy. Suy, trong êm ắng. Gẫm nơi yên ổn. Là chốn, không thấy có giòng đời tranh đấu, có truyền thông chế ngự. Chỉ thắp lên, ngọn nến nhỏ, leo lét cha bác/ông bà đã tạo cho trẻ dấu hiệu của lặng thinh. Rồi từ đó, đọc cho bé đôi ba giòng Sách ngắn, là trẻ đã thăng hoa. Trầm lắng. Quyết dõi theo. Đôi lúc, cũng nên mở nhạc nhẹ; hoặc bảo bé, nói chuyện với Chúa Mẹ, qua hơi thở. Nhè nhẹ. Hài hòa. Không khó.

            Khi làm thế, sẽ thấy trẻ hằn sâu một quyết định:

            “Em theo anh đi về

            Về quê hương ta sống

            Em theo anh đi về

            Về quê hương hữu tình…”

 (Hoàng Thi Thơ – bđd)

 

            Hữu tình là quê hương, 

 

            “Có con chim sâu chỉ lối,

            vườn cao thơm ngát hương hoa…”

 (Hoàng Thi Thơ – bđd)

 

            Chim sâu chỉ lối, là chỉ cho bé em cách thức mà nguyện cầu. Không bằng lời lẽ bật thành tiếng. Nhưng cứ để bé em nhắm nghiền đôi mắt. Môi không mấp máy. Nhưng vẫn như thầm thì lời kinh câu hát, rất lặng thinh. Im ắng. Ngẫm nghiền.

            Trẻ bé sẽ thấy đó là phương cách dễ làm. Dù đôi lúc, bé có lo ra chia trí, bằng những tư tưởng bất chợt về. Cứ từ từ mà khuyên bé, ta quay về với lề lối bình thường. Cứ thầm thì lời kinh đêm. Nhè nhẹ. Be bé. Rất thánh kinh. Lời, như mời gọi Chúa hãy đến. Hỡi Chúa, hãy ma-ra-na-tha, mà đến với con đây. Lạy Chúa của con, xin hãy đến (1 Cr 16: 22/Kh 22: 20)

            Dạy cho bé biết cầu nguyện, cũng đừng nên kéo dài, quá lâu. Như thế sẽ chóng chán. Chỉ cần kéo dài chừng mỗi phút, cho mỗi tuổi. Như thế, cũng đã đủ. Năm tuổi, thầm thì cầu trong 5 phút. Em nào bé hơn, cứ cùng cha cùng mẹ mà nguyện ngắm với cầu xin. Cho quen dần. Cần nhất là để các em quen dần với không khí tĩnh mịch, để Chúa hiện diện, đến với em. Trong tâm can. Thầm lắng. Ấm êm.

            Chẳng cần biện luận, ai cũng biết. Trẻ bé rất thích nguyện cầu, chuyện vãn với Chúa, trong lặng thinh. Nhưng vấn đề là, làm sao tạo được bầu khí thinh lặng, ngay ở nhà. Bởi, lặng thinh là tình đầm ấm. Rất tĩnh. Và, tâm cũng tịnh. Chừng như Chúa Thần Thần chỉ hoạt động qua bầu khí lắng đọng. Tịnh tâm. Cả thân xác. Lẫn môi trường.

            Không có môi trường nào na ná tương tự như Thiên Chúa, bằng lặng thinh. Bên ngoài. Và ở trong. Và, tâm tình trong trắng rất ngây thơ, của trẻ nhỏ. Chính là tình tự Chúa đến với mọi người. Bởi thế, các thánh sử vẫn cứ viết:

            “Ai không đón nhận Nước Trời

với tâm hồn một trẻ em,

thì sẽ chẳng vào được trong đó."     

(Mc 10: 14)

 

            Vào được Nước Trời, ở trần gian, là phải như trẻ nhỏ. Sống như trẻ nhỏ. Biết thinh lặng nguyện cấu. Dù ngắn gọn. Chẳng kéo dài, thời gian. Đó là thông điệp Chúa gửi. Từ ngàn xưa. Mãi đến ngàn sau, không phai nhạt. Bao lâu mặt trời còn chiếu sáng không gian, Lời của Chúa vẫn tồn tại. Với mọi người. Ở thế gian.

            Để minh xác những điều nêu trên trên, cũng nên nghe thêm đôi lời nhận định của các em nhỏ về “thế giới quanh ta”, có những mùi vị, thật tinh tế. Dễ chịu. Bình dị. Như ở buổi học, lớp nhi đồng:

“Bắt đầu buổi học , thầy giáo chuẩn bị đồ nghề cho học trò nhỏ, theo kịp lớp. Cũng chẳng có gì là nghiêm trọng, hoặc ghê gớm. Chỉ vài cục kẹo nhỏ với mùi vị, rất khác nhau. Thầy đến từng bàn, phát cho mỗi em một cục kẹo, rồi nhè nhẹ bảo:

-Các em cầm lấy mà ăn thử, rồi nói cho thầy biết, thức vừa ăn , có mùi gì, và mầu gì?     

Các em đua nhau nói:        

-Kẹo của em mầu đỏ, mùi mận chát.

-Của em lại mầu vàng, mùi trái chanh

-Còn của em mầu xanh lục, mùi chua chua.

-Kẹo của em ấy à? Chỉ là mầu hườm, mùi cam chín…

-Các em đều giỏi. Câu nào nói cũng đúng. Bây giờ ta thử  một thứ khác, đố các em nhận ra, là loại gì, mùi vị ra sao. Thế mới khó. Ai nói được, thầy sẽ cho điểm rất cao.

 

Chờ mãi chẳng thấy em nào lên tiếng, đoán ra được.Thầybèn gợi ý mách giúp bảo rằng:

-Đó là thứ, mà má em ở nhà thường gọi tên ba là như thế.

Tức thì một bé gái vội vàng phun nhổ ngay ra ngoài, bèn la lớn:

-Thôi chết! Mấy thứ này, má em vẫn gọi là: Đồ chết tiệt…

            Chết tiệt, hay chưa chết, nào đã tiếp xúc với thần linh, đầy tình Chúa. Là, giây phút quý báu, vẫn rất cần. Cần, không chỉ riêng cho người lớn. Vẫn cần, cho cả trẻ thơ. Là tạo vật, rất quen nguyện cầu, trong im ắng. Lắng đọng. Những tâm tình con cái Chúa.

 

            Trần Ngọc Mười Hai

            Đôi lúc thấy

            rất thiếu xót phút thần tiên

            yên lặng mà nguyện cầu.  

              


8. “Thuở ấy tôi như con chim

lạc đàn”

Xoải cánh cô đơn, bay trong chiều vàng
(Trần Trịnh – Lệ đá)

 

(Ga 21: 15-19)

            Nghe nghệ sĩ, ví mình như “chim con lạc đàn”, bần đạo lại nhớ đến thời vàng tu thân, dạo ấy. Nhớ, hồi thập niên ’60, có đàn trẻ nhỏ ở Đa Thành - Đà lạt, cứ ví von các thày trẻ, như chim con lạc bày, là như thế. Như thế đó, là khi thấy nhóm thày trẻ súng sính trong bộ áo thâm chùng ra ngoài viện, để “thăm dân cho biết sự tình”, thì đám trẻ nhỏ lại cứ lẽo đẽo theo sau, kêu inh ỏi:“Ra mà xem! Mấy thầy một bầy quạ đen. Áo đen áo đen trong tù, giống bày chim cú. Chim cú sống gông tù, giống bày quạ đen.”

            Hôm nay, nghe người nghệ sĩ hát câu: “xoải cánh cô đơn bay trong chiều vàng”, bần đạo thấy đời linh mục thật tội nghiệp, hết bị gọi là “quạ đen/chim cú”, rồi lại bảo: sống đời “bão tố”/“cô đơn”, thấy mà thương. Quả là thương, rõ một đời tu trì đạo hạnh. Hết gặp “trời đày bão tố”, lại “xoải cánh cô đơn“ chốn đoạ đày, thật rõ chán.

            Của đáng tội, nếu gạn hỏi: sao các cha/thày dạo ấy lại đã không mặc áo chùng nào sắc mầu nhè nhẹ rất ngọc ngà toàn là trắng. Như loài bồ câu, tượng trưng cho hoà bình, có hơn không? Bởi, mầu trắng chim câu hay chim két, là mầu hoà bình rất trong. Và rất trắng. Trắng như chim, nghe ở bài hát xa xả suốt ngày trên loa kèn cột đèn dạo ấy, năm một chín bẩy lăm:

 

            “Nếu là chim, tôi sẽ là loài bồ câu trắng,

            nếu là hoa, tôi sẽ là một đoá hướng dương…”

 

            Không. Trăm lần không. Ngàn lần không. Dù có chủ trương hoà bình đến cỡ nào đi nữa,  thì “chùng thâm” bọn tôi thời ấy vẫn nhất quyết không khoác lên người mầu trắng trinh trong của chim câu/chim két”. Dù mầu này rất hiếm, ở loài chim. Không khoác mầu trắng xoá, những ưu tư. Nhưng nhóm thày trẻ bọn tôi vẫn ê a, ba câu hát:

 

            “Và, ước mơ sao trời đừng bão tố,

            để yêu thương càng nhiều gắn bó,

            tháng ngày men say nguồn thơ.”

 (Trần Trịnh – Lệ đá)

 

            Hát thế, là bởi vẫn cứ ước và mơ “trời đừng bão tố”, thế nên cuộc đời của đám người trẻ chuẩn-bị-làm-linh-mục bọn tôi, vẫn cứ “yêu thương gắn bó”, với mọi người. Cả những người, dám gọi mình là chim cú/chim quạ, rất đen ngòm. Gắn bó, có yêu thương, để rồi tháng ngày mê say “nguồn thơ”, vẫn là phương châm đời sống dành cho những người được Đấng Chúa Tể của Lời Thơ vẫn thường mời gọi sống đời có mục và có tử, như linh mục.   

            Nói đi thì lại nói lại: tu trì một chốn, mà lại bảo là: cô đơn/hiu quạnh, kể cũng tội. Tội cho người. Tội cho mình. Nhưng, sau nhiều năm chung đụng chốn đời thường, có gọi nhau là cú là quạ, cũng đâu có sao. Chỉ có sao, khi bà con quên mất chức năng người mục tử, là chỉ muốn tử mà không mục. Trinh trong. Chân chất. Tốt đẹp. Tốt và đẹp, nên có vị anh tài nổi cồn dòng Đa Minh áo trắng ngà, là đức thày Timothy Radcliffe, đà nhận định:

 

“Có nhiều lý do để thấy rằng: ngày nay, sở dĩ một số linh mục hơi bị xuống tinh thần, vì nhiều lý do. Có lý do sáng tỏ như ban ngày, là: vì bối cảnh của thế giới bao quanh, mang cốt cách rất trần tục. Có thể vì, có thiếu hụt trầm trọng, trong ơn gọi. Cũng có thể, do lẫn lộn về chức năng người mục tử. Chính vì thế, dễ mất đi lòng tôn kính gắn liền với ơn gọi. Cũng có thể, do tai tiếng dục tình nổi trôi nhiều chốn. Hoặc vì, số lượng giới trẻ ngày nay biến mất nơi nhà đạo, ít thấy hiện diện ở giáo xứ/nhà thờ như khi trước. Và cứ thế, nhiều nguyên do khác cứ thế được liệt kê.. ” (Gm Peter Ingham, The Year For Priests, The Catholic Weekly 26/7/2009, tr. 36)

 

            Ở ngoài Đạo, như bao nghệ sĩ viết nhạc khác, nhiều người sẽ hát thêm, ca từ của Trần Trịnh:

 

            “Tình yêu đã vỗ cánh rồi,

            là hoa rót mật cho đời

            chắt chiu kỷ niệm, dĩ vãng.

Em nhớ gì, không em ơi!”  

(Trần Trịnh – Lệ đá)

 

            Thế đấy. Trọng tâm của vấn đề đặt ra hôm nay, có thể là: “tình yêu đã vỗ cánh rồi”. Tình yêu vỗ cánh bay đi, cũng là tình người mục tử, vốn kính Chúa. Yêu người. Ở huyện. Phải chăng, đó là dấu hiệu nhà Đạo mình nay nhắc nhở về tâm tính của thánh nhân nọ, tuy kém cỏi về nhiều thứ, nhưng lại nổi danh về nhiều mặt. Nhất là mặt yêu Chúa, yêu người đồng loại tuy chất phác, chốn làng quê. Nhưng, là chất xúc tác thúc đẩy các đấng bậc “thế đó” dám sống đời mục tử đích thực. Đâu có sợ. 

            Còn nhớ, vị chủ chăn giáo phận “đàng ngoài” Wollongong, là đức ngài giám mục Peter Ingham đã tha thiết mô tả tính chất lành thánh của đấng bậc linh mục chân chất ấy, như sau:

 

“Chàng trai Jean Vianney khởi đầu cuộc sống, không hứa hẹn cho lắm. Làm thân con trai một nông dân sống ở trang trại, học hành không gì nhiều, thời niên thiếu. Trông coi việc chăn dê chăn cừu, là chính. Cũng đăng cai đi lính khá nhiều năm, sau đó là thời gian sống đời chủng sinh chầm chậm chạp, không đạt nhiều kỳ vọng của bề trên, nhưng người trẻ Jean Marie Vianney vẫn hành trình xuyên suốt chốn đào tạo, để rồi trở thành linh mục nổi danh về lòng đạo hạnh. Lành thánh.” (Gm Peter Ingham, The Year For Priests, The Catholic Weekly 26/7/2009, tr. 36)

 

Lòng đạo hạnh/thánh thiện, mà vị chủ chăn giáo phận Wollongong-Sydney vừa nói, có phải là tình thương mến Thầy Chí Ái, như thánh Phêrô đã diễn tả ở Tin Mừng thánh Gioan:“Thưa Thầy, Thầy biết rõ tôi mến Thầy!” (Ga 21: 15) hay không? Là, người chăn dắt đàn chiên con ở giáo xứ, mục tử nhân hiền có trả lời được câu mà Thầy Chí Ái vẫn hỏi đấy chứ? 

            Năm Thánh Linh Mục, là năm kỷ niệm lần thứ 150 ngày vị mục tử nhân hiền ở giáo xứ tên Ars, nước Pháp đã chứng minh câu ứng đáp tự hào, của vị thánh. Và chủ chăn trên, còn nhấn mạnh:

“Mừng kỷ niệm Năm thánh linh mục năm nay, Giáo hội kêu gọi bản thân tôi, cũng như các mục tử, hãy xem xét lại mức độ yêu thương, ta dành cho Chúa. Tự xét, để xem anh em cũng như tôi, ta đã đáp ứng tình thương yêu Chúa dành cho mình, đến thế nào. Tự xét, để xem mình có triển khai tình thương yêu, qua lối sống mỗi ngày, hay không. Như Chúa nói: Cứ xem quả, ta sẽ nhận biết cây.” (Gm Peter Ingham, bđd)

 

            Xem quả biết cây ở đây, như vị chủ chăn nhấn mạnh, là coi xem cây “mục tử” Đạo mình có cho “hoa quả” là tình thương mến, đối với Chúa. Với đàn chiên mình chăn dắt không. Về thương và mến, vị chủ chăn đã cân nhắc cụm từ “thương” - “mến” theo nghĩa chữ Hy Lạp, viết trong Tin Mừng.

Thương và mến, ở bản 70 tiếng Hy Lạp, tương đương với từ “philia”“agapè”. Philia, là sự thân thương gần gũi. Và, agapè là trọn vẹn cho đi, mà không giữ lại gì cho riêng mình. Khi Chúa hỏi thánh Phêrô: “Này anh Si-môn, con ông Gio-an, anh có mến Thầy không?", bản dịch HyLạp dùng từ “agapè”. Và, câu trả lời của thánh Phêrô, Tin Mừng 70 dùng từ “philia”, nghĩa là gần gũi. Thân thương. Thân thiện.

Khi Chúa hỏi đến lần thứ hai, thánh Phêrô vẫn trả lời hai ba lần bằng cụm từ “philia” (tức: thân thương/thân thiện). Và sau đó, thánh nhân đã “trọn vẹn cho đi chính mình”, theo nghĩa chữ “agapè”. Cuối cùng, thánh nhân xác chứng “tình mình bây giờ’ với Chúa, qua nỗi chết thập giá, như Thầy.

Nhưng, câu hỏi đặt ra, là: hôm nay, các vị chủ chăn/mục tử, là những vị có phẩm trật/chức vụ trong Hội thánh, có bị hoặc được Hội thánh đòi phải xả thân “cho đi” đến độ như thánh Phêrô, không? Nói cách khác, các vị có buộc phải hành xử như Thầy Chí Ái đòi hỏi không?                     

Để trả lời, theo thiển ý, cũng nên đọc tiếp câu nói của Chúa trong đoạn hỏi/đáp giữa Thầy trò ở Tin Mừng hôm ấy, để xem Chúa muốn đồ đệ/mục tử của Ngài, làm những gì:

 

“Ngài bảo: "Hãy chăn dắt chiên của Thầy."

Ngài lại hỏi đến lần thứ ba:

"Này anh Si-môn, con ông Gio-an,

anh có yêu mến Thầy không?"

Phê-rô buồn vì Ngài hỏi đến ba lần:

"Anh có yêu mến Thầy không? "

Ông đáp: "Thưa Thầy, Thầy biết rõ mọi sự;

Thầy biết con yêu mến Thầy."

Đức Giê-su phán bảo:

"Hãy chăm sóc chiên của Thầy.”

(Ga 21: 18-19)

 

            Đồ đệ Chúa, khi nói “Con yêu mến Thầy” thì cụm từ này dù mang ý nghĩa “thương mến”, hay chỉ là tình thân thương “cho đi”, cho đi trọn vẹn con người mình, đều là: “hãy chăn dắt”/”chăm sóc” chiên con của Thầy. Rõ ràng, ý nghĩa của sự thân thương. Yêu mến. Rất thân tình. Để, cho đi trọn vẹn cuộc đời, đều nằm trong cụm từ ngắn gọn nghĩa: chăn dắt. Chăm sóc.

            Chiên con của Thầy”, thật ra không là ai khác ngoài kẻ bơ vơ. Lưu lạc. Chốn chợ đời. Đầy nhiễu nhương. Ở nơi đó, thường thấy bầy lang sói chực rình, mà hãm hại. Sói thời xưa, là ác thần/sự dữ cứ quanh quẩn bên chiên hiền. Sói ngày nay, đâu phải đám vô thần/ngoài Đạo, chẳng đếm xỉa đến ai. Kỳ thực, lang sói hiện tại, là hờn ghen. Tranh chấp. Ngay bên trong.

            Tranh và chấp, là bởi: cả chiên con lẫn người chăn dắt, đâu để ý đến chuyện đùm bọc. Chăm sóc. Nhưng, chỉ cốt chăm lo chuyện quyền hành. Quyền được hành. Quyền để hành. Chứ có là quyền được chăm sóc/giúp đỡ mọi người. Về nhiều mặt, đâu.

            Có chút tâm hồn thi nhân/nghệ sĩ, cả chiên con/đấng bậc, hẳn sẽ gạn hỏi lớp đá rêu xanh ở đời, rằng:  

  

            “Hỏi đá xanh rêu bao nhiêu tuổi đời

Hỏi gió phiêu du qua bao đỉnh trời

Hỏi những đêm sâu đèn vàng héo hắt

Ái ân,bây giờ là nước mắt

Cuối hồn, một thoáng nhớ mong manh.”

 (Trần Trịnh – Lệ đá)

 

            Ái ân. Cuối hồn. Những thương và mến, sao lại là nước mắt? Nước mắt của mục tử? Nước mắt cho mục tử, sao?

            Không. Đức ngài Peter Ingham đã quả quyết trong lời trần tình hôm khai mạc Năm Thánh Cho Linh Mục, ở giáo phận “đàng ngoài” Wollongong, đã minh định:

 

“Năm thánh Linh mục, là năm ta cùng hướng về phía trước. Hướng về trước, vì linh mục có vai trò/trọng trách sống còn trong Hội thánh. Sống còn, không vì ta thực hiện nhiệm tích Chúa giao, cách lành thánh. Đầy tính mục vụ. Nhưng, vì tất cả chúng ta là những người sống giữa chiên đàn của Chúa, có trọng trách “ở cùng” và “ở với”, nhờ thanh tẩy. (x. Giáo luật #208).

 

            Tựa như bài hịch trước toàn quân và toàn dân ở giáo phận “đang ngoài”, chốn Wollongong, vị chủ chăn giáo phận đã nhấn mạnh đến giới tự “cho”, tức dành cho linh mục. Chứ không phải, giới tự “của” hoặc “về”. Của linh mục. Về linh mục. Bởi, Hội thánh dành để nguyên một năm để cho nguyện cầu và suy xét. Xét về những điều như sau:

 

Năm thánh Linh mục, là năm ta chú trọng nhiều đến nguyện cầu. Là năm, để ta đổi mới chức năng thiên triệu Chúa phú ban. Đổi mới cuộc sống linh đạo, ta tiếp tục. Bằng vào Tiệc thánh, ta cử hành. Mọi ngày. Mọi tuần. Với cộng đoàn.

 

Năm thánh Linh mục, là năm dành để cho ta biết mà triển khai, gia tăng hiệp thông nguyện cầu. Gia tăng tình thân thiện/thân thương giữa ta với cộng đoàn, uỷ thác cho ta. Bởi lẽ, công tác mà người mục tử chúng ta đang thực hiện, có tương quan mật thiết với Chúa. Với cộng đoàn dân con  của Chúa, ta có trọng trách trách chăm lo. Cộng đoàn ta cưu mang, hiện đang ở trong tình huống bối rối, rất ưu tư. Thế nên, ta cần đi bước trước mà chạy đến với họ, như thánh Luca diễn tả trong câu truyện người con lãng tử (Lc 15: 20). Và, để ta có quyết tâm ôm trọn vào lòng tâm can đầy thương mến của Chúa Chiên, như thánh Gioan ghi lại ở chương 10, trong thánh sử.

 

Dù gì đi nữa, như nhiều người nhận định, linh mục hay giám mục, đều không là đấng bậc tự phát, mà là được mời gọi và sai đi. Là, ơn gọi cao quý. Là, thiên chức đích thực của vị mục tử, luôn chăm lo săn sóc đàn chiên, sau nhiều ngày được giáo dục, đào tạo và trui luyện trong kỷ luật. Rất liên tục.

 

            Xây dựng năm thánh “dành cho” linh mục hoặc “về” linh mục, Hội thánh vẫn muốn con dân của mình nhớ về thiên chức lành và thánh, trong tư cách của người hầu hạ, phục vụ. Phục vụ và hầu hạ, như Đức Chúa vẫn căn dặn hết mọi người con, không chỉ riêng đấng bậc được gọi là “Đầy tớ của các tôi tớ” Chúa. Bởi lẽ, chức năng “chăn dắt” và “chăm sóc” được thánh Gioan ghi chú lệnh truyền của Chúa.

            Chăn chiên, khác với chăn trâu chăn trâu, chăn bò, hoặc lừa, ngựa. Chăn trâu/bò, chú bé ngồi chăn dù nhỏ thó, vẫn có quyền. Có cả uy. Uy quyền, là quyền uy thúc giục trâu/bò theo ý mình, bằng roi mây. Gậy nhỏ. Chăn chiên thì khác. Khác ở chỗ, nhiều lúc chiên con dở chứng chạy lăng xăng, không tuân lệnh, nhưng mục tử/kẻ chăn có khi nào dùng giây roi/cây gậy mà đánh đâu, để bắt phải tuân theo ý của chủ. Trái lại, nhiều lúc kẻ chăn còn thương tình, ôm chiên vào lòng như con đẻ, mà nuông chiều. Khi gặp lại.

            Trở lại bài hát “nếu là chim” trích ở đầu, nếu được phép sửa một chút, có lẽ nên sửa chữ “chim” thành chữ “chiên”, để ta có nhiều lý do và thì giờ mà chăm sóc. Hơn là, chỉ hát với ước nguyện. Dù là nguyện ước gì đi nữa, cũng nên hát thêm câu cuối của tác giả quên đề tên, như sau:

 

            “Nếu là mây, tôi sẽ là một vầng mây ấm

Nếu là người, tôi sẽ chết cho quê hương.”

 

            Một lần nữa, nếu hiểu “quê hương là chùm khế ngọt”, hoặc là đàn chim hay đàn chiên ta chăm sóc, hãy cứ hát thêm:

 

            “Là chim, tôi sẽ cất cao đôi cánh liền

            Từ nam ra ngoài bắc báo tin rất hiền

            Là hoa, tôi nở tình yêu ban sớm,

Cùng muôn trái tim ngất ngây hoà bình.”

            Là chim, là chiên hay mục tử, thiết nghĩ cũng đều là thọ tạo của Thiên Chúa, Đấng luôn chăn dắt ta vào đồng cỏ xanh tươi. Ở nơi đó, có quê hương rất hiền. Ở nơi đó, có những tin vui hiền lành. Thông thoáng. Ta gọi là Tin Mừng. Mừng vui nhân hiền, đều là mục đích của chim vui, của chiên hiền hay mục tử. Bởi, dù có là gì đi nữa, tất cả mọi tạo vật cũng sẽ bay và quay về trong vòng tay ôm hiền dịu của Chủ Chăn, là Chúa Chiên Hiền. Rất thân thương. Độ lượng. Có khi nào như người cha, người bố ở truyện kể vui vui, nhè nhẹ để thư giãn:

 

            “Alô ! Con chim nhỏ của anh đấy à?

-Không ! chim bố đây.

-Ấy chết ! Cháu xin lỗi bác! Bác có khỏe không ạ?

-Khỏe để đánh nhau với ai ?

-Dạ ... cho cháu hỏi Trang có nhà không ạ ?

-Nó không có nhà thì là dân vô gia cư à?

-Dạ, dạ ... ý cháu là Trang có ở nhà không ạ?

-Nếu không thì sao?

-Thế ... Trang đi đâu ạ?

-Ðến cơ quan rồi.

-Bác cho cháu số điện thoại của Trang được không ạ?

-Nó có nhiều số lắm !

-Bác cho cháu xin một số thôi ạ !

-8...

-8 rồ i... mấy nữa ạ?

-Thì cậu bảo chỉ cần một số thôi mà .....

-Dạ bác cho cháu xin nốt mấy số còn lại luôn ạ

-5 7 3 6 8 2, còn sắp xếp sao thì tùy cậu.”

 

            Nói cho cùng, bạn của con ông/con bác có gọi nhau là chim, hay chiên hay hoa, hay người, hoặc gì gì đi nữa, cũng cứ nên tỏ bày tình thân thương mà chăm sóc, và đùm bọc. Ai nỡ lòng nào, ơ hờ chỉ cho có một con số để trao đổi tình thân thương. Dù ngoài nhà. Dù trong Đạo. Dù ở đâu đó, chốn Nước Trời cộng đoàn thân thương hay ngục tù, nhiều ghen ghét.

 

            Bởi đã là con cùng một Cha trên trời, ta vẫn là chiên con, con chim, con người. Rất hiền lành. Chân chất. Rất thân thương.       

 

            Trần Ngọc Mười Hai

            vẫn cứ mong

            sống đời hiền lành, chân chất

            người con Chúa.   

 

           

 

9. “Chiều chưa đi màn đêm

rơi xuống”

Đâu đấy buông lững lờ tiếng chuông,

đôi cánh chim bâng khuân rã rời

cùng mấy xám về ngang lưng trời.”

(Nguyễn Văn Thương – Đêm đông)

 

(Galát 5: 22-23)

            Rất nhiều người, sao vẫn rất sợ, màn đêm. Màn đêm, từng rơi xuống. Cùng mây xám về ngang lưng trời. Sợ nhất, là những đêm không trăng, có tiếng chuông, buông rơi. Lững lờ. Sợ nữa, là “màn đêm cuộc đời”. Lờ lững trôi. Sợ, như truyện hài được kể bên dưới, giữa hai cụ:

 

            “Truyện rằng:

Có hai cụ Việt kiều, khá móm mém, nói chuyện với nhau, ra chiều ăn ý lắm:

-Ông nghĩ thế nào mà lại rước con bé chưa tròn hai mươi, về làm vợ?

-Nó thật thà lắm ông ạ. Chính vì tánh này, tôi mới cưới, đấy!

            -Làm sao ông biết tánh nó thật thà?

-Chả là, trước khi lấy, tôi có hỏi: ‘Sao em chỉ bằng tuổi cháu nội qua, mà em lại chịu lấy qua? Nó nói, nhà nó nghèo quá, nên lấy tụi cho đỡ khổ. Lấy về, có thể nuôi được cả nhà, cũng hay.

-À thì ra, chỉ vì nó than nghèo, mà ông cho là nó thật thà sao?

-Tui cũng có thử lòng nó thêm, nên mới hỏi: Nếu đưa em qua bên bễn, lỡ em bỏ qua đi lấy đứa nào trẻ hơn, cỡ bằng tuổi em thì sao?

Nó trả lời vầy chứ:

-Em đợi được mà. Sức ông giỏi lắm chỉ sống chừng 6, 7 năm nữa là cùng.

Tui mới gặng hỏi: Lỡ 5 năm sau em vô quốc tịch, rồi thì không chịu đợi cho qua chết, em bỏ qua thì sao?

Nó suy nghĩ một hồi, rồi nói:

-Em nói ông đừng giận em nhe. Sức của ông ở một mình, thì còn sống thêm được 6, 7 năm. Chứ, sống chung với em, giỏi lắm ông cũng chỉ thọ thêm chừng một năm thôi, là nhiều….

 

             Chừng như, ngày nay người ta hiểu quá sơ sài về hình dung từ “thật thà như đếm”. Cụ cao niên ở trên chỉ mới đếm được tới con số 6 hoặc 7 niên, đã vội gọi người vợ hiền mới cưới là “thật thà như đếm”, kể cũng lạ.

            Một điều lạ không kém, là: năm nay, Năm Thánh Linh Mục, có nhiều vị cũng đã bàn rất nhiều. Nhưng hôm nay, có bàn thêm về bản chất hiền lành/thật thà, thật cũng nên. Nói cho vui, khi xưa các cụ nhà ta, thường có câu: “thật thà, là cha thiên hạ”. Linh mục nhà mình, lâu nay vẫn được gọi là cha. Không là cha bầy trẻ. Nhưng, vẫn được coi như các vị cha/bác, thiên hạ vẫn kính trọng.

Năm Thánh cho linh mục, có người sẽ hỏi: nên chăng, mạn đàm về tính thánh thiêng rất thật thà của các vị cha “thiên hạ”, như “thày cả” Gioan Vianney được cả Giáo hội coi là “thánh quan thầy” của các linh mục không? Như câu hỏi của ai đó trên The Catholic Weekly,ngày 2/8/2009, như sau:

 

“Đức giáo Hoàng Biển Đức thứ XVI đã chính thức tuyên bố: năm nay, 2009 được chọn là Năm Thánh Cho Linh Mục, nhân kỷ niệm lần thứ 150 ngày chết của thánh linh mục Gioan Vianney, họ Ars, xứ đạo nhỏ bên Pháp. Nói chuyện với bạn bè, tôi khám phá ra rằng, phần đông nhiều người chẳng biết thánh này là ai, mà sao Giáo hội lại tôn ngài làm quan thày các linh mục, các vị ngồi toà cáo giải? Có phải vì tính thật thà lành thánh, của ngài hay không? Xin linh mục cho biết đôi nét về tâm tánh của vị thánh này. Rất biết ơn.”

 

            Vốn là linh mục “triều”, lại được hỏi về đấng quan thày của mình, vẫn là chuyện quá thường ngày ở huyện. Nên chi, đức thày John Flader của ta nay có đôi giòng chảy giải đáp rất “thật thà”, như sau:

 

“Thánh Gioan Vianney, có tên cúng cơm rất thật đầy, là: Gioan Baotixita Maria Vianney. Ngài là linh mục thuộc giáo phận ở Pháp, sống vào thế kỷ thứ 19, rất nổi tiếng về lòng đạo hạnh. Thật thà. Chất phác. Đặc biệt, ngài đã để hết tâm trí vào Bí tích Giao Hoà, toà cáo giải. Nói nôm na, là bí tích giải tội.

Là con thứ ba của một gia đình gồm sáu người con, chuyên sống bằng nghề nông ở thôn vùng Dardilly gần Lyons, miền Nam nước Pháp. Thánh Gioan Vianney sanh ngày 8 tháng Năm, năm 1786. Ông bà thân sinh ra ngài, là người chân chất. Thật thà. Rất độ lượng với người nghèo. Ở quanh vùng.     

Thoạt khi Cách mạng Pháp 1789 bùng nổ, các linh mục ở vùng quê buộc phải lui vào chốn âm thầm đầy bóng tối, gia đình thánh Gioan Vianney vẫn tiếp tục tham dự thánh lễ ở nhà riêng. Dù biết làm như thế là không phải.

Bị đánh động bởi lòng thương yêu độ lượng của các linh mục dám liều mình hy sinh cuộc sống riêng tư, để phục vụ người dân trong cảnh nghèo túng, người trẻ Gioan Vianney nhìn các ngài như những anh hùng cái thế đích thực, của thời đại.

Ngày từ năm 19 tuổi, thánh nhân đã đạt ước nguyện được phép lên đường học tập sống đời đạo đức của người mục tử, tại nơi đào tạo do linh mục Balley, chánh xứ Ecully phụ trách thành lập. Ngặt một nỗi, tài trí kiến thức của Gioan Vianney thuộc loại bình thường bậc trung, lại mất đi căn bản giáo dục vào mấy năm loạn lạc, nên thánh nhân đã vất vả với các môn học khó như La Ngữ. May nhờ lòng khao khát quyết tâm làm linh mục của Chúa, cộng thêm sự cảm thông kiên nhẫn của linh mục Balley, nên cuối cùng, thánh nhân cũng bền đỗ, với ơn gọi.

Năm 1815, vừa tròn 29 tuổi, Gioan Vianney được thụ phong và trở thành linh mục phụ tá cho cha Balley, lúc bấy giờ. Và rồi, được chuyển về làm chánh xứ họ đạo nghèo, gồm 40 gia đình ở Ars. Đa số giáo dân ở đây, chỉ lo uống rượu và mải miết làm việc đồng áng cả vào ngày của Chúa. Nên cũng khó.

Trước hoàn cảnh khó khăn ấy, cha xứ Vianney chỉ biết nguyện cầu cùng Chúa, với lời khấn: “Chúa cứ thêm sức cho con, để con cải tạo được giáo xứ, thì rồi có khổ cực đến mấy con cũng cam chịu, suốt đời!” Những ngày đầu đời linh mục, vị thánh trẻ suốt ngày nguyện cầu ở nhà thờ, nên ai tìm đến, cũng dễ gặp.

Nhờ chú tâm vào việc nguyện cầu không ngơi nghỉ, linh mục Vianney còn quyết tâm đền bù lỗi lầm của giáo dân, kể cả việc nhịn ăn bớt ngủ, sống phạt xác rất nhiệm nhặt. Nhiều khi, thánh nhân còn quyết chí: ra việc đền tội ít đi cho những người phạm lỗi; để thay vào đó, tự mình nhận lãnh khó khăn do lỗi phạm của họ đem đến.

Ngoài những quyết tâm như thế, thánh nhân đối xử tử tế với người nghèo, quyết không tiêu pha phung phí điều gì, cho bản thân. Thế nên, khi xứ đạo Ars đã đi vào ổn định, thánh nhân bèn thành lập nhà trú ẩn cho phụ nữ tuyệt vọng/đau khổ, mà ngài đặt tên nơi ấy thành “Chốn An bài” của Chúa. Kể từ đó, các nhà trú ẩn tương tự đã trở thành cơ ngơi cho người cùng khốn, trên khắp nước. Ở nơi đó, thánh nhân có cơ hội giáo huấn người tuyệt vọng/khổ đau có được niềm tin yêu, sống với Chúa.         

Cũng từ đó, linh mục chánh xứ Ars đã nổi danh trong việc dẫn dắt linh hồn về với toà cáo giải. Từ khắp nơi, người người đổ dồn đến với thánh nhân xếp hàng trước toà cáo giải, mà thú lỗi với Chúa. Đến năm 1855, số người hành hương tìm đến xứ họ Ars đã lên đến 2 chục ngàn người. Vào cuối đời, thánh nhân còn bỏ ra mỗi ngày 16 đến 18 tiếng để giải hoà người phạm lỗi, đến từ khắp chốn.

Thánh Gioan Vianney qua đời ngày 4/8/1859, thọ 73 tuổi. Năm 1874, Đức Giáo Hoàng Piô IX đã phong Chân Phước cho ngài. Và, năm 1925, Đức Giáo Hoàng Piô XI phong cho ngài làm hiển thánh, quan thầy các linh mục chánh xứ, giải tội.”

 

            Sử hạnh một linh mục nghèo, đơn giản chỉ bấy nhiêu. Nhưng, vấn đề là: ta học gì ở sử hạnh của vị thánh linh mục này? Tính thật thà/chân chất, sống nghèo với người nghèo chăng? Người sống ở chốn phồn hoa/đô hội, thì sao? Hoặc, lớp nghèo thành thị bây giờ, người là ai? Có cần bắt chước thánh Vianney không?   

 

            Ôi. Hỏi thì nhiều lắm. Có trả lời, cũng chẳng trả được nhiều …lời. Đó mới thành chuyện. Và, chuyện ở đây, hôm nay lại cũng giản đơn như nhận định của một linh mục thật thà, chân chất, rất như sau:

 

“Ngày hôm nay, người ta bỏ ra quá nhiều thì giờ hơn mình tưởng, để ngồi trước màn ảnh truyền thông/truyền hình, mà phung phí. Nếu tính thời gian trung bình mỗi người xem truyền hình là 3 tiếng/một ngày, thì đến năm tròn 40, thời gian ấy đã là 5 năm, trong đời. Chỉ ngồi chơi. Nếu người xem như thế sống đến 80 tuổi, thì thời gian xem truyền hình, đến 10 năm. Người xem ít, kẻ xem nhiều. Nhưng tựu trung là thế.” (Lm Patrick Kearney, CssR The Majellan Apr-Jun/09 t.19)

 

            Gọi họ, là lớp nghèo thị thành ư? Việc ấy còn tuỳ. Tuỳ ý. Tuỳ hỷ. Nhưng, với vị linh mục hiền lành/chân chất, hôm nay ghi ở trên, thì vấn đề còn đi xa hơn. Linh mục bảo:

 

“Có lẽ, tôi hơi khó với truyền hình. Thế còn phim ảnh, sách báo, phim nhựa. băng diã DVD, thì sao? Vâng. Tất cả thứ ấy, nay gây ảnh hưởng quá nhiều lên người sống ở nơi nào có các phương tiên truyền thông ấy. Thông thường, với phương tiện này, người người đều có thể có chọn lựa nào thích hợp với quan điểm tư riêng của mình.

 

Truyền hình, nay có tiềm năng về toàn bộ mọi giải trí tốt xấu, cũng như giáo dục và làm giàu cho người xem nó. Kinh nghiệm riêng cho ta thấy, quả là chuyện thương tình khi ta nhận ra rằng, nay nó đã chễm chệ làm bớt đi giá trị và giảm sút trí tuệ người xem, và nhất là làm suy thoái khả năng định hướng/định hình cho xã hội, được tốt hơn.” (Lm Patrick Kearney, CssR bđd, tr.20)                      

 

            Thật tình mà nói, xã hội hôm nay đã được định đoạt, cả về hướng lẫn hình. Định và đoạt, đến độ cách đây nhiều năm, nghệ sĩ Nguyễn Văn Thương đã phải kêu lên bằng tiếng hát:

 

            “Thời gian như ngừng trong tê tái

            cây trút lá cuốn theo chiều mây

            mưa giăng mắc nhớ nhung, tiêu điều

            Sương thướt tha bay, ôi! đìu hiu.”

(Nguyễn Văn Thương – Đêm Đông)

 

            Tiêu điều. Mưa giăng mắc. Tê tái. Ôi! Đìu hiu. Không hẳn, đời người thị thành, là như vậy. Thế nhưng, nỗi sợ cho người thành thị hôm nay, là: tuy xem cũng nhiều đấy; nhưng nghe lại chẳng được là bao. Nhất thứ, là nghe lời thành thật/chân chất, rất yêu thương của Đấng Hiền Lành, như:

 

            “Hãy thụ giáo với Tôi,

            vì Tôi hiền lành

            và khiêm hạ trong lòng.”

            (Mt 11: 29)

 

            Sống khiêm hạ và hiền lành, ở thị thành, không có nghĩa là sống tiêu cực. Buồn bực. Nhiều xa cách. Xa bạn bè. Cách chia cộng đoàn đầy tình thương yêu trìu mến, ở khắp chốn. Dù chẳng là linh mục, chỉ lèng quèn, dân con hạng thứ.

            Sống hiền lành và khiêm hạ, ở mọi chốn, là hoà mình với Chúa, với mọi người. Cứ chân chất, rất thật tình như Thầy mình, xưa vẫn sống. Thầy sống với mọi người. Sống san sẻ mọi tình huống có hỉ nộ ái ố, đầy đủ cả.

            Sống làm sao, để mọi người thấy được, dù mình là thầy cả, hoặc chỉ là giáo dân, vẫn cứ vui tươi, năng động. Vẫn dấn thân về với người nghèo. Chân chất. Thật thà. Vào mọi tuổi. Ở mọi nơi. Bởi  qua đó, mọi người sẽ thấy ta là hoa quả của Thần Khí Chúa, như thánh Phaolô từng quả quyết:

 

            “Hoa quả của Thần Khí

            là: mến yêu, vui mừng, bình an,

            rộng rãi, tốt lành, tín trực, hiền từ, tiết độ.

            Không có luật nào chống lại các điều ấy..

            Sống bởi Thần Khí,

thì ta cũng cứ hướng theo Thần Khí mà tiến bước.”

            (Galát 5: 22-23) 

 

            Nói cho cùng, là kẻ rao truyền Lời Chúa qua tư cách linh mục hoặc giáo dân, mà không diễn lộ được những đặc tính như trên, thì Đức Giáo Hoàng mình có lập nhiều năm thánh linh mục, hoặc năm thánh giáo dân, e rằng kết quả đạt được, chẳng là gì. cũng chỉ mất công. Và mất của, thôi. 

 

Trần Ngọc Mười Hai

            vẫn cầu và cứ mong,

            đời hồn nhiên,hiền lành và khiêm hạ.      

            Cho mọi người.  

 

 

 

 


10. “Ta gặp nhau, yêu chẳng hạn kỳ”

Mây ngàn gió núi đọng trên mi
Áo bay, mở khép niềm tâm sự
Hò hẹn lâu rồi - em nói đi
(Phạm Đình Chương/ Đinh Hùng – Mộng dưới hoa)

 

(Mt 11: 15)

            Vừa gặp nhau, sao cứ bảo “yêu chẳng hạn kỳ”. Yêu nhau rồi, sao vẫn còn “mở khép niềm tâm sự”. Những hẹn hò. Mãi từ lâu. Phải chăng, ấy đó là chơi trò yêu đương/giận hờn, của người đương yêu, mà không biết?

Yêu đương hay đương yêu, vẫn là chuyện dài nhiều tập. Suốt mọi thời. Ở khắp chốn. Chí ít, là chốn dân gian mộng mơ. Có thơ văn. Âm nhạc. Của người yêu đâu đó quanh ta. Cả nhà Đạo.

Yêu đương chuyện nhà Đạo, tựa việc mặt trời chiếu sáng, ban mai. Rất dài dài. Bởi, nhà Đạo là Nước Trời ở trần gian. Ở đây, dân con Đạo Chúa, vẫn yêu thương nhau da diết. Mật thiết. Có khi, quá da diết đến độ “trì chiết”, dễ ngộ nhận. Cứ, tranh tụng và chấp nê nhau từng hành vi. Câu nói.

Có lẽ vì thế, mà nghệ sĩ thơ văn/âm nhạc, lại cũng nói:

 

“Chưa gặp em, tôi vẫn nghĩ rằng:

có nàng thiếu nữ, đẹp như trăng.

Mắt xanh, là bóng dừa hoang dại,

âu yếm nhìn tôi, không nói năng.”

(Phạm Đình Chương/ Đinh Hùng  bđd)

 

Đúng thế, “ta gặp nhau, yêu chẳng hạn kỳ”. Yêu nhau, như Thầy từng căn dặn. Yêu, tốt nhất và hay nhất là: cứ mải “nhìn nhau, không nói năng”. Bởi, ở đâu cũng thế. Hễ, cứ nói năng, lăng nhăng nói “trại”, thể nào cũng có lúc ta sơ hở. Kể cũng lạ, Hoá Công tạo nên ta chỉ một miệng, một lưỡi, những hai tai. Mà sao, ai cũng thích nói, chẳng buồn nghe. Nói nhiều hơn nghe, sẽ có ngày ta nói nhịu. Nói bậy. Tức, nói ngược nói ngạo, vượt phạm vi chức năng/thiên chức, người được nói.

 

Nói gần nói xa, chẳng qua nói thật, dân con nhà Đạo, ta nghe Chúa nói rất nhiều điều, nhưng chưa hiểu. Điều Chúa nói, vỏn vẹn chỉ bây nhiêu:

 

“Ai có tai thì nghe.”

(Mt 11: 15/13: 9/Lc 8: 8)      

 

Là, môn đệ theo chân Chúa truyền rao Tin mừng, bằng lời nói cụ thể, cụ sáu/thày cả, phải là những người thực hiện điều Chúa dạy, hơn ai hết. Nhưng, nhiều cụ quá bận rộn với “việc của Chúa” (chứ không phải việc chùa), lại hay dính đôi chút chuyện trần gian, nên quên lãng. Vì quên, nên có đức thày cứ trộm nghĩ mình là mục tử, hẳn đương nhiên có thêm chức năng của vị chủ chăn, là  đấng bậc ở trên trông nom các mục tử trong giáo phận. Nên, có mục tử tự phát kỹ năng riêng biệt mà Hội thánh chưa kịp ban, cho mình. 

Có đức thày, lại đã phóng tay có câu phán rất ư là “Chủ chăn” trước cộng đoàn giáo xứ, mà bần đạo tình cờ được đọc, như:

 

“Căn cứ vào thời gian xảy ra sự việc…, căn cứ vào biên bản cuộc họp các ban ngành…, căn cứ vào lời kêu gọi ăn năn sám hối của Cha quản xứ và những người khôn ngoan đạo đức có uy tín trong Giáo xứ. Xét theo thời gian gia ân, nhưng thương ôi, các tội nhân không vâng lời chịu ăn năn sám hối , để được tha thứ …, Với chức vụ và quyền hạn của linh mục quản xứ, nay tôi quyết định ba điều sau:

Điều một: Cắt đứt mọi quyền lợi và loại khỏi giáo xứ, đối với những người sau đây: ô/bà A,B,C;

Điều hai:Tạm dừng mọi chức vụ và những người chưa… giám định trong Giáo hội;

Điều ba: Mọi tín hữu trong giáo xứ …., không ai được giao lưu với những người trên, kể cả chết không được đưa tang, đám cưới không được tham dự;

Điều bốn: Quyết định này có hiệu lực VÀO ngày ký.

Ngày… tháng… năm 2009.

Lm …, quản xứ XYZ

 

Đức thày còn thêm lời giải thích, rất như sau:

 

‘Từ ngày hôm nay trở đi, tôi và giáo xứ không có trách nhiệm gì đối với các người này, COI NHƯ QUÝ VỊ ĐÃ CHẾT TRONG ĐỨC TIN, CHẾT VỚI CHÚA NHƯNG QUÝ VỊ KHÔNG ĐƯỢC SỐNG LẠI VÀ CHẾT CHO RỒI.” (Trích điện thư 7/09, gửi từ quê nhà Hội thánh Chúa)

 

Đọc phán quyết của vị mục tử/tử mục chuyên chăn dắt đàn chiên nhỏ ở giáo xứ, bần đạo tưởng mình đang lội ngược giòng lịch sử, bơi về thời trước. Lội và xem, nhưng chẳng dám có lời thanh minh hay góp ý gì hết, chỉ biết ngân nga, ba câu thơ thẩn một lời hát. Hát rằng:

 

“Ôi, hoa kề vai, hương ngát mái đầu

đêm nào, nghe bước mộng trôi mau.

Gió ơi, gửi gió lời tâm niệm,

Và, nguyện muôn chiều, ta có nhau.”

(Phạm Đình Chương/ Đinh Hùng  bđd)

 

Ngâm nga xong, rồi lại mộng ước. Ước nguyện muôn chiều, ta có nhau. Có nhau, trong Nước Trời, Nhà Đạo. Có nhau, ngày của Chúa. Chốn cầu kinh. Như Ngài dặn:

 

“Ở đâu có hai ba người họp lại

nhân danh Thầy,

thì có Thầy ở đấy,

giữa họ."

(Mt 18: 20)

 

            Bần đạo trộm nghĩ, hội họp ở nhà thờ/nhà xứ để gọi là kính Chúa với cầu kinh, mà lại không để cho người khác cùng tham gia -dù người ấy có sai sót/quấy quậy điều gì đi chăng nữa- hẳn, cũng là chuyện không phải. Thiếu sót. Đó là, chưa nói về chuyện đức thày mục tử, sử dụng quyền hành-xử với bổn đạo dưới trướng, có phù hợp với chức năng rất thánh, của mình hay không.

            Về chức năng/quyền hạn, đức thày làm chủ giáo xứ có tương đương ngang bằng hạn quyền của vị “chủ chăn” giáo phận hay không. Thậm chí, các vị chủ chăn có quyền vô ngộ, không sai sót như Đức Giáo Hoàng, không? Bần đạo còn nhớ lại câu hỏi của độc giả nọ, cũng đại loại như thế. Hỏi, và bảo rằng:

 

“Con nhớ có lần đã từng đọc được ở đâu đó, hoặc nghe có người bảo: trong chừng mực nào đó, Đức Giám Mục địa phận có quyền phán quyết cũng “vô ngộ”, tức không sai sót, như Đức Giáo Hoàng. Điều đó, có đúng không? Nếu đúng, thì đúng trong trường hợp/điều kiện nào? Và vai trò của Giám mục và/hoặc Tổng giám mục khi ấy, sẽ ra sao?”

 

            Thắc mắc/gạn hỏi, có lẽ được gửi từ một độc giả khá chuyên chăm -bởi có chuyên chăm cho lắm, mới bận tâm như thế. Và, nơi tiếp nhận thắc mắc/gạn hỏi, vẫn là đức thày rất chăm và rất chuyên về giải đáp, tức đức thày John Flader, rất linh mục, ở Sydney, như sau:

 

“Có hai chuyện cần làm sáng tỏ. Trước hết, quả quyết ở câu hỏi đầu, rất đúng. Đúng, không ở điều bảo rằng: mỗi giám mục, trên cương vị và tư thế của mình, đều vô ngộ. Dĩ nhiên, không phải thế. Lịch sử Hội thánh, dẫy đầy những trường hợp các giám mục đi chệch đường, có khi các ngài giảng giải cho mọi người tin, rặt những điều sai trái ấy. Nhưng giám mục, cùng với Đức Giáo Hoàng, nhìn tổng thể, cũng mang tính “vô ngộ”, ở một số hoàn cảnh.

Công Đồng Vatican II, trong Hiến Chế “Lumen Gentium (Ánh Sáng Muôn Dân)”, đã có phán quyết như sau:”Dù các giám mục, đứng riêng rẽ, không hưởng đặc quyền vô ngộ được. Tuy nhiên, các ngài vẫn có được đặc tính ấy, khi tuyên bố tính vô ngộ trong giáo lý của Đức Kitô, theo các điều kiện sau đây: cụ thể là, khi dù tản mác nhiều nơi trên thế giới, nhưng vẫn duy trì sự hiệp thông với nhau giữa các ngài và với Đức Giáo Hoàng, trong cung cách giảng dạy về những điều có liên quan đến đức tin và luân lý, các ngài đồng thuận rằng: có điều được giảng dạy riêng biệt phải được coi là rạch ròi, tuyệt đối. Rõ hơn nữa, là trường hợp khi các ngài tụ tập trong hội đồng đại kết, thì các ngài đều là các bậc giảng dạy hoặc đấng bậc phân xử, cho Hội thánh toàn cầu, về các vấn đề có liên quan đến giáo điều và luân lý; và, quyết định của các ngài, phải được đính kết có sự thuận thảo trung kiên tuân phục, về đức tin.” (Hiến Chế Ánh Sáng Muôn Dân, số 25).

 

Đấng chủ quản cả giáo phận, mà còn phải hợp lòng/hợp ý với Đức Giáo Chủ/Giáo Tông, mỗi khi phán quyết điều gì. Chí ít, là quyết phán “vạ tuyệt thông”, với giáo dân. Chứ đâu đứng trước mặt bá quan giáo họ, mà căn cứ vào cái-gọi-là “biên bản buổi hội họp” của ban hành-giáo, hay hành (hạ) người Công giáo, để tuyên sấm, gây sấm sét.

Chẳng thế mà, nhà thơ cùng người nghệ sĩ âm nhạc, cứ dệt mộng “dưới hoa” với lời ca:

 

“Bước khẽ, cho lòng (anh) nói nhỏ

bao nhiêu mộng ước phù du;

ta xây thành mộng nghìn thu,

núi biếc, sông dài ghi nhớ.”

(Phạm Đình Chương/ Đinh Hùng  bđd, lời 2)

 

Vốn dĩ xây mộng nghìn thu, cho Nước Trời ở trần gian, người đi Đạo ở vùng sâu vùng xa, vẫn bị hành và hạ như trên, hẳn sẽ hát thêm: 

 

“Tôi cùng em, mơ những chốn nào

Ước nguyện chung giấc mộng trăng sao..”

(Phạm Đình Chương/ Đinh Hùng  – bđd)

 

 

Mơ những chốn nào, để đi đến. Hoặc, chung giấc mộng trăng sao, có thể là ước nguyện của các vị thấp cổ bé miệng ở đâu đó, nay quyết chí. Quyết, tìm hiểu chức năng/vai trò của đấng bậc, tựa người nước ngoài dám công khai hỏi, như lời ghi trên báo, ở trên. Và, “đức thày” nhẹ nhàng trả lời:

 

“Chức thánh Giám mục (cũng như linh mục và phó tế) qua đó, vị thừa-tác-viên đến để san sẻ công cuộc thừa tác với Đức Kitô, theo cung cách đặc biệt. Chức thánh, định nghĩa như nhiệm tích được ban cho vị nào đó, có ơn Chúa Thánh Thần kèm theo, là cốt để giúp vị ấy thực hiện một cách xứng đáng và có hiệu lực, các vai trò thánh thiêng như: chức phó tế, linh mục, hoặc giám mục.

Giám mục là chức lớn nhất trong ba chức thánh, vừa kể. Như thế, vị giám mục trở thành người kế vị các thánh Tông đồ và là thành viên của Giám mục đoàn, có trọng trách không chỉ trong giáo phận hoặc trong công cuộc thừa tác mình nhận lãnh, với toàn thể Giáo hội hoàn vũ.

Khi được tấn phong, các giám mục có trọng trách giúp Đức Thánh Cha trong việc quản cai toàn thể Giáo hội hoàn vũ. Các ngài còn lĩnh nhận quyền uy để tấn phong cho các phó tế, linh mục và các giám mục khác. Và các đức giám mục còn được quyền ban phép Thêm sức như một thừa tác viên bình thường.

Các giám mục, có thể phục vụ tại địa phương, ở giáo phận mình với tư cách Chủ chăn một giáo phận, hoặc là phụ tá, chuyên phụ giúp đức giám mục sở quản. Giám mục nào được Đức Thánh Cha ban cho quyền kế vị đức giám mục chủ quản của giáo phận, thì khi vị này rời chức vụ, thì giám mục phụ giúp kia được gọi là Giám mục phó. Nhưng vai trò của Giám mục phó, vẫn như các giám mục phụ tá, mà thôi.

Ở một số quốc gia, vì tầm quan trọng của giáo phận nào đó ở trong nước, các giám mục được cất nhắc gọi là Tổng Giám mục, nhưng quyền hạn và chức vụ vẫn không hơn các giám mục ở các giáo phận khác. Ví dụ, như ở Việt Nam, có các Tổng giáo phận Hà Nội, Huế và Sàigòn.         

Một số Tổng giáo phận là giáo phận chính trong một nhóm giáo phận, lập thành Giáo tỉnh. Vị Tổng giám mục của các tổng giáo phận này được nhận danh xưng Tổng giám mục chính toà. Vị này có quyền hạn trông nom bao quát nhiều giáo phận khác, vẫn thường gọi là giám mục thuộc hạt.

Vị Tổng giám mục chính toà không có quyền hạn trông coi trên các các giáo phận thuộc hạt. Bởi lẽ, các giáo phận thuộc hạt, được đặt dưới quyền của chính giám mục chủ quản của các ngài. Vai trò của ngài chỉ là coi sóc bên trên, coi xem niềm tin và kỷ luật giáo triều có được tuân thủ trong khắp toàn giáo tỉnh của ngài hay không, mà thôi. (x. Giáo luật số 436)

 

            Xét từ trên xuống dưới, các câu giải đáp của đức thày không thấy chức năng, hoặc vô ngộ hoặc có quyền hạn đưa ra “vạ tuyệt thông” đối với giáo dân, dưới trướng. Cũng nào thấy “ghế tông toà” (ex cathedra) để mà phán quyết, những “dứt phép thông công”. Thành thử, nhiều đức thày hành xử xem ra có vẻ theo luật pháp giáo hội, nhưng lại vượt quá quyền giáo hội ban cho. Có lẽ nên gọi các đức thày này, là đức cha tự sinh ra, hoặc Giáo hoàng tự phát. Nên chăng?

Nên hay không nên, thì trong hệ cấp điều hành của Giáo hội, nay vẫn chỉ như thế. Còn lại, nếu có vị nào vẫn nguyện và vẫn ước chuyện đổi thay, hãy cứ ngồi dưới cây sung già, mà khấn nguyện. Một đổi thay. Loay hoay hoài, không thấy.

Chẳng cần thấy và cũng không tìm đâu cho thấy. Chỉ cần trở về với nguồn cội của Lời, sẽ thấy ngay. Thấy ngay rằng, khi xưa cho đến “bi chừ”, Chúa vẫn khuyên từ dân con cho đến mục tử hoặc Chủ chăn, trong ngoài huyện dân gian cùng nhà, rằng:

 

“Vậy anh em hãy đi

và làm cho muôn dân trở thành môn đệ,

làm phép rửa cho họ, nhân danh

Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần,

dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho

anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày

cho đến tận thế."

(Mt 28: 19)

 

            Ở đây, không thấy Chúa bảo: cứ thấy tay nào khó dạy, cứ hay “quậy”, là đuổi ra. Ra khỏi cộng đoàn môn đệ, nhà Hội thánh. Ra khỏi Nước Trời, ở đó có Thầy ở “cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.” Xem như thế, là con dân đồ đệ, đích thật “người” của Chúa, tưởng cũng nên đón chào các người anh/người chị vào với Nước Trời, là Hội thánh. Là, cộng đoàn tình thương, nơi giáo xứ/họ đạo mình, dù lớn nhỏ. Dù, ở đó, có cha sở rất khó tính. Dù, ở đó, ở đàn con rất bướng bỉnh. Khó dạy. Hay “quậy”.

            Để minh hoạ, cho những lời bàn ở trên, tưởng cũng nên tìm đến những truyện kể nhè nhẹ. Êm êm. Thánh thót, rất như sau:

            Truyện rằng:

“Ba em cùng trường, chuyện trò với nhau ở ngoài sân. Vào giờ chơi. Chơi hết mọi trò, đà thấy chán, bèn nghĩ ra trò mới: hãy khoe nhau xem bà con nhà mình ai tài. Ai giỏi. Ai hơn ai. Đứa thứ nhất, vội khoe:         

-Tớ đây, chẳng biết gọi đó là trò gì, mà sao cứ thấy bố mình lấy giấy bút ra viết nguệch ngoạc vài hàng, rồi gọi đó là “thơ”, thế mà tờ báo nọ cũng tặng ỗng, những 5 chục đô.

Đứa thứ hai nghe thế, thấy nóng mặt, bèn nổ “lốp bốp”, to hơn:

-Còn ông chú của tớ ấy à! Ỗng cũng lấy giấy viết ra, kẻ chỉ vài giòng, rồi chấm chấm phết phết, gọi đó là nhạc bản. Thế mà, cũng có người khùng điên, tặng cụ đến năm trăm.

            Đứa thứ ba, vội vàng nói nhanh:

-Ông cậu của mình, chẳng biết có tài giỏi gì hơn ai không, mà sao ông ấy quyền thế đến là như thế…

Bạn bè nghe thế, thấy sốt ruột, bèn thúc bạn mình bật mí để xem cái nghề gì mà ghê đến thế:

-Sao cậu không nói nhanh cho rồi, còn úp úp mở mở làm gì, bọn này chờ đợi hơi bị mệt đấy!

-Có gì đâu. Nghe bảo rằng, cậu tớ làm tới chức “ông cha”, ở nhà thờ. Làm gì thì không biết, nhưng mỗi tuần ông viết vỏn vẹn không đầy một trang giấy, rồi lên bục nói rất lớn. Nói những gì tớ nào có hiểu, thế mà mọi người lớn bé già trẻ ngồi nghe, cứ thế mà gật gù, tán thưởng. Sau đó, còn gom tiền bỏ vào rổ mang lên đưa cho ỗng, có đến bạc ngàn. Có lần, nhiều người nghe xong còn bỏ về, khóc lóc thảm thiết ghê lắm.”

 

            Dưới tầm nhìn của giới thâm thấp/nhỏ nhỏ, thì làm vị mục tử giảng giải ở nhà thờ là làm lớn ghê lắm. Lớn đến độ, nói gì người nghe cũng đều “gật gù”, tán thưởng. Thưởng bằng tiền. Tán và thán, bằng những cử chỉ khóc lóc, và bỏ đi. Tán thán hoặc bỏ đi như thế, tức đi ngược lời dạy của Đức Chúa, Đấng chỉ muốn cho “muôn dân trở thành đồ đệ”. Để, Ngài ở với, ở

cùng mọi người. Mọi ngày cho đến trần thế.

            Cuối cùng vấn đề còn lại, là: hỡi bạn và tôi, cứ tự kiểm xem mình ta biết nghe Lời Ngài nhủ khuyên mà nạp thâu môn đệ cho Chúa, đã đủ chưa. Hay, ta lại xua đuổi người người khỏi cộng đoàn tình thương, của Đức Chúa.

 

            Tự kiểm để học hỏi. Học và hỏi, không chỉ ở đây. Bây giờ. Mà, cứ thế mãi. Rất về sau.                      

 

Trần Ngọc Muời Hai

            Nghĩ mình vẫn cần học và hỏi.

            Học thật nhiều.

            Hỏi không thiếu.

Suốt cuộc đời.

            

11. Rồi mai, tôi đưa em, xa kỷ niệm,”

xin lời cuối, không dối gian, trong mắt em.
Tình yêu, cho thương đau, nghe buồn thêm .
Gác vắng, mưa gợi niềm chăn chiếu.”
(Trường Sa – Rồi mai tôi đưa em)

 

(Mt 25: 45)

Đưa em, xa vùng trời kỷ niệm. Không dối gian. Nghe

buồn thêm.  Buồn thật, nhưng có buồn nào bằng cái buồn của những “ngày mai tôi đưa em/đưa anh” xa vùng trời yêu thương. Nhung nhớ. Vùng trời đầy nhung nhớ ấy, cũng chẳng ở làng Nazarét, chốn quê nghèo. Cũng chẳng là, hang Bê-lem, thôn làng nhỏ bé. Nhưng lại là, thành thánh Giêrusalem, đầy nhớ thương. Nhớ và thương vùng trời Giêrusalem ấy, chốn tôn nghiêm. Yêu thương, tình Đại kết.

Thành thánh Salem lần đầu ghé viếng, người người

đều thấy  rõ tình  đại kết, rất mến thương. Tình, của các phe phái nơi Đạo Chúa, vẫn chung phần nối kết, một lịch sử. Một di tích tưởng niệm, có những chặng đàng khổ giá, có khóc than. Có bái lạy, sì sụp. Mà người người đinh ninh rằng: Hài Cốt Chúa được lưu giữ ở đâu đó, ngay bên dưới. Có nhà mồ, kiên cố. Có nến đèn thắp sáng, quanh năm.

Điều trớ trêu mọi người đều thấy, là: di tích lịch sử

của những  “chặng đàng thánh giá” ở Giêrusalem, nay thuộc phần sở hữu của dân con, người Hồi giáo. Là, người giữ chìa khóa, và thu tiền. Thu tiền thuê, là để các phe phái nhà Đạo mình làm nơi phượng thờ, để du khách đến thưởng lãm/bái lạy, không cãi tranh. Các giáo phái đóng tiền như thế, bần đạo thấy có: Công giáo La mã. Chính Thống Hy Lạp. Chính tông Đạo Chúa xứ Ác-mê-ni-a, Ai Cập, Ê-ti-ô-pi-a và Xy-ri-a. Nhất nhất, mọi giáo phái đều có thói quen hiệp thông/đối

thoại, giữ di tích.

Về hiệp thông/đối thoại, thế giới hôm nay có

thói quen gọi là  “truyền thông” hay “thông đạt”. Tức, những cử chỉ thân tình ta vẫn có, khi đổi trao. Đối thoại. Truyền đạt. Truyền thông hôm nay, đã thành chuyện rõ như ban ngày. Chẳng có gì phải ưu tư, thắc mắc. Truyền thông như thế, có là truyền đạt và đả thông như nghệ sĩ nhà mình, vẫn ca Và vẫn hát, nhiều hôm trước:

 

“Ngồi nghe yêu thương đi,

Xa tầm tay, giữa tiếng ru trầm vào, cơn mê này.”

(Trường Sa – bđd)


Ru trầm vào truyền thông/cơn mê này, là ru như

người xưa  vẫn cứ  coi đó như bộ môn khoa học/kỹ thuật được sử dụng để người người xích lại gần nhau. Chứ không phải, để cùng nhau kéo ra bãi tha ma, mà tranh chấp đất đai. Quyền lợi. Người người hôm nay, sống là sống có truyền và có thông. Có đối thoại. Truyền đạt. Truyền và thông, là để đả thông tư tưởng. Là, chung lòng kết hiệp, vì mục đích cao cả. Là, dẫn đưa mọi người đến với Nước Trời, ở trần thế. Ở nơi đó,có tương quan dào dạt thân thương, tình đại kết.

Truyền thông đây, không là phương tiện của báo

đài, chuyên  nối kết  với người nghe nhìn và đọc. Để rồi, cùng nhau ta đi vào nơi chết chóc, có tin buồn. Truyền thông đây, là truyền đạt một thông điệp đầy cảm tính giữa người cùng nhà. “Tứ hải giai huynh đệ” dấu yêu. Là, tình cảm thân thương của người cùng chiến tuyến/mục tiêu. Đến với Chúa. Nói như thế, là nói: chính Đức Chúa đã truyền đạt cuộc sống của Ngài, qua năng lực hỗ tương/đa dạng, từ thiên nhiên.

Thế giới hôm nay, nhìn tổng thể, là thực tại trong đó

mọi thành  phần được đính kết vào nhau, người với người. Thế giới nhân trần, nay có quá nhiều thứ để tỏ cho mọi người thấy rõ Đức Chúa vẫn truyền đạt/đả thông với ta, qua nét vẻ của thiên nhiên. Con người.

Chính vì thế mới có lời, rằng:

 

“Quả thật,
Ta bảo các ngươi:
những gì các ngươi đã không làm
cho người nào
trong các kẻ hèn mọn nhất này
là các ngươi đã
không làm cho chính Ta.”
(Mt 25: 45)

 

Đức Chúa truyền đạt/đả thông với thiên nhiên/con  người, qua tương quan phức hợp, khiến ta trở thành người con.  Thành, con của Người. Con của Chúa. Tương quan ấy, bao gồm mọi ước vọng, có vấn nạn. Bao và gồm, cả những ao ước thầm kín, qua giao du mật thiết với bạn bè/người thân. Với xã hội nhân quần, nhiều hình thức.

Cựu Ước xưa, diễn tả tương quan/truyền thông ấy,

ngang qua dân  con Do Thái. Tức, dân con được Chúa hứa hẹn, chọn lựa. Tân Ước nay, lại tập trung nhấn mạnh đến chiều sâu quan hệ, giữa ta và Chúa. Giao ước Tân/Cựu khi trước cho thấy tính tham lam/vị kỷ gây cản trở làm muôn dân không đến được với nhau, ngõ hầu thực hiện ước mơ ấy. Nói theo kiểu nhân gian nghệ sĩ, là nói và hát như thế này:

 

“Còn đây, không gian xưa quen gót lầy.
Bên hè phố, cây lá thưa, chim đã bay.”

 (Trường Sa – bđd)

 

Gót lầy không gian, nay vấy bẩn một môi trường, là

cảnh huống tương quan được nhắc đến:

 

“Rồi mai, chân hoang vu lên phố gầy,
Tôi về nhớ, trong mắt môi đã đắng cay.”

 (Trường Sa – bđd)


Cứ thế, không gian xưa/nay vẫn về lại với nhớ

nhung, có mắt  môi, phố gầy. Rất đắng cay. Đắng và cay, vì mọi tương quan hệ trọng khi trước, nay đà:

 

“Đành đoạn, rồi những lần chiều hẹn ước.”

 (Trường Sa – bđd)


Hẹn, là những hẹn và ước có buổi chiều. Hẹn, là

ước và mơ,  ở buổi chiều vàng, chưa đứt đoạn. Hẹn, là tương quan hệ trọng người người, có đứt đoạn hay không, đó mới là vấn đề. Vấn đề, của mọi người. Của đôi nam nữ rất “tương quan”. Như câu truyện, ở bên dưới:

 

“Có cô gái, rất hận đời vì chứng mù loà, cả hai mắt. Cô thù ghét hết mọi người. Chỉ trừ mỗi người bạn trai, của cô. Anh luôn ở bên cạnh, chăm sóc/hầu hạ cô. Nói tóm, là: có quan hệ rất chu đáo. Với cô gái.  Có lần, cô nói với anh:

-Nếu được sáng mắt, em sẽ lấy anh làm chồng, ngay lập tức.

Một ngày kia, có người tặng cho cô đôi mắt sáng, để thấy đời. Sau ngày chuyển vận quà tặng, bác sĩ cho phép cắt chỉ, bỏ lớp băng che đôi mắt loà. Và, cô thấy được đủ mọi thứ. Thấy, cả người bạn đời yêu dấu, vẫn ở cạnh.

Thấy bạn hiền sung sướng có cặp mắt để nhìn, anh bạn bèn hỏi:

-Bây giờ nhìn thấy rồi, em có còn muốn lấy anh làm chồng, nữa hay không?

Cô gái nhìn người bạn từng ở gần mình bấy lâu nay, phút chốc đã bàng hoàng. Bàng hoàng, thấy anh bạn mù loà kia lại đã dám ngỏ lời cầu hôn, với cô. Đó là chuyện, hẳn là cô chẳng bao giờ nghĩ đến. Không nghĩ, nên mới hứa. Bỗng tự dưng, cô thấy hãi sợ. Rất sợ, khi nghĩ cảnh tình buộc phải sống chung đụng cùng kẻ mù loà, có đôi mắt hõm, thật đáng ghê. Khiếp sợ hơn, về quãng đời còn lại của mình, đang khởi sắc. Vì thế nên, cô đã thất hứa.

Người bạn trai buồn rầu, bỏ đi nơi khác, không một lời giã từ. Ít ngày sau, cô gái nay đã sáng mắt, nhận được đôi giòng chữ cay đắng, rất tâm tình. Giòng thư đau khổ của bạn hiền hôm trước, nay có lời ngỏ rất thương, một dặn dò:

-Em yêu dấu. Em nhớ chăm sóc cặp mắt mà em vừa mới nhận, cho thật kỹ, em nhé. Bởi lẽ, trước khi cặp mắt đó được tặng trao cho em, nó là của anh. Một người vẫn thương em dù giờ đây không còn cặp mắt nào, để nhìn em.

Nhớ em nhiều trong yêu thương.”


Đành rằng, trong tương quan giữa người với người,

có nhiều cảnh trong đó con người từng thất hứa. Chấm hết mọi tương quan dù rất đẹp, vào ngày trưóc. Những ngày, cả hai phiá từng có những lời thề non hẹn biển. Với nhau. Trước mặt Chúa. Bởi thế nên, trong tương quan mật thiết với Chúa và với người, dù có là người nhà hay người dưng nước lã. Ta vẫn cứ nhớ lời dặn dò của bạn bè người xưa. Những lời chưa nghe quen, hay đã rành. Những dặn dò của ngày trước, rất nhè nhẹ một nhắn nhủ. Như lời nhắn nhủ ở bên dưới:

 

“Đời là quà tặng. Hãy biết ơn đời. Biết ơn người. Biết ơn, và nhớ đến người. Nhớ cả những người từng lên án mình. Và nhớ rằng, khi có tư tưởng yếm thế chợt đến khiến mình chán ngán chỉ muốn bỏ đi, thì hãy cứ tươi lên mà suy nghĩ. Suy và nghĩ, rằng dù vậy mình hạnh phúc/được ơn, vẫn đang sống. Nên, hãy sống vững vàng. Sống vui tươi như không gì xảy đến.”

Lời nhắn ở đây, mang máng một giòng chảy suy tư về truyền thông/đối thoại, trong đời. Về những nhắn nhủ của người thân yêu, trước khi ra đi, cũng có lời nhắn rất “truyền và thông”,

 

Như sau:


               “Anh yêu,

               Em cấm anh không được cho cái con mẹ T. đầu ngõ ấy đến nhà quàn, mà làm chi. Em ghét cái bản mặt dẻo quẹo của mẹ ấy lắm lắm. Không chịu nổi. Nó mà dẫn xác đến, là em sẽ phùng mang trợn mắt, rồi lè lưỡi ra là nó đứng tim ngay. Chết ngay tại chỗ không trối trăn cho mà xem. Lo cho đám tang của em xong, là anh phải bán nhà mà đi nơi khác, đó nhe. Đi, khỏi chòm xóm mình đang ở, nhé. Em không muốn anh tiếp tục sống cạnh bên nhà cái con mẹ B., kia nữa đó. Em thấy con mẹ này gian khủng khiếp lắm đấy. Mỗi lần nó thấy em đi ngang qua, là nó nhổ nước bọt/thọt nước miếng xuống đất. Rồi ngoăn ngoắt quay vào nhà trong. Còn, hễ thấy anh là nó cười ngỏn ngoẻn nhe đủ hết hàm răng cỏ trắng phau như ngựa vía ấy. Trong khi, em có làm tình làm tội, gì nó đâu mà sao nó lại xử với em như thế ?

Chỉ sau ba năm mà thôi, anh muốn lấy ai thì lấy, em không cấm. Nhưng tuyệt nhiên, anh không được lấy cái con mẹ N., con mẹ L., con mẹ C kia nữa. Dứt khoát, anh mà lấy một trong mấy cái con mẹ đó đó, thì chắc chắn em sẽ hiện hồn về, bóp cổ anh, ngay thôi. Em sẽ xé xác mấy mụ voi dầy/ngựa xéo ấy ra làm nhiều mảnh, chứ đừng có mà trêu ngươi em, đâu nhé. Quần áo của em, anh cứ đem cho hội từ thiện. Hoặc là Salvation Army hay Vincent de Paul, hay gì gì cũng được. Miễn là, em cấm anh không được để cho mấy cái con chằng ăn/trăn quấn ấy đụng tới là được rồi. Còn mấy đồ nữ trang của em, thì anh hãy đeo hết cho em, rồi mới chôn, nhe !

Ấy chết ! Cái hộp bích-qui em cất giữ trong ga-ra, để  phía dưới thùng  bột giặt, bọc bằng bao ny-lông, thì anh đem đi mà đốt sạch cho em. Cấm anh không được mở nó ra mà coi, đâu nhé. Anh mà không nghe em, đêm đêm em hiện về, em sẽ lấy dây điện xiết cổ anh, cho mà coi. Trong đó, chỉ có một đống hình chụp và mấy lá thư của mấy con bạn nạ dòng của anh thôi, chứ chẳng có gì đâu. Anh đừng thắc mắc, bận tâm. Anh cũng không cần phải xem mấy thứ đó mà làm gì. Chỉ là, những bức ảnh của mấy con quỷ ấy. Bọn chúng nó đều bị vẽ râu ria và chọc thủng mắt hết trơn rồi. Xem làm gì nữa. Cả cuốn sổ điện thoại mà anh cứ tưởng là bị lạc đâu mất, kiếm cả tháng không ra. Tất cả đều ở trong đó hết trơn. Hơn nữa, mấy con mẹ đó đâu còn giữ số điện thoại nữa, kiếm làm gì.

Bây giờ em ra đi, anh muốn làm gì với người nào em không quen không biết thì cũng chẳng can hệ gì. Nhưng, em cấm anh không được lạng quạng quay lại với mấy nhỏ kia. Cứ nghĩ tới bọn nó là em đã thấy lộn ruột rồi. Tụi nó, có đứa dám gọi em là sư tử Hà Đông, có láo toét không. Nó còn viết ngay trong thư gửi cho anh, vô phúc cho nó là em đã bắt chộp kịp. Chúng nó hỗn láo như thế, mà sao anh chịu được nhỉ.

Anh nhớ nghe lời em dặn: chủ nhật là phải đi nhà thờ. Xong rồi, ra mộ mà thăm em. Anh có đi, thì cũng chỉ đi một mình thôi, không được hẹn hò với đứa nào vào ngày ấy, đấy. Có đi chơi với ai, thì nhớ không được đeo bất cứ cà-vạt nào em mua cho anh. Cả, áo sơ mi, giầy dép, hoặc mấy áo lạnh, áo vét em chọn cho anh, hồi đó đó.

Em thiêng lắm đó. Nói cho anh biết để anh dè chừng. Đừng có mà chọc tức em cho em điên tiết lên, anh nghe chửa?

Ký tên

Người vợ chung-tình của anh, cả đời này lẫn đời sau.

Truyền thông là như thế. Truyền và thông, cả khi

chết. Hết còn sống. Cả đời này, hay đời sau. Truyền, bằng thư từ. Thông, bằng di chúc. Những là, khói hương ví vút, trọn tâm tình. Bằng, những lối mòn suy tư rất nhận định. Cả vào đời sau.

Tựu trung, lối mòn đường đời, bao giờ cũng có

những tương quan hệ trọng, mà người đời gọi đó là truyền thông/đối thoại. Hay, đả thông/truyền đạt. Nhất nhất, đều là những cái “có” trong đời. Có tương quan. Có truyền thông đối thoại. Với Chúa. Vấn đề còn lại, là: ta truyền và thông, là thông và truyền với Chúa đến thế nào? Đối thoại và cảm thông với bạn bè/người thân, ra sao?

Về với truyền thông, trong ca nhạc, người nghệ sĩ

chắc sẽ lại hát với ta lời cuối. Cho nhau:

 

“Còn ai mơ trên tay, khi hoàng hôn!

Vỗ giấc xuân muộn về, trên môi hồng.”

(Trường Sa – bđd)


Xem như thế, nghĩa là: Xuân có muộn về trên môi

hồng hay  môi trắng, ta vẫn có thể “vỗ giấc” trên tầm tay. Khi hoàng hôn. Hoàng hôn buổi xế bóng. Hay, hôn hoàng một cuộc đời. Duy có điều, là: sẽ không có hôn hoàng của niềm tin. Bởi, về niềm tin và yêu, các thánh từng quả quyết:

“dân thánh được chuẩn bị
để làm công việc phục vụ,
là xây dựng thân thể Đức Ki-tô,
cho đến khi
tất cả chúng ta đạt tới sự hiệp nhất
trong đức tin
và trong sự nhận biết Con Thiên Chúa,
tới tình trạng con người trưởng thành,
tới tầm vóc viên mãn của Đức Ki-tô.
(Ep 4: 13)

 

Và như thế, dân con mọi nơi/mọi thời sẽ chuẩn bị phục vụ, qua truyền thông/đối thoại, để ta đạt được cùng đích, tức: tin yêu, nhận biết Con Thiên Chúa. Và, khi nhận biết tiếp nhận niềm tin Con của Ngài rồi, tất cả sẽ tốt đẹp. Sẽ thông đạt trong trưởng thành. Có sự viên mãn của Đức Chúa. Đấng vẫn ở với và ở cùng ta. Và, mọi người. Trong Nước Trời.

 

Chính đó là mục tiêu. Là, cùng đích của truyền thông

/truyền đạt. Đối thoại. Trao đổi. Ở mọi thời.


Trần Ngọc Mười Hai

vẫn muốn truyền thông/thông đạt

với Chúa. Với mọi người.

 

 

 

 

 

 

12. “Tình vui, trong phút giây thôi”

Ý sầu nuôi suốt đời
Thì xin, giữ lấy niềm tin, dẫu mộng không đền.”

(Vũ Thành An/ Nguyễn Đình Toàn- Tình khúc thứ nhất)

 

(Giáo luật số 276)

            Tình khúc thứ nhất, có là nhạc bản phổ từ thơ chất chồng những tình vui, vẫn là một trong các “bài không tên”, mang nhiều số hiệu của nhạc sĩ Vũ Thành An và nhà thơ Nguyễn Đình Toàn. Toàn, những bài ca thân thương. Trìu mến. Vào độ trước. Nhạc sĩ họ Vũ ngoài luồng độ trước, nay đã là Phó tế, trong Đạo. Trong cộng đoàn nhà Đạo. Vẫn miên man viết nhạc Đạo. Cũng nhiều tình tự, vui  không kém.

            Tình tự thơ/nhạc của các nghệ sĩ Nguyễn và Vũ là tình vui, nhưng vẫn mang mác một nỗi buồn. Buồn một nỗi, không da diết lắm nhưng vẫn khiến người ca sĩ phải kêu lên:

 

            “Có biết đâu niềm vui,

đã nằm trong thiên tai;

            những cánh dơi lẻ loi,

mù, trong bóng đêm dài.”

(Vũ Thành An/ Nguyễn Đình Toàn – bđd)

 

            Đêm dài lẻ bóng, những cánh dơi. Và, niềm vui hàm ẩn một thiên tai. Mai ngày. Nhiều thương tiếc. Thương và tiếc, để rồi người viết xin cho “niềm tin (được) giữ lấy”, “dẫu mộng không đền”. Tiếc thương, nay là lập trường của các đấng bậc nhà Đạo. Thương tiếc, giòng đời đổi thay. Tiếc thương, phút vui “sum vầy”, rày rất hiếm. Hiếm, như ý từ của câu ca, bên dưới:    

 

            “Ngày thần tiên, em bước lên ngôi

            đã nghe son vàng tả tơi.

            Trầm mình, trong hương đốt hơi bay,

            mong tìm ra phút sum vầy.”

 (Vũ Thành An/ Nguyễn Đình Toàn – bđd)

 

            Tiếc, là tiếc cho ngôi cao nhà Đạo, nay tơi tả một đời. Đời linh mục. Đời của các đấng bậc, nay bay về nhiều nhận định làm nức lòng người nghe. Đầy dẫy những ưu tư, lo lắng. Lo cho tương lai của Giáo hội, nay thiếu linh mục. Lo, như lời lẽ trải dàn nơi bài viết, ở báo/đài. Khắp đó đây:

 

“Lm Darrell Venters ở giáo phận Owensboro, Kentucky đã bỏ nhiều thì giờ ra để tuyển mộ linh mục ngoại quốc, đến phục vụ tại thị trấn nhỏ, giáo phận mình. Bằng vào kinh nghiệm tư riêng trong quá khứ, ông lên tiếng phát biểu: “Nếu chúng tôi không tuyển dụng các linh mục từ nước ngoài đến Hoa Kỳ phục vụ, thì tương lai các chàng trai linh mục của chúng tôi, sẽ quá tải mà lãnh nhận trọng trách cùng lúc coi sóc những 5 giáo xứ. Không ít. Và thêm nữa, nếu một trong các vị trẻ ấy phải bỏ rời nhiệm sở; hoặc, bị Giáo hội can ngăn không cho thi hành sứ vụ mục tử. Hoặc tệ hơn, trường hợp các vị quá vãng/già bệnh, biết lấy ai mà thay thế.”

Từ 6 năm qua, nội giáo phận Owensboro này thôi, chúng tôi cũng đã hân hạnh đón tiếp 12 linh mục đến từ Châu Phi, Châu Á và Châu Mỹ la tinh, phục vụ phần ba đất miền vắng vẻ còn lại ở phía Tây. Nơi đây, đa số là người da trắng.

Vị quản hạt, nổi tiếng với sứ vụ “nhập” linh mục từ nước ngoài, cho biết: đây là phương cách tốt nhất để bù trừ tình trạng thiếu hụt linh mục tại Mỹ quốc. Phương cách đích đáng, hầu tái tạo Hội thánh Chúa, ở Hoa Kỳ.

Bằng những kinh nghiệm riêng tư có giới hạn, Lm Venters còn nhận định:‘Thường thì, giáo phận ta dễ làm việc với các linh mục đến từ nước ngoài, hơn là các vị xuất thân từ các địa phận ở quê nhà. Bởi, dù các linh mục “nhập cảng”, nếu có bê tha/cẩu thả hoặc gì đi nữa, mình chỉ cần nói câu: ‘Xin cảm ơn cha, ta hẹn ngày tái ngộ’, là xong. Cứ chấm dứt quyền thường trú, không cho họ ở lại lâu hơn, là thành công ngay thôi.” (Laurie Goodstein, A growing American diocese, short of priest, recruits overseas, International Herald tribune 29/12/2008 tr. 5)    

 

            “Nhập” linh mục từ nước ngoài, hay trao trọng trách coi thêm nhiều giáo xứ cho các linh mục chấp nhận ở lại với Hội thánh, vẫn là quyết định của đấng bậc có thẩm quyền. Không riêng gì Hoa Kỳ, Pháp quốc, hay Sydney. Ý kiến của các đấng bậc, thật đa dạng. Nhiều lý chứng. Rất hợp tình. Trong số ấy, cũng nên kể ra đây, ý kiến của Đức Hồng Y Carlo Maria Martini SJ, hôm trước. Rất như sau:

 

“Thiếu hụt linh mục, nếu chỉ thêm việc cho các linh mục đang có sẵn, tức: giao trọng trách coi thêm giáo xứ cho vị nào mới chỉ chăm lo duy nhất mỗi một giáo xứ; hoặc, nhập thêm linh mục từ nước ngoài vào, thật ra, cũng chẳng giải quyết được nhiều nhặn gì. Khi trước, Hội thánh ta cũng đã tính đến khả năng phong chức cho một số giáo dân, gọi là chức thánh để thử nghiệm (còn gọi là ‘viri probati’). Có một điều, là: Kinh thánh Tân Ước có đề cập đến vai trò của các ‘nữ phó tế’, vào thời trước…”

(Chú thích của Parco Politi: Đức Hồng Y Martini gợi nhớ cuộc nói chuyện với Tổng Giám Mục Canterbury là Gm George Carey, khi ngài nghe tin Giáo Hội Anh Giáo phong chức linh mục cho phụ nữ, ngài có nói với Tổng Giám Mục Carey, là: quý vị cứ can đảm lên, mà tiến bước. Ngài cũng tỏ bày niềm tri ân gửi đến Tổng giám Mục Anh giáo đã giúp đỡ Hội thánh Công giáo bằng những điều mà Giáo hội bạn vừa thực hiện. Giúp, là giúp ta biết định giá lại lập trường về công cuộc thừa tác mục vụ của phụ nữ. Và, ngài còn cảm tạ giáo hội bạn đã giúp nắm vững vấn đề, để ta tiếp tục mà tiến bước.” (Marco Politi, Tóm tắt buổi nói chuyện về đêm giữa Hồng Y Martini và Georg Sporschill, SJ, laRepubblica.it 19/5/2008)          

 

            Nói gì thì nói, nghệ sĩ họ Vũ cũng đã viết lên những lời lẽ bình dị, nhưng sâu sắc, như:

 

            “Dù trời đem cay đắng gieo thêm

            cũng xin đón chờ bình yên.

            Vì còn đây, câu nói yêu em

            Âm thầm, soi lối vui tìm đến.”

 (Vũ Thành An/ Nguyễn Đình Toàn – bđd)

 

            Chờ “Bình yên” cho nhà Đạo, hoặc “âm thầm soi lối vui, tìm đến”, là lời trấn an đi bước trước, của người nay-cùng-chung-một-Đạo, ta luôn tiến. Đặc biệt hơn, còn là lời nhắc nhở/gọi mời từ vị Chủ Chăn trên các chủ chăn, ở nơi cao chốn ấy, như sau:

 

“Trong năm thánh Linh mục, chúng ta mở rộng không gian nguyện cầu, Chầu Thánh Thể, để lắng nghe Lời Chúa. Để, tiếng của Ngài được nhiều người trẻ nghe biết đến, mà đón nhận…”   

Đức Giáo Hoàng không quên nhắc đến tình trạng khan hiếm linh mục ở một số nơi. Và, ngài mời gọi tín hữu đừng nản chí trước tình trạng thiếu hụt ấy. Trái laị, phải gia tăng môi trường lặng thinh, lĩnh nhận bí tích giải tội, để tiếng Chúa được nhiều người trẻ nghe biết và đáp ứng. Bởi, Chúa luôn tiếp tục kêu gọi và củng cố.” (x. Lm Trần Đức Anh O.P. VietCatholic News 02/7/2009)  

 

            Với đấng bậc có trọng trách đào tạo/tuyển mộ linh mục đến từ nước ngoài, thì lại khác. Chẳng hạn như ý kiến của Lm Dennis Holly, thuộc Hội Thừa Sai Glenmary, Kentucky Hoa Kỳ, sau đây:

Quả là, ta đang có vấn đề thiếu linh mục. Thế nhưng, thay vì ngồi đó hỏi hoài hỏi mãi lý do tại sao lại như thế, chúng tôi đành quyết định “nhập” một số linh mục ngoại quốc về đây để sinh hoạt. Coi như, thực tế không có vấn đề gì xảy ra, cho đến khi ta trực diện giải quyết các vấn đề: linh mục độc thân, phụ nữ làm linh mục, vv.. nếu không, cũng chẳng giải quyết vấn đề ơn gọi linh mục.” (x.Laurie Goodstein, bđd)

 

            Và tác giả bài báo, kết thúc bằng lời lẽ khá thực tiễn:

 

“Tất cả vấn đề nêu trên, đều cần thiết. Rất có lý. Nhưng, trong khi chờ đợi có được giải pháp về lâu về dài, hẳn quý vị cũng như chúng tôi, ta vẫn phải tính chuyện đáp ứng nhu cầu của bà con trong Đạo, chứ!” (Laurie Goodstein, bđd)

 

            Nói gì đi nữa, vấn đề con số linh mục còn thiếu hụt, không đáng ta lưu tâm bằng đạo đức/chức năng và vai trò/trọng trách của các vị mục tử, ngày hôm nay. Về chuyện này, vẫn vang vọng nhiều ý kiến. Một trong những ý kiến rõ nhất, là thắc mắc của bạn đạo, trên The Catholic Weekly, Sydney hôm 05/07/2009, như sau:

 

“Tôi thường nghe nhiều linh mục ở đây vẫn nói: khi đi nghỉ, các ngài không buộc phải làm lễ, chỉ cần cùng cộng đoàn tham dự thánh lễ, thế là đủ. Vào ngày nghỉ trong tuần, có vị còn chẳng buồn cử hành thánh lễ tại giáo xứ mình, nữa là. Vậy, câu hỏi của tôi hôm nay, chỉ thế này: là linh mục, hẳn là các vị đều phải cử hành thánh lễ mỗi ngày, như thế mới đúng, chứ. Bởi, đó là đạo đức/chức năng của chính mình. Xin cha giải thích thêm cho biết những điều vừa kể, để tránh tư duy thiếu bác ái, với các ngài.”

 

            Câu hỏi mà người bạn nào đó đặt ra, là cho người Sydney. Chuyển đến đấng bậc vị vọng ở đây, thật đúng cách. Thế nên, đức thày John Flader của Sydney lại được vời đến, ngõ hầu ta có được một giải đáp, thật chính xác:

 

“Ngay từ đầu, các linh mục được khích lệ nên cử hành thánh lễ mỗi ngày. Nhưng, có luật nào gắt đến độ bắt các ngài phải làm việc ấy, mỗi ngày và mọi ngày, đâu! Luật Hội thánh, chương đặc biệt buộc hàng giáo sĩ ta phải tạo cho cuộc sống của mình được thánh thiện. Trong luật, có viết: “Các ngài phải nuôi dưỡng đời sống tâm linh của mình, thật sốt sắng. Nuôi, bằng Kinh thánh. Dưỡng, bằng Tiệc Thánh Thể. Các linh mục, ngay từ thời mới thành lập chức vụ này, đều được kêu mời hy sinh làm lễ mỗi ngày. Và, các phó tế cũng như trợ phó tế, cũng nên hợp tác dâng lễ, hằng ngày với linh mục.”(Giáo luật số 276, điều #2, câu 2)      

Lời khích lệ này, đối chọi với luật buộc các linh mục phải cầu nguyện bằng các Phụng Vụ Giờ Kinh, còn gọi là Kinh Nhật Tụng đọc hằng ngày, phù hợp với sách lễ của các vị, đã được phép.” (Giáo luật chương 276 #2, 3)

Lý do tại sao các linh mục được yêu cầu cầu nguyện theo Phụng Vụ Giờ Kinh, mà không phải làm lễ, khi thánh lễ xem ra đã trở thành việc quan trọng? Để trả lời, có lẽ lý do chính đáng nằm trong khác biệt này, có bản chất thực tiễn. Muốn làm lễ, vị linh mục cần nhiều thứ, như: bánh và rượu, chén thánh, chai đựng rượu/nước, áo lễ, dây khăn thánh, sách lễ, giá sách, lễ phục, vv.

Có nhiều khi, các thứ ấy không có sẵn. Đặc biệt, là khi vị linh mục trên đường di chuyển đi đây đó, lại không có nguyện đường Công giáo trong khu vực mình đến. Chính vì lý do này, mà Hội thánh đã miễn chước không đòi hỏi linh mục phải đến miền nào xa xôi khó kiếm để dâng lễ.

Trong khi đó, để có thể cầu nguyện theo Phụng Vụ Giờ Kinh, linh mục chỉ cần đem theo cuốn Kinh Nhật Tụng, là đủ. Sách này được coi như “cẩm nang” cho linh mục, ai cũng có. Điều này, không hề làm mất đi tính chất quan trọng rất lớn lao của Thánh lễ, nơi đời sống của linh mục, và Hội thánh.

Một chương-đoạn khác trong Giáo luật, cũng có viết: Hãy luôn nhớ rằng, nơi nhiệm tích Hy sinh của Tiệc Thánh Thể, công cuộc cứu rỗi vẫn còn đang tiếp diễn. Vì thế, linh mục phải thường xuyên dâng lễ. Thật thế, khi xưa, Hội thánh vẫn khuyến khích các linh mục nên dâng lễ hằng ngày. Bởi lẽ, dù có hay không có giáo dân tham dự, đây là hoạt động của Đức Kitô và Hội thánh, qua đó vị linh mục được uỷ thác thực hiện vai trò chính yếu của mình.” (Giáo luật số 904)

Công Đồng Chung Vatican II cũng nói về Tiệc Thánh Thể như “nguồn cội và chóp đỉnh của đời sống Kitô hữu.” (Hiến Chế Ánh Sáng Muôn Dân, 11). Và, Thánh Công Đồng cũng còn viết: “nhiệm tích Hy Sinh của Tiệc Thánh Thể là ‘trọng tâm và nguồn cội’ của toàn bộ đời sống linh mục. Thế nên, các linh mục phải cố gắng sống cuộc đời mình một cách trọn vẹn , như tất những gì được diễn bày nơi bàn tiệc thánh hy sinh.” (Tông Huấn Presbytorum Ordinis, 14)

Chính vì thế, mà phần lớn các linh mục ngày nay vẫn coi việc cử hành thánh lễ như sinh hoạt quan trọng, trong công việc hằng ngày. Đức Giáo Hoàng Gio-an Phaolô Đệ Nhị, có viết trong cuốn “Quà Tặng và Nhiệm Tích”, rằng: “Chức linh mục, trong thực tại đậm sâu của nó, là thiên chức của Đức Kitô.” (x.John Flader, The Catholic Weekly, 05/7/2009, tr.10)

 

            Nếu dùng lời lẽ của người thường ở đời, thì chắc bạn và tôi, ta sẽ lại dùng ca từ của nghệ sĩ ở trên mà hát:

 

            “Thần tiên gẫy cánh đêm xuân,

            bước lạc sa xuống trần

            thành tình nhân đứng giữa trời không

            khóc mộng thiên đường…”

 (Vũ Thành An/ Nguyễn Đình Toàn – bđd)

 

            Cũng chả chắc gì, Hội thánh hôm nay đang ngồi khóc khi thấy nhiều “thần tiên đang gẫy cánh” giữa đêm xuân lồng lộng, nhiều ân sủng. Nhưng, “mộng thiên đường” vẫn còn đó, chờ đợi tình nhân của Đức Chúa đứng giữa trời không, mà khóc lóc.

            Nói cho cùng, Hội thánh hôm nay có khóc lóc hay vẫn cười trước tình thế người người có “giữ lấy niềm tin” hay không, dẫu cho “mộng thiên đường” vẫn “không đền”. Chả ai chắc. Có điều chắc, là thời hôm nay có quá nhiều vấn đề vẫn chờ Hội thánh giải quyết. Chờ mọi người. Và chắc chắn một điều, là Thần Khí Chúa vẫn ở bên ta. Bên Hội thánh. Ở trần gian.

 

            Dù gì đi nữa, hãy nói như nhà mô phạm ở đâu đó, trong trường lớp. Xã hội. Giáo hội. Có những lời bàn, rất thân, như sau:

“Có lẽ phải nghĩ đến chuyện “hãy ngưng thôi, đừng làm cuộc đời mình thêm rắc rối.

            Bởi, đời người rất vắn vỏi.

            Hãy phá lệ,

            Thứ tha nhanh

            Yêu thật tình, ôm hôn hoà bình thật đúng cách

            Và, cứ cười nhiều, không dứt.

            Nhất là, đừng bao giờ tắt ngúm nụ cười mỉm

            Dù cuộc sống có xa lạ, nhiều trắc trở.

Vì, đời người đâu phải lúc nào cũng vui như ngày Tết,

            Nhưng bao lâu ta còn có mặt trên đời này

            Hãy cứ mỉm cười và vui sống.”

 

            Và lời cuối, ta cùng người nghệ sĩ, hãy hát thêm câu:      

      

            “Ngày về quê xa lắc lê thê

            trót nghe theo lời u mê

            Làm tình yêu nuôi cánh bay đi

            Nhưng còn dăm phút vui trần thế.”

 (Vũ Thành An/ Nguyễn Đình Toàn – bđd)

 

            Phút vui trần thế, vẫn còn đó nỗi buồn. Phút vui thiên đường, đâu chỉ ngắn thế. Bởi thế, cứ vui lên mà hy vọng. Cứ hy vọng để sống vui. Sống hùng. Sống hạnh phúc.

 

            Trần Ngọc Mười Hai

            Vẫn nhắc nhở chính mình

            Những lời như thế.

 

 

 

 

 

13. “Ngọc Lan, giòng suối tơ vương”

mắt thu hồ dịu ánh vàng.

(Dương thiệu Tước – Ngọc Lan)

 

(Mc 9: 35)

            Nếu ta gọi, các đấng bậc ở trên cao, bằng tên hoa Ngọc Lan, như thế có quá quắt chăng? Bởi, Ngọc Lan là loài hoa thơm ngát. Suối tơ vương. Mắt hồ thu. Ánh dịu vàng. Trong khi đó, đấng bậc Đạo mình cứ lạnh lùng sương gió, dù có mặc áo tím áo đỏ, khí thế. Hào hùng. Oai nghi.

            Gọi gì đi nữa, Ngọc Lan hay tím/đỏ đấng rất hiền, ta cứ hát:

                       

“Ngọc Lan, nhành liễu nghiêng nghiêng

tà mấy cánh phong, nắng thơm ngoài song.”  

(Dương thiệu Tước – Ngọc Lan)

 

            Ca từ, của người nghệ sĩ thế kỷ trước, xem ra cũng thướt tha. Dịu huyền. Dù, chỉ để hình dung nhân vật trọng yếu. Yêu thương. Cảm mến. Cũng và mến, như người nghệ sĩ hôm nay ở “Quán Nhạc Thiện Bản” đã trình bày có hơi khác. Khác, ca từ. Khác, phối khí. Khác, cả nhịp điệu. Nhưng tựu trung, cũng nói về đấng bậc hoặc phó thường dân nào đó, rất quyết tâm. Theo Ngài. Đến cùng:

 

            “Chúa đã có rất nhiều người yêu mến Ngài

Chúa đã có rất nhiều người theo Ngài xin hạnh phúc.

Nhưng Chúa được có mấy người đem Lời Ngài tới muôn dân?

Nhưng Chúa được có mấy người chia tình Ngài với tha nhân?”

(Bosco Thiện Bản- Chúa Đã Có Rất Nhiều Người)

 

            Chỉ mới nghe, hẳn bạn và tôi, ta thấy: Ngọc Lan thơm ngát. Có, “nhành liễu nghiêng nghiêng”, cũng phần nào giông giống người công chính san sẻ tình Ngài với tha nhân. “Người thế đó”, khoác áo “chiến y”/“long bào”, mầu tím/đỏ, trắng đen, thì làm sao ta theo kịp. Được theo Ngài về muôn lối. Tới muôn dân. Vậy thì, mời bạn mời tôi, ta nghe tiếp:

 

            “Chúa đã có rất nhiều người khen chúc Ngài,

Chúa đã có rất nhiều người theo Ngài lúc hạnh phúc

Nhưng Chúa được có mấy người tiếp nhận Ngài lúc bỏ rơi?

Nhưng Chúa được có mấy người giúp đỡ Ngài lúc tả tơi?”

(Bosco Thiện Bản-bđd)

 

            Tả tơi. Bỏ rơi, quả là, tình huống rất bình thường. Tình huống, người trong cuộc nhà Đạo, vẫn được nghe Lời Vàng, như hôm trước:

 

            “Ai muốn làm người đứng đầu,

thì phải làm người rốt hết,

và làm người phục vụ mọi người."

(Mc 9: 35)

 

            Và, “người thế đó”, phải thế này:

 

"Ai tiếp đón một em nhỏ như em này vì danh Thầy,

là tiếp đón chính Thầy;

và ai tiếp đón Thầy,

thì không phải là tiếp đón Thầy, nhưng là tiếp đón Đấng đã sai Thầy."

(Mc 9: 36)

                 

            Đứng đầu. Kẻ rốt hết. Làm lớn. Người phục vụ. Ôi chao, là lời lẽ nghe quen quen, mọi buổi! Và tự hỏi, đã mấy người thấy quen quen, trên thực tế? Nếu chưa, có lẽ xin thêm một lần, hãy lắng nghe lời người trẻ vừa viết nhạc. Hôm nay. Những lời này:

 

            “Con đây, tuy hèn mọn muốn yếu hèn

            Con muốn trở thành cụ khí của Ngài.

            Xin cho con trở thành đôi tay của Ngài

            Xin cho con trở thành tiếng nói của Ngài

            Xin cho con trở thành tình yêu của Ngài

            Xin cho con trở thành bình an của Ngài.”

(Bosco Thiện Bản – bđd)

 

            Trở thành khí cụ. Đôi tay. Tiếng nói và bình an. Và gì nữa? Thế đó, là tiếng/giọng quen quen ta vẫn thấy? Ở đời thường? Vẫn gặp, và cứ nghe “đôi điều”, còn phải hỏi. Như lời hỏi, của dân thường huyện Sydney ghi ở dưới:

 

“Tôi không quen lắm với những cụm từ hoặc danh xưng trong Đạo. Xin cho biết tước hiệu “Hồng y” có nghĩa gì? Có khác chăng, là những gì nghe được qua danh xưng khác như Giám mục, Tổng Giám mục? Xin dạy cho biết, giáo hội Công giáo Tin Lành/Anh giáo đã có tước hiệu và danh xưng này từ bao lâu? Xin được cảm kích biết ơn, nếu ngài dành một giải đáp.

 

            Và đây là giải đáp. Ngay tức thì. Chẳng cần bạn có là người hỏi đã biết ơn, hay cảm kích. Vì, giải đáp cho một hay nhiều thắc mắc về danh xưng hay xưng danh, nhân vật nào, vẫn là “nghề của chàng”. Chàng trai ở huyện nhà Đạo, gọi là “đức thày” John Flader miệt ” Sydney, sau đây:

 

“Nói chung, và chỉ nói chung thôi, các vị Hồng y thường là Linh mục hoặc Giám mục, vai vế đứng thứ hai sau Đức Giáo Hoàng. Các ngài có vai trò phụ giúp Đức Giáo Hoàng trong việc quản cai Hội Thánh Chúa, khắp hoàn cầu. Các ngài có vai trò quan trọng khác trong việc bầu chọn Giáo Hoàng mới, khi đức đương kim Giáo Hoàng thoạt băng hà.

Dù các ngài không thuộc thành phần hiến pháp thánh thiêng của Giáo hội do Chúa lập, thì nguồn gốc của chức tước này đã có từ Hội thánh thời tiên khởi.

Từ thế kỷ đầu, Đức Giáo Hoàng Clêtô, hoặc Anaclêtô (76-88 sau công nguyên), tuân theo chỉ thị của thánh Phêrô, đã tấn phong cho 25 linh mục phụ giúp ngài ở khu vực Rôma, trong công tác mục vụ của giáo phận.

Thế kỷ sau đó, các ngài được bổ nhiệm vào chức vụ gọi là “tước hiệu của Giáo hội” được thiết lập theo danh tánh của các thánh. Và, các ngài có bổn phận giúp đỡ Đức Giáo Hoàng phụ trách phụng vụ tại Vương cung Thánh đường chính là thánh đường Gioan Latêrô, tức Nhà thờ chánh toà của Đức Giáo Hoàng, thánh Phêrô, Phaolô, Đức Bà Cả và nhà thờ thánh Laurenxô.

Cộng với các linh mục, có bẩy giám mục thuộc các giáo phận quanh Rôma, được coi là giáo phận vùng phụ cận, để giúp Đức Giáo Hoàng đặc trách phụng vụ tại Thánh Đường Latêrô cũng như giúp ý kiến về nhiều vấn đề khác.

Trong các văn kiện chính thức của toà thánh, lần đầu tiên tước hiệu “Hồng y” được nói đến là vào thế kỷ thứ 8, trong Liber Pontificalis (tức Chiếu Chỉ Giáo Hoàng) dưới triều Đức Stêphanô III (768-772). Theo tài liệu này, các giám mục thuộc giáo phận phụ cận được gọi là Hồng y Giám mục.

Vào cùng thời, Thượng Hội Đồng Rôma năm 769 quyết định là Đức Giáo Hoàng ở Lamã phải do các Phó tế và Linh mục hồng y có chức tước của Giáo hội bầu ra. Các Phó tế chính của Rôma lúc ấy được coi là Phó tế hồng y.

Bởi thế nên, ngay từ đầu, các Hồng y tập trung sống ở Rôma và công tác chính của các ngài là phụ giúp Đức Giáo Hoàng trong công việc có liên quan đến giáo phận Rôma. Mãi về sau, các ngài mới phụ Đức Giáo Hoàng trong những việc của Giáo hội khắp hoàn vũ. 

Năm 1059, Đức Nicôla II ra chỉ thị quyết rằng chỉ mỗi các Giám mục hồng y mới có quyền bầu Giáo Hoàng, thôi.

Hồng Y Đoàn theo cung cách hiện tại, cùng các Giám mục hồng y, Linh mục mục hồng y và Phó tế hồng y do Đức Eugiênô III (1145-53), cùng Đức Giám Mục trưởng tràng của Ostia thành lập. Các Hồng y lúc ấy, được yêu cầu nên sống ở Rôma.

Từ thế kỷ 12 mãi về sau, các Hồng y mới được phép sống ở giáo phận riêng của mỗi vị. Và từ đó, các ngài được trao tước hiệu mục tử Giáo hội LaMã. Thói quen này được giữ mãi, đến ngày nay.

Ngày hôm nay, các Hồng y được đích danh bổ nhiệm khắp nơi trên hoàn vũ, là do Đức Giáo Hoàng đề bạt. Các ngài “phải trổi trang về tín lý, lòng đạo đức, sốt mến, có đức khôn ngoan” trong các vấn đề về thực tế. Vị nào chưa có chức Giám mục đều được Đức Giáo Hoàng phong cho chức thánh ấy.” (Giáo luật #351, @1)

Các Hồng Y lập thành Hồng y Đoàn, có vai trò trọng yếu là bầu Giáo Hoàng, ở Rôma. Các ngài phụ Đức Giáo Hoàng trong việc quản cai giáo hội hoàn vũ, qua tư cách tập thể của Hồng Y Đoàn. Khi các ngài được triệu tập theo điều gọi là Mật Hội Hồng Y để đảm trách các vấn đề có tầm quan trọng hàng đầu, hoặc vấn đề cá nhân thuộc quyền của các ngài (x. Giáo luật #349)

Qua vai trò vừa kể, nhiều hồng y được đề bạt làm thành viên nhiều Thánh bộ, Hội đồng Toà thánh, và Uỷ ban khác nhau, thuộc giáo triều LaMã.

Theo truyền thống, các hồng y được bổ nhiệm từ phẩm trật phó tế, linh mục hoặc giám mục. Các vị được đề cử làm việc trong giáo triều LaMã, theo phẩm trật phó tế, linh mục có chức năng toàn cầu. Các Hồng y có chức Giám mục, đều được Đức Giáo Hoàng tấn phong tước hiệu và trách vụ làm việc tại sáu giáo phận, miền phụ cận. Các vị Thượng phụ thuộc Giáo hội Đông phương cũng được nâng lên hàng Hồng y. Chủ tịch Hồng Y Đoàn còn có thêm tước hiệu riêng vị Chủ Quản Giáo phận Ostia. 

Hồng y nào là Giám mục giáo phận đều không có quyền nào khác đặc biệt hơn các giám mục địa phận. Các ngài có quyền chủ toạ khi các giám mục được mời đến dự hội nghị.

Một số các giám mục tại các nước có số giáo dân khá đông, theo truyền thống, sẽ được Đức Giáo Hoàng tấn phong làm Hồng y. Tỉ như, Đức Tổng Giám Mục Sydney, Wellington, Sàigòn, vv.

 

Tóm lại, “Chúa được có rất nhiều người”, Ngài có cả những nhân vật nổi danh, lanh chanh như truyện kể, của một vị quên đề tên, ở dưới. Như sau:

 

“Chuyện người hoạ sĩ vẽ bức tranh nổi tiếng hoàn cầu “Tiệc Ly”, có giai thoại rất ly kỳ:

Leonardo da Vinci tìm người mẫu để vẽ bức tranh này, rất công phu. Trong số hàng ngàn người, ông chỉ kiếm được có mỗi thanh niên 19 tuổi. Anh có gương mặt lành thánh, thanh trong, nên hoạ sĩ Da Vinci dùng anh để vẽ diện mạo Đức Giêsu. Ông làm việc suốt 6 tháng trời. Không mệt mỏi. Sau đó, ông lần lượt vẽ xong 11 tông đồ khác, không mấy khó khăn. Duy có Giuđa là kẻ bán Chúa, phải có khuôn mặt đạo đức, nhưng tráo trở, lừa lọc. Thật rất khó.

Một hôm ông được giới thiệu một người có đủ đức tính và nét vẻ, khả dĩ đáp ứng đưọc yêu cầu mà ông tìm kiếm bấy lâu. Ngặt một nỗi, người ấy là tay tội phạm tày trời, đang bị giam giữ trong tù, ở Rôma. Sau nhiều ngày ngoại giao khôn khéo, ông được phép cho gọi người ấy đến để hoàn tất bức tranh.

Ngày ngày, tay tội phạm ngồi đó trước mặt hoạ sĩ đại tài, cho ông vẽ. Thâm trầm. Bình tĩnh. Cho đến lúc, Leonardo Da Vinci mệt mỏi, nản lòng vì phải chứng kiến diện mạo hung ác trong quá trình dài dằng dặc bèn, cho anh về. Không vẽ nữa. Tay tội phạm, thấy thế bèn quỳ xuống dưới chân ông, mà xin:

-Thưa ngài Da Vinci, xin ngài tiếp tục vẽ như thế để con được ở đây lâu hơn, như lần trước. Ngài không nhận ra con sao?

-Quả thật tôi chưa từng vẽ cho ai có khuôn mặt xấu xa/hung bạo như anh. Anh là ai?

-Thưa, xin ngài nhìn cho kỹ. Con là người mà bảy năm trước, ngài chọn làm mẫu để vẽ dung mạo Đức Giêsu đó…”

 

            Và lời bàn của người kể hay người dịch, nay thêm: “Chàng trai từng được chọn làm người mẫu để vẽ dung mạo Đức Giêsu, chỉ sau có hơn 2000 ngày, nay biến thành hình tượng của kẻ bội phản, gớm ghê nhất trong lịch sử. Tương lai con người, không ai định trước được. Chính ta là người quyết định cho số phận của mình.”

            Nói cho cùng, ai được người viết nhạc kể trên gọi là “đấng bậc” hay “nhân vật”, nhân sĩ bậc vị vọng rất cao trọng hoặc chỉ là phó thường dân mà Chúa “đã có” và “được có”, cũng chỉ là những cánh tay nối dài, trên “con đường” rong ruổi. Truyền Đạo. Truyền, tinh thần sống Đạo rất âm thầm. Trầm tĩnh. An vui.

 

            Lời cuối hôm nay, là lời cầu mong Chúa vẫn còn có những “nhân vật” rất hy sinh. Hiền hoà. Mê say. Và quyết tâm, như thế. Với chuyện chung. Chuyện, là chuyện của tôi. Của bạn. Của nhiều người. Ở huyện dân gian. Cõi đời này.

 

 

            Trần Ngọc Mười Hai

            cũng cầu và mong

            nói được những lời như thế

            với chính tôi.

            Với bạn hiền.

 

 

 


14. “Ngày đó có ta, mơ ân tình dài”

buồn thắm nét môi, duyên chưa thành lời
một thoáng mơ rồi,
người về khôn nguôi!
người về khôn nguôi!...

(Thanh Trang – Duyên Thề)

 

(Kh 7: 9)

            Nếu bảo rằng, “ngày đó có ta”, thì “mơ ân tình” của người nghèo cũng dài thêm. Rất nhiều. Quả thật, đây cũng là câu nói không đến nỗi quá đáng. Bởi, mơ ân tình của sơ/của Mẹ Têrêxa thành Calcutta được người người cho là rất dài. Quảng đại. Lại rất lớn lao. Cần lưu ý.  

            Trong đời người, có những sự kiện tưởng như đơn giản, nhưng đã làm nhiều người phấn khởi. Cộng thêm vào việc làm “cần lưu ý”, là những hành xử và lời nói của vị nữ tu mọn hèn ở Calcutta, đã làm “trời đất nổi cơn ghen tức”, những bứt rứt. Bằng vào việc làm đơn lẻ, nhẹ nhàng, Mẹ Têrêxa đã thuyết phục mọi người. Bằng câu truyện nhỏ, kể như sau:

 

“Đêm nọ, ở Calcutta, chúng tôi bảo nhau ra đường để lượm lặt những hình hài gầy guộc, mà người ta bỏ rơi bên hè phố. Hôm ấy, tôi gặp một phụ nữ đang trong tình trạng nguy cập, sắp chết rồi. Tôi nói với các nữ tu cùng đi, hãy để tôi chăm sóc cho bà ấy, cho hết tình đồng loại. Khi đặt nằm, bà đã nắm chặt lấy tay tôi, mở một nụ cười rất tươi mà tôi chưa bao giờ được thấy trên khuôn mặt của ai khác. Nụ cười tinh tế. Nhẹ nhàng. Vời vợi. Cười với tôi, bà cất lên lời thì thào chỉ một tiếng “cảm ơn.” Xong đâu đó, bà trút hơi thở cuối cùng, bên tay tôi.”(Labastida, One Heart Full Of Love, Servant Books Michigan)

 

Truyện kể, về công việc của các nữ tu hèn mọn, như Mẹ Têrêxa Calcutta, ta nghe rất nhiều. Truyện nào cũng nhẹ. Cũng có khuyên răn. Kể lể. Nhưng, vẫn thu hút người nghe. Rất nhiều. Như:

“Ta hãy cho đi. Hãy ban phát tình yêu, mình đã lãnh nhận rồi cho mọi người xung quanh. Hãy cứ cho đi. Cho mãi, để việc cho đi như thế sẽ trở thành động tác hy sinh. Cho, là vì tình yêu đích thực luôn đòi hỏi chúng ta, ra như thế.” (Labastida, sđd)

 

            Và, thêm một truyện khác, để minh xác điều mà Mẹ Têrêxa Calcutta muốn khích lệ mọi người:

 

“Ngày nọ, có cậu bé chừng 4 tuổi, ở Ấn Độ. Cậu cùng với bố mẹ đến đem cho tôi một tách uống nước gồm toàn đường cát trắng. Cậu đưa tách cho tôi, rồi nói: ‘Em nhịn miệng số đường này, đã 3 ngày. Xin Bà hãy lấy phần đường của em, mà mang cho các em nhỏ của Bà, đang thiếu thốn.” (Labastida, sđd)

 

            Những truyện kể nhè nhẹ như thế, vẫn phản ánh được điều mà nghệ sĩ ở trên, đã từng viết:

 

            “Một vì sao sáng, trong đêm lặng lẽ

            nhạc buồn sao vắng mênh mông trần thế

            ánh mắt sáng ngời, lòng trời u tối

            không gian xa vời…”

(Thanh Trang – bđd)

 

            Không gian và thời gian của những người tất bạt/bần hàn, chừng như vẫn còn rời xa/xa vời, ghê gớm lắm. Hoạ chăng, cũng “năm thì mười hoạ” chỉ mới được có cậu bé nhỏ, lo nhớ đến. Nhớ đến, để rồi nhịn miệng cho đi, chỉ một tách chén ngọt ngào những đường phèn. Vị ngọt của đường, vẫn là sự ngọt ngào thân thương đem đến cho bạn nghèo, những buồn xa vắng. Mênh mông. Trần thế. Bởi thế nên, mới có giòng nhạc chân tình, rày vẫn gửi:

            “Tìm đến với nhau, cho quên hận sầu

            Ngày đó lứa đôi, vui duyên tình đầu

mộng ước tan rồi, để buồn mai sau…

để buồn mai sau!”

 (Thanh Trang – bđd)

 

            Buồn mai sau. Hay, buồn dài dài hôm nay, chốn mai ngày, vẫn là nỗi buồn không tên. Không tuổi. Rất lai láng. Lai và láng, trong/ngoài nhà Đạo, rất Hội thánh. Lai và láng, vẫn như ước nguyện của đấng bậc lành thánh, từng kêu lên:

 

“Xin quý vị và các bạn hãy nguyện cầu cho chúng tôi, để chúng tôi không làm hỏng việc của Thiên Chúa giao. Để, chúng tôi sẽ cùng với quý vị và các bạn, cứ tiến thẳng về phía trước, cho công cuộc này. Bởi, Thiên Chúa vẫn giao cho tôi -cho quý vị, và các bạn-  cũng một việc như thế. Bởi thế nên, xin tất cả mọi người, hãy cùng với chúng tôi, ta cùng nhau làm một cái gì đó, cho Thiên Chúa.” (Labastida, sđd)

 

            Trích dẫn mẫu truyện nho nhỏ trên đây, là để muốn nói với bạn và với tôi, rằng: thế gian này, ngày hôm nay, vẫn có những “vì sao sáng” le lói trong đêm lạnh giá, đời nghèo/buồn. Một đời, cần đến tình thương. Cần đến, những vì sao sáng. Rất thánh. Như đấng-bậc-lành-thánh, rất Têrêxa, ở Calcutta. Bên ta.

            Trích và dẫn, để còn được hỏi. Hỏi rằng, đấng bậc rất lành và thánh ấy, có còn nhiều? Các đấng bậc tốt lành, được phong thánh, từ hồi nào? Ra sao? Kể, để học hỏi, như thắc mắc của độc giả nọ không biết có lành và thánh không, nhưng cứ hỏi. Hỏi, và được trả lời cũng nhè nhẹ, như sau:

“Tôi vẫn biết vào lễ “Tất cả các thánh” ta vẫn có thói quen cử hành mừng kính tất cả mọi đấng, ở trên trời. Nhưng, có thể nào, xin kể cho chúng tôi nghe, đôi điều, về lịch sử của ngày lễ? Lễ như thế, được mừng được kính lâu mau? Hồi nào? Xin cho biết. Rất biết ơn.”

 

            Hôm nay, câu hỏi này, lại được gửi đến đấng bậc hiền lành, của Hội thánh Sydney, là đấng bậc vị vọng rất John Flader, của tờ The Catholic Weekly, có câu trả lời rất nhanh và gọn, như sau:

“Lễ Các Thánh, có bề dày lịch sử, rất sâu. Dày và sâu, nên đã hớp hồn lòng người từng chiêm ngắm, khi về với Giáo Hội, thời tiên khởi.

 

Theo phụng vụ, vị thánh đầu tiên được Giáo hội mừng kính, là các vị tử đạo. Trong đó, phải kể đến các thánh Tông đồ, tử vì Đạo. Thế kỷ đầu, ta thấy Giáo Hội mừng kính ngày giỗ các thánh tử đạo tại chính nơi các vị, bị tuẫn tiết. Thế nhưng, bốn thế kỷ sau, giáo phận khác cũng san sẻ niềm vinh danh tôn kính hài cốt các vị tử đạo cùng với giáo phận khác. Và việc mừng được tổ chức chung một ngày ta mừng kính các vị tử đạo.     

Dù không có hài cốt của các vị tử đạo khi mừng kính, các giám mục địa phận hồi đó cũng đã cho phép mừng lễ thánh tử đạo nào đó, tại giáo phận riêng của các ngài.

Thời bách hại, dưới chế độ hà khắc của Hoàng đế Điôclêtô hồi đầu thế kỷ thứ Tư, con số các vị tử đạo lên quá cao, nên không thể mừng mỗi vị riêng từng ngày được, Giáo hội đành thiết lập ngày lễ chung cho thánh tử đạo nào không có ngày mừng riêng.

Ở Antiôka, lễ này được mừng kính vào Chúa Nhật ngay sau lễ Hiện Xuống, tức sau lễ Ngũ Tuần. Cuối thế kỷ thứ Tư, thánh Êphrêm và thánh Gioan Krizốttômô cũng nhắc đến lễ kính này. Ở phương Tây, hồi thế kỷ thứ V, thánh Maximus thành Turinô cũng đã vinh danh các thánh tử đạo vào ngày Chúa Nhật sau lễ Hiện Xuống.

Lúc đầu, chỉ các thánh tử đạo và thánh Gioan Tẩy Giả, là những vị được minh chứng lòng đạo rất thánh, mới được mừng kính vào những ngày lễ riêng biệt, như thế. Nhưng về sau, các thánh khác cũng dần dà được thêm tên vào danh sách của các thánh. Đặc biệt, là các vị thánh hiển tu thuộc Giáo hội Đông phương lẫn Tây phương, được mừng kính. Từ đó, danh xưng “hiển thánh” được đặt ra để gọi bất cứ vị thánh nào không là tử đạo, theo nghĩa rộng.

Với Giáo hội Đông phương, các thánh tiên khởi được công chúng mừng kính và liệt vào bậc “hiển thánh” sau thời kỳ Giáo hội bị bách hại, có thánh Antôn (chết vào năm 356), thánh Hilariô (chết năm 371), thánh Athanasiô (chết năm 373).

Ở phương Tây, các vị hiển thánh tiên khởi gồm có thánh Sylvétơ (chết năm 355), thánh Matinô thành Tua (năm 397), thánh Sêvêrô (năm 397), thánh Âu-tinh (năm 430) và thánh Apôlinariô (thế kỷ thứ V). Cũng từ đó, con số các thánh hiển tu tăng nhanh đến năm 411 đến độ Giáo hội đã mừng kính toàn thể các thánh chung vào một ngày theo lịch phụng vụ Cađê, là ngày Thứ Sáu sau Phục Sinh.

Lần đầu tiên phụng vụ đề cập đến việc mừng kính các thánh hiển tu vào ngày 1 tháng 11 dường như được công bố vào thời Đức Grêgôriô III (731-741). Vào năm 732, Đức Giáo Hoàng Grêgôriô III cung hiến nguyện đường tại Đền Thánh Phêrô dâng lên “các thánh Tông đồ, tử đạo, hiển tu và toàn thể các người công chính, thánh thiện đã an nghỉ trên khắp thế giới”. Đồng thời định ra lễ tưởng kính vào ngày 1 tháng 11. Lễ kính vào ngày này, đã được phổ biến qua nước Anh và nước Đức, ngay sau đó.

Thế kỷ sau, Đức Giáo Hoàng Grêgôriô IV (827-844) đã mở rộng cho Giáo hội khắp hoàn vũ để mừng kính các thánh vào cũng ngày 1 tháng 11, mỗi năm. Vào thế kỷ thứ IX và X, lễ Các Thánh được đưa vào “Sách các Phép” với tên gọi bằng tiếng Latinh Natale Omnium Sanctorium, coi như Sinh nhật của toàn thể các thánh Nam nữ.

Lễ này long trọng đến độ được bắt đầu bằng một nghi thức gọi là Buổi Lễ Vọng, khởi từ thời Đức Giáo Hoàng Sixtô IV (1471-1484) có tuần bát nhật hẳn hòi. Buổi lễ Vọng, hoặc nghi thức cử hành phụng vụ vào trước ngày lễ chính, sau này được mọi người nhớ đến bằng tên gọi rất quen thuộc là Halloween, tức tập tục cho giới trẻ vào ngày 30/10 trước đó, có đốt pháo, có hoá trang mặt nạ áo phủ mang hình thù quỷ ma, xương cốt, có lồng đèn bằng “bí ngô”, rất vui và rất nhộn, chiều hôm trước.

Cả nghi thức Lễ Vọng và Bát nhật Các thánh đều bị huỷ bỏ từ năm 1955. Thành thử, truy tầm lịch sử, ta thấy Lễ các thánh quả là có bề dày sâu lắng từ thế kỷ thứ VIII, trở về đây.

Ngày nay, Giáo hội cử hành mừng kính lễ này, là để ứng đáp lại lòng ao ước của mọi người được mừng và được kính toàn thể các thánh nam nữ trên trời. Nhất là các vị hiển thánh không có ngày riêng biệt để mừng kính.

Lễ hội này, mừng kính “triều thần đông đúc không biết cơ man nào mà kể” (Kh 7: 9), về các vị hiển thánh trên Thiên quốc. Và cũng để nhắc nhở con dân nhà Đạo, rằng: tất cả những ai được thanh tẩy trong Thánh Thần, đều được mời gọi sống lành thánh, đầy tràn yêu thương. Lành thánh. Rất khuyến khích.” (John Flader, The Catholic Weekly 1/11/2009 tr. 10)         

 

            Yêu thương. Lành thánh. Như đấng bậc nữ lưu Têrêxa Calcutta rất lành và rất thánh, từng kêu gọi mọi người, ở đâu đó. Ở cả, Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc, với những lời và những lẽ, rất đáng yêu. Như sau:

 

“Xin các bạn, hãy cứ nguyện cầu cho chị em chúng tôi đừng bao giờ làm hỏng công cuộc. Hỏng công cuộc, mà Thiên Chúa đã giao phó cho chúng tôi, cho cả chúng ta nữa. Xin nguyện cầu, để các bạn cũng như tôi, ta không dùng đến những quả bom/quả pháo thuần thục không gian, cùng trái đất. Nhưng, hãy dùng tình yêu thương để thắng thế gian, thắng trái đất. Ngõ hầu đưa thế gian về với Tin Mừng của Đức Kitô. Mỗi người, hãy đứng lên mà công bố với hết mọi người trên thế gian, rằng: Thiên Chúa vẫn hằng yêu mến thế gian. Đến muôn đời.” (Labastida, sđd)

 

            Làm được như Mẹ Têrêxa thành Calcutta yêu cầu, những bạn và tôi, ta cũng sẽ trở thành người lành và cũng thánh, không kém ai. Bởi, chỉ có thể gọi các đấng bậc mọi người là lành và thánh, là khi tôi và bạn, khi ta trải dàn được Tình Yêu Thiên Chúa, cho mọi người. Trong thế gian. Chốn điạ cầu. Ở đây. Lúc này. Mãi về sau.   

 

Trần Ngọc Mười Hai  

vẫn hằng cầu cho bạn

cho tôi

            có quyết tâm

yêu thương ấy.

 

 

 

 

15. “Về đây, nhìn mây nước bơ vơ”

Về đây, nhìn cây lá xác xơ

(Châu Kỳ - Trở về)

 

(Mt 6: 5)

            Chủ nhật hôm ấy, ngày dài một đại lễ Giáng Sinh cho  Đạo, lại là Hiển Linh cho đời, bần đạo có cơ hội được trở về quê nhà của Chúa, ở Bét-lê-hem. Về, để được nhìn mây nước bơ vơ. Để thoáng thấy cây lá xác xơ. Bơ phờ. Tiều tụy. Nơi thôn miền lành thánh, đất Bê-lem. Nơi đây, hôm ấy, cộng đoàn cùng Đạo khác phái, đã trở về cùng vui chung ngày Chúa Giáng Trần, rất lễ hội. Ở nguyện đường sát cạnh, hợp hoan mừng Chúa hiển hiện với con dân. Thân thiết. Kết đoàn.

            May cho bần Đạo, bước chân về quê nhà của Chúa, không phải nghe đến lời buồn, khi xưa:

 

            “Nơi xưa, ôi giờ đây nát tan,

đò vắng không người sang,

thôn xóm trông điêu tàn.

Xa xa, nghe tiếng chim gọi đàn

Nghe suối reo bên ngàn

Dường như oán, như than.”

(Châu Kỳ - bđd)

 

            Làm sao có thể như oán với như than được, bởi khi đặt chân đến đây người người đều đã thấy tinh thần đại kết giữa giáo phái, đã về lại. Về lại, qua nghi thức phụng thờ, ngày lễ lớn. Về lại, vào ngày 7 tháng Giêng, khi cả Giáo hội bạn lẫn Hội thánh ta mừng Chúa, thể hiện cuộc sống phàm trần, với toàn dân. Về lại, để cùng với Giáo hội, ta mừng Chúa hiển vinh với dân ngoại, ở trời Đông.

            Ở trời Đông hay phương Tây, nay người người vẫn thể hiện một thế đứng, khi nguyện cầu. Mà mừng lễ. Chẳng thế mà, hầu hết các nghi tiết phụng thờ, ở nơi đó, người người thường hay chọn thế đứng nguyện cầu, rất xứng hợp. Tư thế này, thánh Mát-thêu mô tả như cách thức nguyện cầu hiên ngang, người của Chúa:

 

            “Họ thích đứng mà nguyện cầu

trong hội đường.”

(Mt 6: 5)   

 

            Thật ra, nguyện cầu theo thế đứng hay quỳ, không là vấn đề cần bàn cãi. Bàn hay không, đó vẫn là tư thế chọn lựa, của riêng mình. Nhưng, với cộng đoàn hiện diện trong tiệc thánh, tư thế cùng đứng và cùng cầu, mới thành chuyện. Thành chuyện, là thắc mắc của một số bạn Đạo ở trời Tây, vẫn hay hỏi. Hỏi rồi, thắc mắc và vấn nạn như đọc được ở đâu đó:

 

“Vừa rồi tham dự thánh lễ ở họ đạo khác nhau, tôi thấy có nhiều nơi đứng ngồi không đồng bộ, gây chia trí. Như, vào lúc bắt đầu lễ, khi sửa soạn của lễ để dâng lên, và khi chiêm niệm nguyện cầu, sau hiệp lễ. Xin ngài cho biết để còn dạy dỗ đám trẻ, khi nào ta buộc phải đứng mà cầu nguyện? Và tại sao lại làm thế?”

 

            Thắc mắc và giải đáp vấn nạn, cho mọi người, vẫn là thói quen của đấng bậc nhà Đạo, ở Sydney. Hỏi/đáp, cả vào khi không có người hỏi; hoặc cũng chẳng cần có người giải. Nghĩa là, mỗi khi đấng bậc thấy cần nhắc nhở bà con Đạo mình phải để ý, mỗi khi đến nhà thờ, cùng dâng tiến của lễ hiệp thông.

            Nói cách khác, giải và đáp vẫn là “nghề của chàng”, chàng trai không trẻ ở giáo phận lớn, cỡ Sydney:

 

“Ngay từ đầu, khi vào lễ, cộng đoàn dân Chúa cùng đứng dậy để chào đón chủ toạ đoàn, vào dâng lễ. Cử chỉ này, là để tỏ lòng cung kính chào đón Đức Kitô, hiện thân nơi linh mục hoặc Giám mục đang bước vào, chủ trì buổi Tiệc Thánh. 

Ngoài đời cũng thế, dân chúng cùng đứng dậy chào đón, mỗi khi có nhân vật vị vọng bước vào phòng, dù chỉ để cùng dự tiệc, bắt đầu nghi thức gì đó, hoặc cùng khởi sự một nghi tiết. Thấy nhân vật lỗi lạc xuất hiện ở ngưỡng cửa, mà ngồi ỳ, thì há nào muốn bày tỏ sự bất kính coi thường nhân vật ấy!

Ở một số nhà thờ, còn có thói quen rung chuông khi vị chủ tế bắt đầu rời phòng thánh, là để báo cho cử toạ biết rằng đoàn tuỳ tùng đã bắt đầu tiến bước, để mọi người còn đứng dậy cung nghinh đón chào, Đức Chúa của mình.

Làm như thể, dân con đón mừng Đức Giêsu tiến vào đền thánh Giêrusalem, ngày lễ Lá. Đứng, là tư thế thích hợp hơn cả để khởi đầu phần Phụng vụ, là Thánh Lễ.

Trong tư thế đón chào đoàn tuỳ tùng bước vào khởi sự thánh lễ, cộng đoàn ta cứ đứng như thế, cho đến hết phần nghi thức xưng thú mọi lỗi lầm. Đây là lúc, dân con nhà Đạo, lọc sàng lương tâm đạo đức hầu sẵn sàng mà khởi hành thánh lễ. Tới kinh Vinh Danh, lời kinh xưa để tôn vinh Thiên Chúa là Cha, Con và Thánh thần. Và cuối cùng, cũng đứng yên như thế cho đến hết kinh Nhập lễ hoặc kinh tiền lễ, là một trong ba kinh được gọi là “Kinh dành cho vị Chủ tế”, tức linh mục hoặc vị Giám mục chủ trì đọc thay cho toàn thể mọi người, đến tham dự.

Cộng đoàn sẽ lại đứng để hát bài kinh “Allêluya” hoặc “kinh Suy tôn Tin Mừng”; đồng thời cứ đứng như thế mãi trong thời gian đọc Tin Mừng. Ở đây nữa, đứng ở đây, là tư thế diễn tả cả hai việc: thứ nhất, là: tôn kính Đức Giêsu, Đấng đang dùng Lời Chúa để khuyên dạy con dân của Ngài; và: đứng như thế chứng tỏ dân con Chúa đã sẵn sàng để nghe và thực hiện những điều Chúa dạy bảo.

Sau bài chú giải sẻ san, cộng đoàn dự Tiệc thánh cũng lại đứng lên để lập lại lời tuyên xưng niềm tin, hoặc đọc kinh Tin Kính, là kinh được đặt từ thế kỷ thứ Tư. Khi đứng để nghe Chúa nói chuyện với con dân của Ngài, qua Phúc Âm, nay cộng đoàn lại đứng để ứng đáp lời “tuyên tín” đáp trả những gì mình mình nghe biết.

Cộng đoàn vẫn cứ đứng khi đọc lời Nguyện Giáo dân, qua đó cộng đoàn ứng đáp qua niềm tin về những gì mình nghe biết trong các bài đọc bằng lời kêu cầu Chúa hãy đoái nhậm lời thỉnh cầu của mình để cầu cho Giáo hội và thế giới.

Sau khi đã ngồi để sửa soạn của lễ dâng lên bàn thờ, cộng đoàn niềm tin đứng dậy khi vị chủ tế kết thúc lời cầu :Anh chị em hãy cầu nguyện để lễ vật của tôi và của anh chị em được Chúa là Cha Toàn Năng đoái nhận”, nghe xong lời ấy, cộng đoàn sẽ đứng để đáp ứng bằng lời khẩn cầu: Xin Chúa nhận Lễ vật bởi tay cha…” Bằng tư thế đứng thẳng, cộng đoàn xác định mình ưng thuận trong phụng thờ.

Đến đây, có vài vài khúc mắc hỗn độn không biết khi nào thì cộng đoàn nên đứng. Thế nhưng, theo sách Những Chỉ dẫn Thông Thường trong Thánh Lễ theo nghi thức La Mã (số 43) có nói đến những điều vừa kể, ở bên trên. Tức là, cộng đoàn tiếp tục đứng khi chủ tế dâng của lễ, khi vị này đọc lời nguyện thứ hai, tức là: một lần nữa chủ tế cầu nguyện thay cho cho cộng đoàn đạo đạt lên Chúa Cha. Chính vì thế, cộng đoàn nên cùng đứng với chủ tế, trong tư thế chuyển đạt lời cầu lên Cha.

Ở kinh Tiền Tụng và lời xưng tụng Thánh Thánh Thánh, là kinh tung hô Chúa theo dáng dấp của của cộng đoàn truyền thống khi xưa, tức vẫn đứng. Ở đây nữa, sách Những Chỉ Dẫn Thông Thường trong Thánh Lễ theo nghi thức La mã, còn nói: cộng đoàn có thể đứng khi dâng lời cầu Thánh Thể, trừ phi cộng đoàn được Hội Đồng Giám Mục quyết định nên ở tư thế nào cho thích hợp, đối với tập tục của xứ sở mình.

Theo ấn bản 2007 nơi sách Những Chỉ Dẫn Thông Thường trong thánh Lễ theo nghi tiết La Mã, các Giám mục Úc có lời khuyên giáo dân ở đất nước mình: “hãy nên quỳ gối từ lúc đọc xong lời tung hô Thánh Thánh Thánh! cho đến lúc thưa Amen thật lớn, và sau đó sẽ đứng vào lúc chủ tế bắt đầu mời cộng đoàn xướng hát kinh Lạy Cha, cho đến khi kết thúc kinh Lạy Chiên Thiên Chúa, thì tất cả cùng quỳ lần nữa cho đến khi rước Chúa vào lòng.” (sđd, số 43)

Sau Hiệp lễ, cộng đoàn lại đứng dậy để đọc lời nguyện cầu lần thứ ba, tức Kinh Hiệp Lễ, lúc ấy vị chủ tế lại kêu cầu cùng Cha, ngang qua Đức Giêsu, Con Chúa, Chúa chúng ta.

Và như thế, cộng đoàn cũng sẽ đứng cho đến khi nhận phép lành và lời cầu chúc ra đi rao truyền Lời Chúa, vào cuối lễ. Vào lúc này, cộng đoàn sẽ trong tư thế sẵn sàng ra đi, mà phục vụ rao giảng Lời Chúa. Và rồi, mọi người sẽ ra về để tháp tùng Đức Giêsu, thể hiện ngang qua vị chủ tế, để rồi sẽ ra đi khắp thế gian mà đại diện Chúa, đến với mọi người.”(Lm John Flader, The Catholic Weekly 26-4-2009, tr. 10)

 

            Chỉ dẫn vẫn là thế. Chỉ và dẫn, về tư thế đứng ngồi nơi thánh lễ. Đứng/ngồi buổi tế tự, vẫn là cử chỉ cần rập ràng, cho xứng hợp. Nhưng, đứng/ngồi ở đời thường, là thói quen nay đã đổi ở vài nơi. Thói quen hay thói tật, của một số người. Ở một số nơi. Đây, vẫn là đề tài của chuyện cười ra nước mắt. Cười không dứt. Chuyện rất buồn mà cứ cười. Buồn cười. Buồn là thế đó. Cười là ấy vậy. Như dưới đây, là chuyện rất buồn, mà vẫn cười. Cười, là bởi người người vẫn cứ hát:

 

            “Về đây, buồn trông cánh chim bay

            về đây, buồn nghe gió heo may

            về đây, đâu còn phút sum vầy

            đâu còn thắm niềm say

            lạnh lùng ngắm trời mây.”

(Châu Kỳ - bđd)

 

            Lạnh lùng ngắm trời mây, cả vào khi tham dự thánh lễ. Lúc chia sẻ. Lạnh lùng ngồi đứng ngoài trời. Trên Honda hai bánh. Với thuốc lá phì phà, trên môi. Lạnh lùng, khi thiên hạ mang rổ mời ta sẻ san niềm thương đau người nghèo, mà bố thí. Lạnh lùng, khi bạn Đạo quay sang chúc bình an, rất chân phương. Thương tình. Mình vẫn lạnh. Lạnh lùng, là tư thế của người vẫn sống “một ngày như mọi ngày”, ở dương gian chốn thế trần. Nhiều hệ luỵ. Những hệ rất luỵ phiền, như truyện kể sau đây:

“Nhóm trẻ nọ, vẫn muốn tìm hiểu xem, lý do từ đâu, mà dạo này ít người chịu đi lễ, thế. Chí ít, là có đi nhưng cứ đứng ngồi chẳng đồng bộ/rập khuôn, đúng lễ nghi quân cách. Nhóm này, bèn tìm đến đấng bậc đạo mạo nọ, thuộc bậc thày, ở nhà trường. Sau lúc hàn huyên, trong nhóm trẻ ấy, có người bèn thổ lộ: làm gì cũng được, nhưng nếu làm mà chẳng vui thích, sẽ bị căng thẳng, trầm mặc, dễ ưu tư. Bậc thày thấy vậy, bèn mời nhóm trẻ quá bộ bước vào phòng ăn để thưởng thức tách cà-phê, do ông chế. Từ bếp bưng ra, những là ly tách và nước nóng để pha chế. Thày mời nhóm học trò cũ, cứ tự tiện chọn ly tách, mà thưởng thức.

Khi mọi người đâu đấy ổn định ly tách trên tay, thày ôn tồn bảo:

-Để ý một chút, bạn sẽ thấy người nào cũng chọn ly tách gọn/đẹp, bỏ tách ly nào xấu xí. Nặng nề. Rẻ tiền. Thường thì, ai cũng muốn điều hay, món lạ. Cứ thích những gì tốt nhất, cho riêng mình. Đó, là cội nguồn của mọi vấn đề. Của những căng thẳng. Ưu tư. Trầm mặc. Tuy nhiên, điều bạn vẫn muốn, chỉ là cà-phê ngon, chứ đâu phải ly hoặc tách? Ấy vậy, tại sao ai cũng chọn tách ly đẹp nhất? Rồi còn đảo mắt nhìn quanh xem ly của người khác, có đẹp bằng mình không. Cho nên, nếu ta coi cuộc sống ngoài đời, hay trong Đạo, như ly cà phê ngon, hẳn mọi thứ khác như tiền bạc, công việc, chức vụ.. chỉ là những ly cùng tách, thôi. Tất cả, chỉ là dụng cụ hay công cụ hào nhoáng bên ngoài, để chứa đựng sự sống, ta trân trọng. Nhưng phẩm chất cuộc sống, nào đổi thay? Thành thử, đôi lúc ta thấy người người tập trung vào ly tách, tức những gì bề ngoài, không quan trọng. Tất cả sẽ thất bại. Không thưởng thức được chất lượng ngon/đẹp, ở bên trong.”

 

            Truyện kể ở trên, có kèm lời bàn của người kể, rằng: mọi việc, nếu chỉ để ý đến động tác thứ yếu/bên ngoài thôi, ta sẽ thất bại. Thất bại, gọi là: căng thẳng. Chán ngán. Lặng câm.

            Áp dụng chuyện đứng ngồi, ở nhà thờ. Tưởng, cũng nên mời bạn, mời tôi, ta thử suy xem đâu là điều chính yếu, trong phụng thờ. Khi đã tìm được rồi, người người sẽ hân hoan thực hiện. Thực hiện trong phấn khởi. Vui mừng. Đồng loạt. Thực hiện rất lớp lang. Trật tự.

 

            Trần Ngọc Mười Hai

            Từng đứng ngồi nhiều giờ  nào đã nản.

            Chỉ mỗi nản, chỉ là khi để luột mất tương quan.

Với mình và với bạn, thôi.  

                    

 

16. “Xưa em là kiếp chim, chết mục trên đường nhỏ”

Anh làm cội băng mai, để tang em, chờ mấy thuở

Xưa em làm kiếp lá, rụng xuống lòng suối thu

Anh làm mưa tháng bẩy, đôi hàng lệ ướt tương tư

(Phạm Duy – Pháp thân)

 

(Đn 6: 10)

Một hôm nọ, bần đạo líu tíu theo đám bạn, ghé chùa Vạn Hạnh ở Canberra, làm màn thăm dân/quan nho nhỏ, bỏ túi. Vãn cảnh chùa, có tăng ni/nhân sự. Có báo chí/sách đọc chốn thiền môn. Vãn và thăm, bần đạo mới gặp được cuốn sách mỏng của “thiền sư” có tựa đề  bằng Anh ngữ “A guide to walking meditation” (tạm dịch là: “Vào Chốn Thiền Hành”). Sách nhẹ mỏng, nhưng bắt mắt, rất dễ đọc. Đọc  tại chỗ, cho bõ công đường dài rong ruổi “tội lắm anh ơi!” Tiếc một điều, là: sách của sư/tăng hôm ấy, không có bản tiếng Việt, dễ nuốt  trôi. Duy, mỗi bản dịch qua Anh ngữ của Ánh Hương. Thôi thì thôi nhé, cũng đành tự chuyển ý/chuyển lời của tăng sư nhà Phật, bằng  ngôn ngữ nhà Đạo. Hầu xem sao.

Ở cuối sách, bần đạo được đọc một đoạn viết, chỉ

thoáng nhìn đã thấy hay. Hay và thích, ở chỗ: nó hao hao giống những điều mà bạn  và tôi, ta từng nghe/biết, rất nhiều lần. Nay, mạn phép tăng/ni nhà Phật, cho bần đạo chuyển đạt ý/lời qua thơ văn nhà Đạo, rất xôn xao, như sau:

 

“Hãy cảm tạ, những người làm bạn gục ngã, và đớn đau

bởi điều đó, sẽ giúp bạn có thêm nhiều quyết tâm.

- Hãy cảm tạ, những người từng lừa phỉnh bạn bè,

bởi có thế, bạn mới đào sâu được ý nghĩa, của sự việc.

-Hãy cảm tạ, những người từng làm đớn đau,

bởi có thế, bạn mới thấy bớt những cản trở của nghiệp chướng.

-Hãy cảm tạ, những người bỏ bạn lại một mình,

bởi có như thế, bạn mới học hỏi cách sống âm thầm, tư riêng.

- Hãy cảm tạ, những người từng làm bạn vấp ngã,

bởi có thế, mới giúp bạn tăng cường khả năng của chính mình.

-Hãy cảm tạ, những người từng lăng nhục bạn,

bởi nhờ thế, bạn mới tỏ ra uyên bác và tập trung mọi quan năng.

Và cuối cùng,

-Hãy biết ơn những ai làm bạn vững lòng và cứng

cỏi, cả những ai đã giúp mình đạt đến thành công.”

(lời Huyền tăng Chin Kung)


Vẫn biết rằng, trích dẫn lời bàn từ chốn tăng ni nhà

Phật  rất ư  là “sắc sắc không không”, về những chuyện mà bạn và tôi, ta không chuyên. Nhưng trích và dẫn ở đây, là để nói lên một gặp gỡ rất Đông-Tây. Gặp, về đạo lý. Gặp cả, về những chuyện “thần”, để học. Học, về đạo của tôn giáo ở đất trời về hướng Đông. Nhè nhẹ. Xuyên suốt. Âm thầm. Dù, sắc sắc không không, với nhà Đạo mình, đó có là tư tưởng gây ưu tư, khắc khoải? Có, làm mình bận tâm? Bận đến tâm, vì tư tưởng nhà Đạo, vẫn không là lời bàn vu vơ. Lơ mơ. Có đó, rồi mất đó. Nhưng, rất chắc nịch. Rất tin yêu. Mỹ miều.

Hôm nay, kể chuyện Đông-Tây, ta lại nhớ đến

truyện kể, về thời trước. Thời, mà Công Đồng Chung Vatican II đã bàn. Bàn, về chuyện xoay chuyển bàn thờ, sao cho đúng. Sao cho thích hợp với “Đông Tây/kim cổ”.

Vừa qua, ở Sydney, có một bạn đọc rất đạo mạo,

dám mạo muội gửi thư lên “đức thày” tên gọi là John, giòng họ Flader, để hỏi. Hỏi, là hỏi về lý sự vì sao ta cứ xoay chuyển bàn thờ, hết “Tây Phương Cực Lạc’, rồi phía Đông. Bạn, tuy gọi là bạn đọc, có lẽ còn hơi trẻ, nên mới dám chuyển ngỏ đôi lời, thành thư viết, như sau:


“Tôi có người bạn thường thích dự nghi tiết tế tự theo hình thức của Công Đồng Triđentinô. Là, Công Đồng Chung xưa cũ, không hợp thời. Bạn, vẫn dùng vài chứng cứ thực tế để đưa ra điều hay/cái lợi của thánh lễ có bàn thờ và vị chủ tế quay lưng về phía bổn đạo, mà họ gọi, là: “hướng phía Đông”. Bản thân tôi, lâu nay chỉ biết có thánh lễ trong đó tôi thấy vị linh mục chủ tế toàn quay về phía giáo dân, mà thôi. Không hiểu sao, bạn tôi lại cứ thích kiểu cách rất khác biệt. Có thể nào, xin linh mục ban cho vài tia sáng chỉ dẫn để ta thấy rõ vấn đề này, hơn?”


Chẳng cần nói, bạn cũng như tôi, ta khá hiểu tâm trạng của các đấng bậc “nhà báo”, vốn vẫn chờ độc giả đến hỏi, rồi sẽ thưa. Thưa, như lời thưa hôm nay, rất chính mạch. Chính xác, một nguồn mạch, như sau:

 

“Theo truyền thống, việc quay tầm mắt nhìn về một phía để mà nguyện cầu, là một phần trong quá trình hành xử của một số tôn giáo lớn trên thế giới. Như ta biết, Hồi giáo là đạo chủ trương ta phải quay hướng tầm nhìn về phía Mecca, thánh địa của họ. Người Do Thái, trong khi đó, lại hướng tầm nhìn về với đền thánh Giêrusalem, của mọi thời. Thời Cựu Ước, rõ ràng là họ chỉ hướng về nơi nào có sự hiện diện của Thiên Chúa; tức: có Đền Thờ. Điều này, có thể nhận thấy nơi sách tiên tri Đanien, đoạn 6 câu 10.

Vào năm 70 Công nguyên, sau khi Đền Thờ Chúa bị phá huỷ, người Do Thái có thói quen hay quay hướng tầm nhìn về với Thành Thánh Giêrusalem, nơi có nền phụng vụ tổ chức tại hội đường. Theo cách này, các vị tỏ bày niềm hy vọng, rằng: vào khi Đức Mêsia đến lại, Ngài sẽ xây dựng Đền Thánh Chúa trở lại, ngõ hầu tập họp dân con Đạo Chúa đến từ khắp nơi, cả bốn phương trời, lành lặn.

Tín hữu Đạo Chúa thời tiên khởi, thay vì hướng về với Đền thánh Giêrusalem ở dưới đất, lại quay về với Giêrusalem rất mới, ở trên trời. Ai nấy tin tưởng rằng: khi Chúa trỗi dậy từ cõi chết, Ngài sẽ ngự đến trong vinh quang, mừng vui. Ngài sẽ tập họp những kẻ tin vào Ngài, để cùng thiết lập một Giêrusalem mới. Họ làm thế, vì nhận thấy nơi mặt trời đang mọc, một biểu tượng minh chứng Chúa Phục Sinh và Ngài sẽ lại đến lại. Chính vì thế, với họ, nguyện cầu quay hướng về phía Đông, mới là việc tự nhiên. Sự việc này, có chứng cứ cho thấy: phần đông tín hữu trên thế giới đều cùng quay về hướng Đông, phía có mặt trời mọc, để nguyện cầu. Và việc ấy khởi sự từ thế kỷ thứ 2, trở về đây.

Thật ra, khó mà tìm được chương đoạn nào trong Tân Ước nói rõ về việc tín hữu quay hướng về phiá Đông, để làm bằng, mà cử hành nghi tiết phụng thờ. Trong khi đó, truyền thống Giáo hội cũng tìm ra vài văn đoạn của sách thánh, diễn bày tính biểu trưng nơi “mặt trời đức nghĩa” nói trong sách tiên tri Malaki, đoạn 3 câu 20. Đằng khác, Tin Mừng thánh Luca ở đoạn 1 câu 78, cũng nói đến điều mà thánh sử gia gọi đó là “Thái dương, từ nơi cao xanh khấng viếng”. Và, sách Khải Huyền cũng đề cập đến điều mà thánh Gio-an Tông đồ khẳng định: “Tôi đã thấy thiên thần khác từ phía mặt trời mọc, mà lên”. Và, Tin Mừng thánh Matthêu ở đoạn 24, cũng có nhắc: “Như chớp chói loà ở bên Đông rạng bên Đoài, thì cuộc Quang lâm của Con Người cũng sẽ như thế.” Nói như thế, là nói đến dấu chỉ Con Người sẽ đến trong vinh quang, rọi sáng. Rất ngời Ngài sẽ xuất hiện như sấm chớp, từ trời Đông sáng rực hừng hực, mãi tận cõi trời Tây. Tức,thập giá Đức Kitô.

Quả thật, có việc nối kết chặt chẽ giữa trạng thái nguyện cầu trong thế hướng lòng mình về với trời Đông, có thập giá Chúa. Ít nhất, là đến thế kỷ thứ IV, chuyện này mới trở thành thói lệ mọi người đều làm; ngõ hầu đánh dấu phương hướng cho mọi người biết mà nguyện cầu tại nơi chốn có thập giá Chúa đặt trên tường, đặt ở hướng Đông của Vương Cung Thánh Đường. Cũng như, tại phòng riêng các thày dòng. Hoặc, các bậc thày khắc kỷ/khổ tu.

Mãi đến cuối thiên niên kỷ thứ nhất, nhiều nhà thần học thuộc truyền thống khác nhau, cũng có nói đến việc nguyện cầu có việc hướng lòng mình, quay về phía Đông. Các ngài coi đây như truyền thống từng được thực hiện. Từng có khác biệt trong thờ kính, giữa Đạo Chúa và tôn giáo khác, ở cận Đông. Người Do Thái, có thói quen hướng lòng mình về với đền thánh Giêrusalem. Còn người đạo Hồi, lại quay về phía Mecca, là thánh địa của Mohammed, Giáo chủ của đạo. Cũng từ đó, mọi người đều có thói quen nguyện cầu quay về hướng Đông, nơi mặt trời trong tư thế đang mọc lên.

Ở thế kỷ đầu, tại các nguyện đường dành cho người Đạo Chúa, được dựng xây có phương có hướng trực chỉ phía Đông. Tức, nhằm tạo điều kiện để mọi người thấy dễ dàng theo thói lệ này. Chính vì thế, ngày nay cụm từ “quay về hướng Đông” được sử dụng theo nghĩa thông thường để chứng tỏ: linh mục giáo dân, khi tiến hành buổi lễ, đều quay về cùng một phía, thích hợp cho nghi thức phụng vụ. Tập tục này, được các truyền thống By-zăng-tanh, Syria, Ácmênia, Kốptích và Etiôpia đeo đuổi, ít nhất trong Tiệc Thánh Thể, cũng như trong mọi nguyện cầu theo nghi thức của Công Đồng Chung Triđentinô.

Tập tục, mang nhiều ý nghĩa biểu trưng. Nội mỗi việc, tất cả mọi người cùng quay về một hướng, có giáo dân và linh mục chủ tế đứng trên bàn thờ, như thời xưa ta vẫn làm, mới đích thực dẫn dắt dân con Đức Chúa về với hành trình tin yêu, hy vọng. Về với thành thánh Giêrusalem, trên Thiên quốc. Hướng về Chúa, như thế, từ xưa nay vẫn được các nghệ nhân diễn tả qua kính mầu nghệ thuật trên cung thánh, tại hầu hết các thánh đường, ở khắp nơi. Nơi, có Thập giá Chúa. Có Chúa Phục Sinh, quang vinh. Có triều thần thánh trên trời, vây quanh. Chực hầu. Đây, mới là mục tiêu mà các tín hữu ở trần thế, thường nhắm đến.

Điều này, nhắc cho ta thấy: việc cử hành Tiệc Thánh, là việc tham gia phụng vụ của trời cao. Và, cũng còn là lời thề cam kết về vinh quang mai ngày. Vinh quang, có sự hiện diện của Chúa Hằng Sống.

Chính vì thế, lâu nay ta tiếp tục thực hiện nghi tiết phụng vụ mang ý nghĩa đậm sâu. Ý nghĩa, qua đó mọi người cùng hướng lòng về với trời Đông, rất đồng bộ. Đặc biệt hơn cả, là trong thánh lễ. Lm Uwe Michael Lang từng viết cuốn sách có tựa đề “Hướng về Chúa, một Phương Hướng Nguyện Cầu rất ý nghĩa”, để sử dụng trong phụng vụ. Sách, do nhà xuất bản Ignatius phát hành.

Cũng nên nhớ, dù vị linh mục cử hành thánh lễ, với diện mạo quay về hướng giáo dân đi nữa, thì linh mục cũng như giáo dân tham dự, đều chung một ý nghĩa, là: tất cả đang hướng lòng về với Chúa, mà thôi.” (Lm John Flader, The Catholic Weekly 13/1/2008 tr. 10)


Nói gì thì nói. Quay đâu thì quay. Đông Tây

Nam Bắc, ta vẫn gặp nhau. Gặp, trong nguyện cầu. Gặp, trong ý hướng. Bởi, Đông hay Tây; Nam hay Bắc, ta vẫn là một. Một cộng đoàn. Một niềm tin.

Có những người, tuy cùng nhau quay chung về một phía, nhưng thực tế chỉ mỗi quay về phía, có cách chia. Hận thù. Đơn độc. Đó, mới là điều đáng sợ. Sợ, nhiều chuyện xảy ra. Xưa cũng như nay. Ở bên này, hay bên kia của thế giới. Thế giới, có Đông có Tây. Đầy đủ.

Vấn đề, là ở chỗ: dù Đông hay Tây, mình vẫn là

người. Mà, đã là người, thì dù có ở phương Đông hay phương Tây đi nữa, vấn có nhiều “sự”. Nhiều vấn đề, như Thày Đạt Lai Lạt Ma, từng khẳng định:

 

“Có người đến hỏi Đức Đạt Lai Lạt Ma:

-Điều gì làm ngài ngạc nhiên nhất, trên cõi đời?

Vị “Phật sống” trả lời:

-Con người! Bởi, con người phung phí sức khoẻ để tích luỹ tiền của. Rồi, bỏ tiền bỏ của đi ngõ hầu mua lại sức khoẻ. Vì quá lo cho tương lai, con người quên mất hiện tại. Quên, đến độ không còn sống được, cả hiện tại lẫn tương lai. Ngày nay, con người ta sống như thể sẽ không bao giờ chết đi. Nhưng rồi họ cũng sẽ chết, như chưa bao giờ từng được sống. Vì họ không biết sống. Không ý thức sự sống. Nên, đã để mất cái ta. Mất cả thực tại.”


Nói cho cùng, cái ta và thực tại, vẫn còn đó. Rất

buồn. Nhưng “ta” ấy, thực tại ấy, nay đã khác. Khác ở chỗ, cả hai đã được nghệ sĩ già nhà ta reo lên mà vui hát. Hát như sau:

 

“Xưa em là chữ biếc, nằm giữa lòng cuốn kinh

anh là thiền sư buồn, ngồi tụng giữa ánh trăng

xưa ta hẹn với nhau, tìm nhau giữa vô thường..

anh hoá thân làm mực, thấm vào cuốn kinh thơm.

Aha, ta tuy hai mà một! Aha, ta tuy một mà hai!

Aha, ta tuy hai mà một! Aha, ta tuy một mà hai!

(Phạm Duy – bđd)


Thật, rất đúng. Ta đây, tuy hai mà một. Tuy một, mà

là hai. Hai phương trời. Một bản thể. Bản thể người, rất dễ thương. Thương người. Và, thương ta. Thương, như lời thánh nhân, vẫn dặn dò:

 

“Ai có thể tách chúng ta ra khỏi

tình yêu của Đức Ki-tô?

Phải chăng là gian truân,

khốn khổ, đói rách,

hiểm nguy, bắt bớ, gươm giáo?”

(Rm 8: 35)


Nếu thánh Phao-lô còn sống đến hôm nay, chắc hẳn

Ngài sẽ  thêm: “Ai có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Đức Kitô? phải chăng là phương Tây lẫn phương ta, phía trời Đông?” Quả có thế. Dù là phương Đông, hay cõi trời Tây, ta vẫn chung một nhà. Nhà, Cha ta. Nhà, của “tứ hải giai huynh đệ.” Của, con dân Đức Chúa.


Trần Ngọc Mười Hai,

Sinh, là sinh ở phương Đông

hiện sống, là sống ở phương Tây,

nhưng vẫn tin mình thuộc mười phương/mười hướng, có xót và có thương.

 

 

17. “Bây giờ anh vui, một linh hồn rỗi”

Tình yêu xứ này

(Trịnh Công Sơn – Cuối cùng cho một tình yêu)

 

(GLHTCG #1472)

            Một bạn thân, có lần cũng từng nói: chẳng biết sao mà phần lớn các nhạc bản của người mình, vẫn cứ buồn, một tình tự. Cả đến Giáng Sinh, Lễ Hội vui nhộn là thế, mà sao nghe vẫn cứ buồn. Những là, “Lời kinh đêm” rất ngậm ngùi, “Thánh ca buồn”, “Mùa áo quan”, vân vân và vân vân.

            Hôm nay đây, hỡi bạn và tôi, ta hãy thử minh chứng với người trẻ nọ, bằng ý-từ thi-ca, “linh hồn rỗi”. Bởi, linh hồn mình có rỗi, mới thấy vui? Thật thì không. Không phải thế. Người nghệ sĩ chỉ muốn nói: “Bây giờ anh vui, một linh hồn rỗi, Tình yêu xứ này.”

            Nói như kiểu nghệ sĩ, một người từng bị người đời lôi ra chất vấn, thử hỏi rằng: “anh có vui?” khi mà thiên hạ cứ hỏi những vân vân và vân vân? Vâng. Trịnh Công Sơn là người nghệ sĩ, sẽ rất vui. Vui hơn bao giờ. Vui, cả vào trước khi anh hát…“nếu một mai, anh có qua đời”.  Là bởi vì:

 

            “Ừ thôi em về, chiều mưa giông tố!

            Bây giờ anh vui, hai bàn tay đói

            Bây giơ anh vui, hai bàn chân mỏi

            Thời gian nơi đây…”

(Trịnh Công Sơn – bđd)

 

            Thế mới biết, hai bàn tay anh dù có đói. Hai bàn chân anh, nay có mỏi. Hoặc gì gì đi nữa, nghệ sĩ mình vẫn cứ vui. Và cứ cười? Bởi ở đời, có nhiều bàn chân tuy không mỏi. Và, những đôi tay tuy không đói, nhưng vẫn buồn. Buồn, như giòng nhạc của người mình? Buồn, như tình không lối thoát? Một thứ “tình mình bây giờ”, có gì vui?

            Tất cả các câu trên, đều thấy có chấm hỏi (?), là sao thế? Tức, vẫn cứ hỏi và rồi còn dấu chấm. Thôi thì, ta cứ chấm và cứ hỏi, như truyện kể ở bên dưới, chỉ để hỏi:

 

“Cả nhà đang ngồi ăn cơm vui vẻ, bỗng ông con

nhỏ, hỏi một câu rất lãng xẹt:

            -Bố ơi, sao hồi xưa bố lại lấy mẹ?

            Ông bố quay qua vợ, cất cao giọng, giõng dạc nói:

-Đấy, Bà thấy chưa? Đâu phải có mình tôi là thắc mắc, mỗi chuyện ấy!

 

            Thật vậy, những câu hỏi-đáp trong đời, vẫn là những câu nói có hơi buồn. Buồn như câu: trong đời đi Đạo, bạn có thấy buồn hay vui? Câu này, cũng từa tựa như câu nói ở trên, về nhạc Việt. Thôi thì, xin cứ “để lại cho em”, một chốn nợ đời, tha hồ mà hỏi tới. Rất tuỳ tâm. Tuỳ hỷ.

 

            Tuỳ tâm - tuỳ hỷ, còn là tâm trạng của rất nhiều người, ở nhà Đạo. Tuỳ là vì, dù ta có được dạy bảo khá nhiều điều, nhưng sao vẫn thấy thiếu. Thiếu hiểu biết. Thiếu thực hiện, trong vui say. Vẫn cứ là động thái của nhiều người, tuy có tai nghe. Mắt thấy. Hệt như xưa Chúa căn dặn:

 

            “Ai có tai thì nghe”

            (Mt 11: 15/Mc 4: 9/Lc 8)

 

            Hôm nay, nhiều người vẫn có tai, và có lòng đấy chứ, nhưng vẫn cứ hỏi. Hỏi nhiều điều. Cả những điều thấy rõ như ban ngày, mà vẫn như chưa nghe biết. Hỏi, như hỏi những câu ở bên dưới:

 

“Vừa qua, tôi có ông cậu qua đời, sau khi đã được rước Chúa vào lòng và lĩnh nhận bí tích xức dầu thánh, đầy đủ cả. Cậu còn là người rất ngoan đạo. Tôi cũng hiểu rằng Hội thánh thuận ban cho phép lành toàn xá vào lúc thập tử nhất sinh, cho người nào biết ăn năn cầu nguyện, trong cuộc đời. Phải chăng điều này có nghĩa là, ông cậu của tôi bảo đảm là ông đang được hưởng nhan thánh Chúa, trên thiên đàng? Mà, đã lên thiên đàng rồi, thì tôi khỏi cần cầu nguyện cho cậu, mà làm chi? Rất mong được linh mục giải đáp cho tôi thắc mắc này. Xin cảm ơn.”

 

            Câu hỏi của các độc giả như kiểu trên, xem không có vẻ gì buồn. Dù liên quan đến những chuyện buồn, nhưng rất thánh. Thế nhưng, câu trả lời có vui không, đó mới là vấn đề. Và vấn đề như thế, xin dành để cho người đọc, những bạn và tôi đang đọc và sẽ đọc, những giải đáp, như sau này:

 

“Xin bắt đầu câu giải đáp, bằng việc trở về xem lại giáo huấn của Hội thánh nói về ơn toàn xá, trước khi trả lời cho câu hỏi của ông/bạn trích ở trên.

Tất cả mọi lỗi tội đều tác hại đến sự vinh quang của Thiên Chúa, ảnh hưởng lên chính người mắc lỗi và cả vào Bản Thể nhiệm mầu là Hội thánh Chúa. Bản thân chúng ta chẳng thể nào hình thành đủ nhiều tác hại do chính mình tạo ra, nhất là việc phản chống tính nhân từ hiền hậu vô biên của Thiên Chúa. Nhưng may thay, Thiên Chúa đầy lòng xót thương đã chỉ cho phép ta hình thành mức độ tác hại ít hơn là lỗi tội của ta, đáng ra phải thụ lĩnh.

Dầu sao đi nữa, ta vẫn có thể làm điều gì đó, khả dĩ giúp ta chuộc lại các lỗi lầm trước khi được Chúa cho đạt chốn thiên đường. Hệ quả của các lỗi tội ta vi phạm, được biết dưới danh xưng luận phạt tạm thời. Sách Giáo Lý Hội thánh Công giáo mô tả việc này như “cái đuôi đính kèm không lành mạnh nơi thụ tạo, cần được tẩy rửa cho sạch ngay trên dương thế, hoặc sau khi chết, ở vào tình trạng được gọi là chốn Luyện hình” (GLHTCG #1472)

 

            Nếu bạn và tôi, ta hợp lòng với tác giả của bài “Cuối cùng, cho một Tình Yêu”, là Trịnh Công Sơn, hẳn sẽ được nghe những lời na ná như:

 

            “Một lần yêu thương, một đời bão nổi

Giã từ giã từ,

Chiều mưa giông tới, em ơi ơi…”

(Trịnh Công Sơn – bđd)

 

            Đời bão nổi. Một lần giã từ, đâu chỉ khi ta còn sống. Vẫn cứ nổi, cả vào khi ta nghe ý kiến của người nhà Đạo, rất như sau:

 

“Mọi người đều có thể tự mình thanh luyện/tẩy rửa hoặc thực hiện công việc tạm luận phạt, bằng nhiều cách. Một trong những cách rất hay, là ngang qua việc lành thiện ta làm trong tình trạng tràn đầy ơn thánh, cả vào lúc nguyện cầu. Đọc kinh. Hãm mình. Đối xử tử tế với người khác. Chấp nhận thánh giá cuộc đời đang mang đến, vv. Một cách hay nữa, là làm một số công việc mà Hội thánh chuẩn thuận ơn lành đại xá, hoặc ân xá.

 

Ân xá, được Sách Giáo lý định nghĩa như “một miễn chuẩn trước hình phạt tạm, từ Thiên Chúa, do lỗi phạm ta mắc phải, nhưng đã được thứ tha. Tức là, những việc mà người tín hữu Công giáo được xá giải và nhận lãnh, chiếu theo một số điều kiện được đưa ra, ngang qua hành động của Hội thánh. Bởi, với tư cách là người thừa tác cứu chuộc, Hội thánh có thể hoá giải và áp đặt với quyền năng vốn có từ kho tàng châu báu, do Chúa Kitô và các thánh chuẩn thuận.” (SGLHTCG #1471)

 

Nói cách khác, khi chúng ta có được ân xá do Hội thánh chuẩn thuận, ngang qua ân huệ Chúa ban và sự cầu bàu của các thánh, cũng hoá giải một phần hoặc toàn bộ hình phạt tạm, do các lỗi ta vi phạm, tạo ra. Khi ơn đại-xá xoá bỏ tất cả mọi hình phạt tạm, thì việc đó được gọi là toàn xá. Và nếu chỉ xoá bỏ một phần nào thôi, thì gọi là tiểu xá. (GLHTCG #1471)

 

            Tiểu xá hay toàn xá, cũng đã làm cho nhiều người, trong đó có người nghệ sĩ, cất tiếng hát:

 

            “Bây giờ anh vui,

            một linh hồn rỗi

            tình yêu xứ này.”

(Trịnh Công Sơn – bđd)

 

            Đọc thêm chút nữa, ta sẽ thấy đức thày nhà mình, nói rõ hơn:

“Như ông/bạn có đề cập trong thắc mắc cần giải đáp, thì: trong số các ơn đại xá được Hội thánh chuẩn thuận, có một ơn được phú ban vào lúc người nào đó sắp từ trần. Và, người này đã làm một việc, hoặc đã nguyện cầu theo cách nào đó, trong đời mình; nhờ đó mới được lĩnh nhận ơn đặc biệt này. Đại xá, là ơn do chính Hội thánh chuẩn thuận, mà chẳng cần có vị linh mục hiện diện, ban bố phép lành.      

 

Muốn được ơn đại xá (hoặc toàn xá), người thụ hưởng phải ở trong tình trạng lành thánh, không dính bén lỗi phạm nào, kể cả các lỗi nặng/nhẹ, và phải đến toà cáo giải để nhận bí tích giải tội, và phải rước lễ ít ngày trước hoặc sau đó; và nhất là, phải cầu nguyện theo ý Đức Giáo Hoàng.

 

Trong trường hợp ông cậu của ông/bạn đang vào lúc sắp ra đi, ta có chắc chắn là ông sẽ đi thẳng vào chốn thiên đường, không? Không nhất thiết là như thế. Dù ông đã hoàn thành mọi trách vụ và điều kiện coi như trong tình trạng lành thánh và lĩnh nhận bí tích, ông vẫn phải từ bỏ mọi lỗi phạm nào còn vướng víu, kể cả các lỗi nặng/nhẹ. Nghe qua thấy dễ, nhưng đây có lẽ là một trong các điều kiện khó khăn, để hoàn thành. Bởi, việc ấy giả thiết là: ta thương yêu Chúa hết lòng. Hết trí khôn. Tuy nhiên, giả như có người nào không hoàn thành mọi điều kiện cần làm để có được ơn toàn xá, thì người ấy vẫn cần đến ơn tiểu xá.

 

Thêm vào đó, nhằm đạt chốn thiên đường, mọi người cần được giải thoát khỏi mọi hình phạt tạm thời, do lỗi phạm mình gây ra, thì cũng nên hối hận về các lỗi mình mắc phải, kể cả các lỗi nặng/nhẹ. Và, cũng nên, bỏ đi mọi thói tật xấu xa/hèn yếu đã vướng víu do lỗi của mình.

 

Hiểu như thế, ta hãy nên nguyện cầu và tham dự các thánh lễ được cử hành để cầu bàu cho các linh hồn đã ra đi, dù các vị ấy đã lĩnh nhận ơn toàn xá, lúc sinh thì. Bởi, thật tình, ta cũng chẳng biết chắc là các vị ấy có đi thẳng vào chốn thiên đường, hay không.” (x. John Flader, The Catholic Weekly 5/8/2007)

 

            Đấy, ơn toàn xá là như thế. Có thể, cũng là ý nghĩa của ca từ “một linh hồn rỗi”, mà người viết nhạc tên Công Sơn, chợt nghĩ. Nhưng thôi, người nghệ sĩ có nghĩ hay không nghĩ đến chuyện này, ta vẫn còn đôi câu hát từ môi miệng của ông:

 

            “Sầu thôi xuống đầy,

làm sao em nhớ

Mưa ngoài sông bay,

lời ca anh nhỏ,

nỗi lòng anh đầy..”

(Trịnh Công Sơn – bđd)

 

            Nỗi lòng của anh, ôi nghệ sĩ. Hoặc, nỗi lòng của tôi hay của bạn, ôi bạn Đạo. Bao giờ cũng đầy. Rất đầy là đằng khác. Đầy đến độ, tôi và bạn, chẳng cần lo toan, những là “chiều mưa giông tố”, “hai bàn tay đó”, “hai bàn chân mỏi”, mỏi vì mong và chờ, nữa. Nhưng dám nói:

 

            “Bây giờ anh vui

            một linh hồn rỗi,

            tình yêu xứ này.”

 (Trịnh Công Sơn – bđd)

 

            Bởi, Tình Yêu đó, đã có từ Đầu Hết và Cuối Hết. Bởi, Thiên Chúa sẽ chẳng giáng phạt và bỏ rơi bất cứ ai. Cả những người phạm lỗi. Rất nặng/nhẹ. Chống lại Người. Như Kinh Sách có nói:

           

“Thật vậy Đức Chúa,

Thiên Chúa của anh em

là Thiên Chúa từ bi:

Người sẽ không bỏ mặc anh em,

sẽ không tiêu diệt anh em.

(Đnl 4: 31)

 

            Lại thêm nữa, một khi ai đã tin Thiên Chúa là Tình Yêu, thì người ấy sẽ chẳng bao giờ nghi ngờ lòng nhân hậu, và tình lân tuất của Người.

 

             Và, người nghệ sĩ đã có lý, khi ông đặt đầu đề cho bài hát có ca từ “ừ thôi, em về”, là “Cuối cùng cho một tình yêu”. Tình Yêu đây, trải dàn cả lúc ta còn sống. Lẫn vào lúc sắp chết. Vào phút đầu sự. Hay phút cuối cùng cuộc đời, vẫn cứ là: cho một Tình Yêu.       

 

            Trần Ngọc Mười Hai

            Vẫn cứ tin

vào lòng nhân từ thương xót

của Đức Chúa.

Vào mọi lúc.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

18.“Đi với tôi đếnphương

trời xa”

Trăng nước êm. Một trời đầy hoa
Bạn của Hằng Nga; và vô cùng thanh thú
lắng tai nghe nhạc réo lững lờ.”

(Canh Thân – Đi Với Tôi Đến Phương Trời Xa)

 

(Xuất Hành 20: 3-5)

            Lại đi. Đi đâu, mà sao không thấy chán?

Thật ra, lời mời gọi những đi và đến, “đến phương trời xa”, đà gửi đến với mọi người. Lâu nay. Dạo ấy. Nhưng, đã mấy người từng biết đến. Biết, nhưng không hồi và chẳng đáp. Biết, những chỉ xem như một lời mời, và vẫn bỏ lửng.

            Lời mời từ nhà Đạo hôm nay, thật ly kỳ. Lý thú. Vẫn nghe quen. Và nghe rất quen, nên chẳng ai buồn để ý. Nếu để ý, sẽ thấy lời mời của Ngài da diết. Thiết tha. Trìu mến. Rất như sau:

 

            “Trong những ngày ấy,

Gioan Tẩy Giả xuất thân rao giảng

trong sa mạc xứ Giuđê rằng:

‘Hãy hối cải , vì Nước Trời đã gần bên.”

(Mt 3: 1-2)

 

            Mời gọi thân thương/trìu mến, là lời mời từ Đấng Thánh, rất dịu hiền. Trong lúc đó, “Lời gọi chân mây” ở đời thường, chỉ giản đơn. Nhưng sao nhiều người vẫn lắng nghe:

 

            “Đi với tôi đến chốn trời xa

Bên suối mơ là nhà của ta,

tay đàn miệng ca và mơ màng ta múa

Gót chân theo nhịp bước thần tiên.”

(Canh Thân –bđd)

 

            Nhịp bước, có thần tiên? Hay vẫn cứ châu về, mà tưởng nghĩ. Tưởng và nghĩ, sẽ thấy còn đó nhiều điều, rất vấn vương. Như truyện kể nhè nhẹ một suy tư văn hoá hơi cường điệu. Vu vơ. Như một dẫn nhập vào những chuyện khô khan. Sâu sắc. Thời xưa cũ. Kể, là kể rất gọn và nhẹ, như sau:

 

“Lâu nay, có người để công sức và thì giờ vào chuyện nghiên cứu, những văn thơ về chữ “ăn”, như sau:

Hồi nhỏ, những “ăn vóc học hay”. Hễ xin tiền ba mẹ “ăn vặt”, không được là “ăn vạ” liền.

Lớn lên, học đòi “ăn diện”, rồi lang bang tán gái/theo giai không qui cách, những là “ăn nói bậy bạ”, bèn bị “ăn bạt tai”… đau điếng.

Khi có vợ, lại không thích chuyện cùng “ăn (và cùng) nằm”, đến khi “ăn năn” thống thiết, thì  đã quá muộn; đành, “ăn đời ở kiếp” với nhau theo cách “ăn khế trả vàng”. Có khi gặp phải số “ăn mày” hoặc “ăn hại đái nát” cũng là chuyện thường ngày, ở chốn nợ đời.

Thoạt khi “ăn nên làm ra”, những là “ăn sung mặc sướng”, rồi cứ thế sanh tật “ăn gian nói dối” với chồng/vợ là mình “đi ăn cơm khách”, mà thực ra chỉ là “ăn vụng”, “ăn chạ”, hoặc giả: “ăn bánh trả tiền”. Trót lọt thì không sao, gặp tai hoạ, chỉ có nước mà “ăn cám”, hoặc “bỏ ăn” lâu ngày, thì có mà “ăn ớt”.

Nhằm khi mất việc, nếu chẳng “ăn không ngồi rồi”, cũng đành “ăn theo”, “ăn bám”, “ăn hại” vợ con. Được lúc khấm khá chút đỉnh, lại đã ra mặt “ăn qụyt” hoặc xuống cấp tồi tệ, đành lủi thủi “ăn mày” cho qua ngày, đoạn tháng.

Vốn quen thói “ăn không” mà chẳng chịu làm, hoặc ngồi mát “ăn bát vàng” cũng lại cương bạo, bèn làm chuyến “ăn trộm”, “ăn cắp”, thậm chí còn “ăn cướp”, hoặc “ăn hàng”, một vài nơi.

Gặp khi chơi bạc nhằm lúc thắng lớn, bỗng đứng dậy bỏ về, bị đồng bàn chê là dân “ăn xi non”, khó khá. Tệ hại hơn, đã ăn xi non như thế mà vẫn vênh váo, ngạo mạn, thì chỉ có nước bị chúng cho “ăn đấm”, “ăn đá”. Chán rồi, đành quay về nhà để “ăn cháo”, hoặc “ăn cơm nhà vác ngà voi” cho thiên hạ coi thường. Kết cục kiếp người chỉ “ăn chơi” chốn nợ đời, thật đáng chán. Lúc về già, đành theo các cụ “ăn oản”, “ăn xôi”, đứng ngồi ở trên đó, chốn cao sang hương khói, kiếp “ăn tằm”, vẫn đứng nằm để con cháu/người người, còn cúng bái.

 

            Về với nhang đèn/cúng bái đầy tưởng nhớ, có tôn giáo ít nhiều mang nặng ảnh hưởng từ các tục lệ dân gian nay về thuần hoá, làm thành văn hoá riêng, đạo mình.

            Vừa qua, có một bạn đạo gửi về ban biên tập báo The Catholic Weekly ở Sydney, đưa ra vài ba thắc mắc, với hỏi han. Han hỏi, hỏi và han, là để xem đức thày mình nghĩ thế nào về việc khói hương xì sụp, nhiều vái lạy. Vái thần linh. Nhìn ảnh hình. Tượng điêu khắc. Những hoa hoè mầu sắc, như sau:

 

“Tôi có một bạn thuộc giống giòng hào kiệt, rất Tin Lành. Đến với tôi, không để rủ rê đôi điều theo kiểu “đến phương trời xa xôi” nào đó, mà hỏi xem Đạo mình sao vẫn có những ảnh tượng/hình hài, chốn thánh thiêng, nhiều đến thế? Anh có trích dẫn giới răn Lời Chúa, rõ ràng điều thứ nhất, rằng: Đạo Chúa từng cấm đoán mọi hình thức tôn thờ ngẫu tượng, cùng bày biện ảnh hình lền khên, ở khắp chốn. Anh còn thêm: phải chăng Đạo mình là đạo “phụng thờ” những tượng cùng ảnh, theo cách khác? Bản thân tôi, khi nghe hỏi, thấy mình không đủ tư cách và chữ nghĩa để đối đầu. Giải oan. Vậy theo ngài, ta có cách nào hay nhất, để giải toả các nghi nan/kỳ thị, không đúng ấy? Xin trả lời vài hàng cho biết. Rất tri ân.”

 

            Hỏi đây, là hỏi những câu tế nhị. Những là tinh tế/ý nhị, nên đức thày lần này không tiện ghi danh người han hỏi. Đức ngài, đi ngay phần giải thích, có trích có dẫn như sau:

 

“Thật ra, thì giới răn đầu rút từ sách Xuất hành, Cựu Ước, gồm lời trích dẫn vỏn vẹn chỉ thế này: “Các ngươi sẽ không có các thần khác, trước Nhan Ta.”(Xh 20: 3) Giới răn đầu, tuyệt nhiên không nói gì về ảnh hình, hoặc tượng đúc/khắc. Nếu đọc tiếp, ta sẽ thấy những lời khuyên dạy, được kể đến:

“Ngươi không được tạc tượng, vẽ hình bất cứ vật gì ở trên trời cao, cũng như dưới đất thấp, hoặc ở trong nước phía dưới mặt đất, để mà thờ.

Ngươi không được phủ phục trước những thứ đó mà phụng thờ: vì Ta, Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, là một vị thần ghen tương. Đối với những kẻ ghét Ta, Ta phạt con cháu đến ba bốn đời vì tội lỗi của cha ông. Còn với những ai yêu mến Ta và giữ các mệnh lệnh của Ta, thì Ta trọn niềm nhân nghĩa đến ngàn đời..” (Xh 20: 4-6)

Từ đó, ta cứ tưởng: Hội thánh hằng chôn giấu đôi điều hàm ẩn ở giới răn Giavê Thiên Chúa truyền thực hiện. Thực hiện, hầu lý giải hành vi sai sót khi con dân mọi thời thực thi điều Chúa ngăn cấm: tạc tượng. Khắc ảnh, nhiều đấng thánh.

Quả thật, Hội thánh chẳng khi nào làm thế. Việc Hội thánh làm, là giùm giúp con dân nhớ nhiều về điều Chúa dạy. Nhớ truyền thống. Nhớ, phương cách giản đơn, đem đến cho ta văn bản ngắn gọn, dễ dàng mà ghi nhớ trong lòng. Hỏi rằng, sao ta lại lập ảnh/tượng Chúa, Mẹ, cùng thần thiêng các đấng, mà treo/đặt ở nhà thờ. Cả, phạm vi riêng tư nơi ăn chốn ở, khi Giavê Thiên Chúa đã nhất mực ngăn cấm?

Trước nhất, nên nhớ: Giavê Thiên Chúa không những ban bố cho Môsê 10 điều răn, để tuân giữ, Ngài còn khuyên dạy ông lập một số ảnh hình, trong đó gói ghém hai tổng thiên sứ hoặc các Kêrubim có cánh xoè, lập Bàn Khám. (Xh 25: 18-20). Đồng thời, Ngài còn cho phép tạo rắn lửa bằng đồng, từng cứu sống nhiều người khi nhìn lên ảnh hình của rắn, đều đã sống.(Ds 21: 8-10)

 

            Mời gọi đây, có tình tiết cũng tha thiết. Quyến luyến. Những mến thương. Thương mến mừng vui, như ý/lời người nghệ sĩ kể ở trên, từng diễn tả:

 

            “Đi với tôi đến chốn trời xa,

đâu có chi đẹp bằng đời ta;

mặc ngày dần qua, nào vang lừng câu hát

Dắt tay nhau về chốn bồng lai…”

 (Canh Thân –bđd)

 

“Chi đẹp bằng đời ta, chốn lai bồng”, là chốn vui có lời khuyên. Có diễn giải. Về, những thắc mắc, hỏi han rất tâm đắc. Và, đức thày nhà Đạo ở Sydney, lại đã tiếp tục giòng chảy, một trả lời:

 

“Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo có giải thích: các ảnh hình trong Kinh Sách muốn nói đến hình ảnh Đức Kitô, nên đã diễn tả: “Dù gì đi nữa, rõ ràng là ta thấy ở Cựu Ước, chính Giavê Thiên Chúa đã ra lệnh/cho phép lập ảnh hình, là để diễn tả, cách biểu trưng, ơn cứu độ do Ngôi Lời nhập thể, như bằng chứng là ơn của Chúa đã ở với “rắn đồng”, với Bàn Khám và Thiên sứ Kêrubim.” (GLHTCG #2130)

 

Rõ ràng, điều Thiên Chúa cấm đoán không phải là việc thiết dựng chỉ bao nhiêu ảnh tượng thôi đã đủ, mà là: không được phép phụng thờ ngẫu thần do người làm: “Các người không được phủ phục trước những thứ đó, mà phụng thờ.” (Xh 20: 5)

 

Ta nhận ra được điều này: khi dân Do Thái, lo ngại sự việc Môsê ở trên núi, quá lâu không thấy xuống; họ “bèn lập bò con bằng vàng, mà lạy thờ.” (Xh 32: 1). Vì thế, Thiên Chúa nói với Môsê: “Hãy xuống đi, vì dân ngươi đã hư hỏng rồi, dân mà ngươi đưa lên từ đất Ai-cập. Chúng đã vội ra ngoài con đường Ta truyền dạy cho chúng. Chúng đã đúc một bê con, rồi sụp xuống mà lạy nó, tế nó và nói: "Hỡi Ít-ra-en, đây là thần của ngươi đã đưa ngươi lên từ đất Ai-cập." (Xh 32: 7-8). Xem thế, thì đây là tội phạm thánh, dám thờ lạy ngẫu thần, là điều mà giới răn thứ nhất, từng đề cập.

 

Khi Thiên Chúa chấp nhận trở thành người, qua xác phàm trần tục hiện diện nơi Đức Kitô thì, trong chừng mực nào đó, Ngài ban cho ta ảnh hình của chính Ngài. Đây cũng là điều mà thánh Phaolô từng viết về Đức Giêsu Kitô, bằng lời lẽ như sau: “Thánh Tử là hình ảnh Thiên Chúa vô hình” (Co 1: 15) Bằng vào việc đến với thế gian, như Chúa đã làm, Hội thánh coi đó là việc chính đáng, hợp pháp, để lập hình/tượng các thánh nhân.

Khi xưa, các bè chủ trương đập phá mọi ảnh tượng Hội thánh lập vào thế kỷ thứ 8, như thế, họ đã chối bỏ tính đạo hạnh trong việc thiết lập ảnh hình và tượng khắc. Để đáp lại, Công Đồng Nixê thứ hai, năm 787, công bố chấp nhận hình thức ảnh/tượng, hội thánh lập ra. Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo cũng đã giải thích:“Bằng vào nhiệm tích Nhập thể, Công Đồng Chung lần thứ bẩy diễn ra ở Nixê, đã xác chứng chống đối những người thuộc bè chủ trương phá hại việc tôn kính ảnh/tượng không chỉ của Đức Chúa mà thôi; nhưng cả các ảnh/tượng Đức Mẹ, các thiên sứ, và các thánh nam nữ. Bằng việc xuống thế làm người, Ngôi Lời khởi xướng đưa vào với thế giới “nhiệm cục cứu độ” bằng những ảnh hình, mang tính người.” (GLHTCG #2131)

 

Trả lời câu kế tiếp của ông/bạn, tôi có thể bảo: chúng ta không hề “phục lạy/phụng thờ” ngẫu tượng cùng ảnh hình, của ai hết. Ta dùng thứ ấy, chỉ để nhắc nhớ mọi người về về bản vị mà các đấng hình dung ra, tựa hồ ở mỗi gia đình, ta vẫn có thói quen trưng bày ảnh hình người thân yêu của ta, để thương và để nhớ, mà tôn kính.

 

Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo cũng đã dựa vào lời của thánh Baxin, để giải thích: “Sự việc tín hữu Đức Kitô tôn kính ảnh hình cùng tượng thánh, đã không đi ngược lại giới răn thứ nhất, tức giới răn ngăn cấm ta thờ cúng ngẫu thần, do người làm.

 

Quả thật, ‘khi ta tỏ lòng tôn kính ảnh/hình các bậc hiển thánh, sự tôn kính ấy sẽ đạt tới đấng mà ta kính tôn”. Và, “khi ta cung kính ảnh hình của người nào, là ta đang cung kính chính đấng bậc được thể hiện tạo tác nơi ảnh/hình đó.”(GLHTCG #2132)

 

            Tôn kính hay cung kính, vẫn là hành vi rất kính và rất tôn. Tôn và kính, sự lành thánh của các  đấng thánh. Rất hiền lành. Tôn kính/kính tôn, là ta biết kính và biết trọng đấng thánh. Khi đó, ta sẽ thấy vui trong lòng, mà bắt chước các ngài. Bắt chước, rồi sẽ vui. Vui, như người nghệ sĩ đã từng có những ngày vui, nên mới hát:

 

            “Có ai đâu vui như tôi           

            tuy không có dài hơi

            người nào chán và buồn,

tình đời

            đều cùng yêu tôi.”

 (Canh Thân –bđd)

 

            Cuối cùng, lập ảnh hình và tượng khắc, là để ghi nhớ sự lành thánh của đấng bậc rất lành và rất thánh. Là, mời gọi từ ngàn xưa. Lời mời gọi ta ra đi, mà chóng đến với những người lành và thánh. Rất thân yêu. Ở Nước Trời lành mạnh, có các thánh đang hiện diện. Và, trông chờ một hồi đáp. Trông và chờ từ dân con nhà Đạo, là chúng ta. Hôm nay. Ảnh và tượng, nhất định là lời gọi mời, từ muôn nơi. Đạo/đời. Lành mạnh.

 

            Trần Ngọc Mười Hai

            Vẫn tôn và kính

            những gọi mời từ đấng thánh.

            Qua ảnh hình.

Nhiều mầu sắc.

 

           

 

 

 

19. “Người làm xiếc đi dây rất khó”

Nhưng không khó bằng làm một nhà văn”

(Phạm Duy – Lời mẹ dặn)

 

(Hc 2: 12)

Bần đạo không phải là nhà văn. Chắc chắn, là như thế. Cũng, chẳng là gì cả. Chỉ làng nhàng, viết nhăng viết cuội đôi ba hàng, mà luận phiếm. Phiếm bậy bạ, để mình vui. Đời cũng vui. Chứ, nào dám mạo nhận là có tay/chân trong ngoài, làng thơ với âm nhạc! Không. Bần đạo chẳng khi nào dám mạo nhận tước vị ấy. Rất sợ. Sợ, vì chưa bước vào đã thấy khó. Khó lòng. Khó chịu. Rất khó khăn.

Mới đây, bần đạo lại bắt chụp được đôi giòng tư tưởng tuy không lạ, nhưng được coi là phương châm. Phương châm để sống, những khó/dễ thấy ở đời. Khó/dễ, tuỳ bạn bè cứ tách bạch:

 

-Dễ là khi, bạn có tên trong sổ địa chỉ, của người khác;

khó là lúc, bạn tìm được chỗ đứng, ở tim ai.

-Dễ là khi, bạn đánh giá lỗi lầm của người khác;

khó là lúc, bạn và ta nhận ra sai trái, của riêng mình.

-Dễ là lúc, mình làm tổn thương tình bạn, xưa rày vẫn quý;

khó là khi, mọi người cố ý gắn hàn vết thương đau.

            -Dễ là khi, nói với nhau về tha thứ, cho kẻ khác;

            khó là lúc, để người khác thứ tha lỗi lầm mình.

            -Dễ là khi, bạn và ta ngủ say trong chiến thắng;

            khó là lúc, ta và bạn cố gắng nhận mình bại trận.

-Dễ là khi, ta bận rộn chuyện yêu thương, chăm sóc,

khó là lúc, phục vụ mọi người, cả người mình không yêu.

-Dễ là khi, mình chỉ lo phẩm bình hành xử của người khác;

            khó là lúc, cần tự kiểm để canh tân.

            -Dễ là khi, mình cứ tiếp tục lỗi phạm với sai trái;

khó là lúc, ta muốn ngưng lại để rút bài học,từ lầm lỗi.

            -Dễ là khi, mình chỉ biết tiếp nhận và tiếp nhận;

            khó là lúc, ta thực hiện việc cho đi và cho mãi.

            -Dễ là khi, cứ mải khuyên người về nhiều chuyện;

khó là lúc, có nhiều điều tốt mà ta chỉ làm mỗi một mà thôi.

 

            Vào vườn hoa phương châm được trích ở trên, ta sẽ lại gặp đôi lời vàng nhận định, rất nên làm. Làm, với quyết tâm. Làm, bằng nhiệt huyết. Là những việc, bạn và mình vẫn nghe quen.

            Nghe rất quen, những câu hỏi cũng dễ và cũng khó như giáo điều/ luật lệ, đời vợ chồng. Dễ/khó, cả về nơi tổ chức nghi thức hỏi/cưới, ngoài nhà Đạo. Như hỏi đáp bên dưới, do đấng bậc vị vọng phụ trách, có tiếng tăm:

 

“Tôi có người con gái, xưa nay chẳng khi nào làm việc gì khiến bố mẹ phiền lòng. Nhưng vừa qua, cháu và chồng, đồng lòng đưa ra một quyết định, là: chọn nơi cưới hỏi rất khác thường, làm bọn tôi chưng hửng, bối rối. Cháu định tổ chức lễ cưới, ở nơi vườn; chỉ có vị chủ sự làm chứng từ, cho hôn ước. Cứ sự thường, tôi rất bực mỗi khi phải giải quyết những chuyện rối rắm như thế. Nhưng, hôm nay, vì vẫn muốn hỗ trợ cho quyết định của các con, nhất là lại có liên can đến cuộc sống, của các cháu, như tôi vẫn từng làm. Vậy xin hỏi: tôi có quyền và có lý do để khước từ, không tham dự các nghi thức như thế, được không?”

 

            Quả thật, lần này, điều khó nghĩ, không chỉ tạo ra cho bố mẹ/người thân, thôi. Nhưng, còn gây lúng túng cho cả người giải đáp trường hợp riêng biệt, nhiều bận tâm. Nhưng, nói gì thì nói, lần này đấng bậc giòng họ Flader, lại có những lời đáp, rất chững chạc. Uyên bác. Rất đáng quan tâm. Và, sau đây là câu trả lời, của “đức ngài”:

 

“Trong rất nhiều câu hỏi, mà giới linh mục chúng tôi nhận được, tôi nghĩ: câu hỏi trên là thường xuyên nhất. Cũng còn là câu hỏi hóc búa, vào bậc nhất. Của dân gian.

 

Đã từ lâu, tôi vẫn suy nghĩ/đắn đo về chuyện này, cũng ở cột báo đây. Và cuối cùng, tôi quyết định là: nên trả lời ở cột báo này, là hay nhất. Thật ra, thì đây không phải là câu hỏi tầm thường. Nên, cũng không thể có câu trả lời, dửng dưng, hay đơn giản, được.

 

Trong đời người, đôi khi ta đứng giữa hai điều tốt đẹp, ta khó có thể hoà giải được. Và, cũng đang trong tình trạng rất có nguy cơ sụp đổ. Nếu chỉ đơn giản chọn một trong hai điều tốt đẹp ấy, thì hậu quả không tránh khỏi, là: sẽ gây thương tổn, đem đến với điều tốt bên kia, là điều thấy rất rõ. Dĩ nhiên, cả hai điều tốt đẹp này đều tôn trọng sự thật về tình yêu; và về hôn nhân giữa hai người cùng theo Đạo Chúa, cũng đối ứng với gia đình và bạn bè/người thân của một hoặc cả hai người trong cuộc.

 

Những năm về trước, tôi cũng theo dõi đọc nhiều bài viết về vấn đề này. Tức là, một trong các vấn đề, thường kéo theo thái độ chống đối, không tham dự lễ cưới, ngoài nhà thờ. Hoặc đại để, là như thế. Điều tôi nói ở đây, không phải để chuẩn bị cho dư luận, ngõ hầu chấp nhận cho lập trường ấy. Hay là, để tôi giải thích như thế này, cho nó rõ.

 

Lâu nay, mọi người vẫn coi là ta cộng tác với sự dữ/ác thần, nếu ta có ý định tham dự nghi thức cưới/hỏi nào, không được Hội thánh công nhận. Hãy để qua một bên vấn đề xem người sắp sửa lập gia đình có thực sự coi hành động của mình là mắc tội hay không. Điều này hãy khoan nói tới. Có thể là, việc ấy chẳng mắc tội tình gì. Nhưng, khách quan mà nói, làm như thế cũng không được đúng cho lắm.

 

Theo thần học luân lý của Hội thánh, thì mọi người chúng ta không nên cộng tác vào các hành động mang tính lỗi phạm, của người khác. Thế nhưng, có nhiều trường hợp vốn dĩ khiến ta cũng có thể uyển chuyển, làm như thế.

 

Trước hết, tất cả mọi người chúng ta không nên công khai hợp tác vào các hành động như thế. Nghĩa là, không nên thoả thuận và cũng chẳng được phép chấp nhận tạo cớ vấp phạm, gây nên tội. Đây có thể, là trường hợp của người nào đó, khi thấy không có gì là sai quấy nếu tham dự nghi thức cưới/hỏi, không hợp lệ.

 

Trường hợp nêu ở trên, bạn có nói là mình không thoả thuận/hài lòng với những gì con cái hiện đang làm. Xem như thế, việc bạn hợp tác với con, không mang tính công khai/chính thức, nhưng đúng hơn, nên gọi đó là việc xảy ra trên thực tế.

 

Thứ đến, trên thực tế, ta có thể hợp tác, chỉ khi nào có lý do chính đáng và thích hợp, để mà làm. Càng thích đáng hơn, như trường hợp thấy rõ là hợp tác theo vị thế ở xa xa, đối với người trong cuộc, thì khi đó, lý do mà người người cần xác chứng, lại càng mạnh hơn. Chẳng hạn như, với đám cưới ngoài đời, người chủ lễ, các phù rể và phù dâu danh dự là những người có quan hệ hợp tác rất gần, hoặc sát cạnh hơn bất cứ ai nào khác, chỉ đến với tư cách người tham dự, thôi. Không có sự hợp tác của người thân cận, tức những người gần gũi này, thì đám cưới chẳng thế nào tiến hành. Bởi, vị chủ trì nghi thức cưới hỏi và hai người làm chứng, đều là những người rất cần có mặt, ngõ hầu đám cưới ấy, mới hiệu lực.

 

Thông thường, chẳng ai có thể hợp tác với đám cưới này nọ đến mức độ thân cận, gần gũi hơn như thế. Còn người khác, chỉ đến với tư cách tham dự, chỉ có thể hợp lực/hợp tác, từ xa xa, mà thôi. Bởi lẽ, dù không có người tham dự theo tư cách ấy, thì đám cưới vẫn cứ tiến hành, như thường.

 

Và người tham dự theo tư cách “xa xa” chứ không thân cận, càng minh xác việc thân hành đến tham dự của mình, nếu họ có lý do tương tự, hoặc chính đáng hơn. Lý do, có thể là những nhận định/suy tính khi nghĩ rằng, nếu không đến dự tiệc được tổ chức như thế, sẽ có nguy cơ làm suy giảm mối tương quan với người trong cuộc, buổi hỏi/cưới.

 

Tuy nhiên, nhiều trường hợp, ta cũng không thể nào quyết đoán được như thế, một cách dễ dàng được. Bởi, đôi khi, chỉ sau khi quyết định không thể đến tham dự được, họ mới nhận ra rằng: hậu quả của việc mình không đến, đã tổn hại cho mối tương quan mật thiết giữa chính mình, với nhà đám. Nội một chuyện, không biết thế nào là phải/là đúng, cũng đem lại nhiều tranh luận và cãi vã đối với thắc mắc “không biết có nên tham dự những đám cưới/hỏi như thế”, không. Tranh và cãi, để khỏi phải quan ngại, sợ làm thương tổn cho mối tương quan vẫn có, đối với nhau.

 

Thành thử, nói thân cận/gần gũi là nói: việc tham dự đám cưới có liên quan hệ trọng thế nào với người thân quen, đang cưới/hỏi. Càng có lý do chính đáng, càng có lý để tham dự những buổi như thế, hơn nữa. Giả như người trong cuộc lại là bà con/thân thuộc của mình, thì khi ấy càng có lý để mà tham dự, hơn những người chỉ là họ hàng rất xa; hoặc, mới chỉ quen chỉ biết, có ít ngày.

 

Giả như, sau khi xem xét các tiêu chuẩn để đánh giá tình hình thực tế của buổi ấy, hễ ai nhất quyết tham dự đám cưới như thế, có thêm hai vấn đề, cần để ý. Thứ nhất, cần cho người trong cuộc tổ chức nghi thức cưới/hỏi kiểu đó, biết rõ là mình không đồng ý với chọn lựa mà đôi bạn đang thực hiện; nhưng, cũng giải thích rõ, rằng: mình muốn cho đôi bạn “trong cuộc” thay đổi ý kiến. Để rồi, sẽ tổ chức cưới/hỏi, ở nhà thờ.

 

Thứ đến, đôi bạn là “người trong cuộc” nhất định phải xa tránh, đừng làm cớ vấp phạm –điều mà người xưa hay gọi là “gương mù/gương xấu”- cho người khác, qua việc thân hành đến dự buổi nghi thức ấy. Làm như thế, cũng là để cho mọi  người khác (tức ngoại cuộc) biết rằng: mình rất bất đồng với chuyện tổ chức đám cưới/hỏi ngoài nhà thờ, như thế. Nhưng sở dĩ mình đến dự, là vì tự thấy bó buộc phải đến, ngõ hầu không luột mất đi; hoặc gây nguy hiểm, cho tương quan giữa mình với đôi bạn, trong cuộc.

 

Dù rằng như thế, thật vẫn khó để quyết đoán xem rằng: nên hay không nên dấn thân tham dự, buổi ấy. Nhiều trường hợp, người có liên hệ mật thiết với gia đình, cũng cảm thấy khác chính kiến, khác lập trường về cả vấn đề này nữa. Trong tình huống như thế, tốt hơn hết, hãy nên tìm đến mà hội ý các vị mục tử; yêu cầu được các vị giúp đỡ. Giúp, là giúp cho mình có quyết định nên làm thế nào, là hay nhất.

 

Ít ra cũng nên biết, rằng: đâu phải cứ tham dự nghi thức cưới/hỏi như thế, là đã phạm phải tội/lỗi tày đình, đâu.”

 

            Gợi ý, cốt để phiếm như trên, bần đạo không có ý bảo: thế nào thì có tội, khi nào thì không. Bởi, tội hay không, có bao giờ lên được tới Chúa. Bởi, Ngài là Đấng, chẳng bao giờ vương vấn “tội” và lỗi”, của một ai. Ngài là Đấng tách bạch, sạch bụi trần. Chẳng có gì, làm Ngài phải bận tâm, dù là tội. Chỉ bận tâm, là khi dân con của Ngài, cứ tranh cãi và chấp nê. Tranh và cãi, để bảo nhau, làm gì thì nên tội? Làm gì, thì không. Chỉ nên để ý đến chuyện: mình có làm gì khiến tạo cớ vấp phạm, hoặc gây tổn hại đến tình thương/tương quan, mình vẫn có. Với nhau. Với Chúa.

            Cứ như người nghệ sĩ làng thơ văn/âm nhạc, đã viết lên lời, như:

 

            “Có lần tôi chót nói dối mẹ, Mẹ ơi

            hôm sau tưởng phải ăn đòn.

            Nhưng không, nhưng không Mẹ tôi chỉ buồn

            Ôm tôi hôn lên mái tóc xanh rờn, Mẹ tôi trìu mến

            Ngày xưa trước khi cha con nhắm mắt

Cha đã dặn rằng nuôi con suốt đời

thành người chân thật.”

 (Phạm Duy – Lời mẹ dặn)

 

            Đặc biệt hơn, hãy nên về với nguồn mạch của những khuyên răn/dặn dò, từng nghe/biết:

 

            “Khốn thay những tâm hồn hèn nhát,

những bàn tay rã rời,

và người tội lỗi lập lờ nước đôi.”

            (Hc 2: 12)

 

            Thật ra, vấn đề ở đây, không là “lập lờ nước đôi”, cho bằng: cứ sợ tội. Sợ những lỗi phạm. Sợ quá, đến nỗi quên mất mục tiêu của Lời Vàng Kinh Thánh, là dựng xây “tương quan Nước Trời” mình phải giữ. Chứ, không có ý khuyến khích thái độ quá “sợ tội”, đến độ chẳng dám sống. Hoặc, chẳng màng gì tình thương/tương quan của chúng ta. 

Sợ tội, là tâm trạng không chỉ của một số khá đông người nhà Đạo. Mà, còn là của nhiều người ngoài Đạo. Ở dân gian. Dân gian hôm nay, có những truyện kể, về nói dối. Về thái độ, không trung thực. Thật thà. Cũng chả, có gì là vô tư. Thoải mái. Như truyện kể, ở bên dưới:

 

“Ngày nọ, một tiều phu mải chặt cây đốn củi, bên sông, mang về cho vợ. Bỗng chốc, dao/rựa rơi xuống nước, ở giữa dòng. Anh khóc rất thảm, đến độ Thượng Đế phải hiện đến, để ủi an. Thượng Đế hỏi, điều gì làm anh sợ hãi đến thế. Phải chăng, là tội? Anh đáp trả, chẳng qua vì dao/rựa rơi tuột xuống nước, hết gạo cơm. Bỗng, anh thấy Thượng Đế nhảy ào xuống nước, đem lên cây dao/rựa bằng vàng.Rồi Ngài hỏi:

-Phải chăng dao này của con?

-Thưa, không phải.

Thượng Đế lại nhảy xuống nước một lần nữa, cầm dao/rựa bằng bạc lên hỏi:

-Có phải là con dao này?

-Dạ, không phải cây ấy.Lần thứ ba, Thượng Đế lao mình lần nữa, đem dao/rựa bằng sắt lên, rồi hỏi:

-Ý hẳn là cây này?

-Dạ thưa, chính nó. Xin Ngài cho con nhận lại.

Thượng Đế thấy bụng dạ thật thà, của tiều phu đốn củi, rất xúc động. Bèn cho anh cả ba cây, liền lúc. Người tiều phu vui mừng, đem cả ba dao/rựa về nhà, mừng với vợ. Ít ngày sau, có dịp cùng vợ đi đốn củi ở bên sông. Gặp đường trơn trượt, vợ anh sơ ý tuột chân rơi tòm xuống nước.Anh tiều phu một lần lại nữa kêu van, than khóc. Những mong Thượng Đế lại thương tình, mà giúp đỡ.Thượng Đế hiện về, hỏi lý do của đau buồn lần này, thì ra mới biết người vợ hiền của tiều phu, nay mất tích. Trong nháy mắt, Thượng Đế cũng làm cử chỉ như hôm trước, lôi lên bờ người nữ phụ tuyệt vời mang dáng dấp Jennifer Lopez, một mỹ nhân. Thượng Đế hỏi:

-Phải chăng nữ phụ này, vợ của con?

-Dạ thưa Ngài rất đúng!

Thượng Đế thấy, lần này tiều phu ta hết thật thà, bèn nổi giận và quở trách:

-Sao anh dám lừa gạt, cả đến ta?

-Dạ, xin Ngài niệm tình tha thứ. Chẳng phải con gian dối hay lừa gạt Ngài. Nhưng, nếu con cứ nói không phải mãi, Ngài sẽ trao cho con cả ba thứ dao cùng rựa như thế, sức đâu con gánh được cả ba! ”   

 

            Người kể hôm nay, đưa ra triết lý của câu truyện, không phải để nói lên lý lẽ “của dối gian”, cho bằng: ngay trong các lời ta viện lẽ, nhiều lúc ta cứ tưởng người người đều gian dối, nhưng không hoàn toàn là như thế. Người tiều phu đây, không có ý dối gian, hay phạm điều thiếu trung thực. Nên cứ ngại. Ngại rằng, nếu giữ sự thật đúng như luật lệ, sẽ chịu phải hậu quả, mất tương quan. Hoặc, có tương quan tình thân với nhiều đối tượng, cũng khó xử. Và, bỏ hết tương quan, dù có là người thân cận, gần gũi nhất.

            Thành thử, triết lý của mọi việc, là: sự thể nào, cũng có đôi mặt. Vấn đề là, nên chọn phương diện nào, để vẫn giữ được tương quan mật thiết với người người. Chí ít, là người thân cận, gần gũi. Với Chúa. Với người. Không chỉ, những gì liên quan đến lề luật. Đến, từng nét chữ của lề luật. Như được dặn. Dặn, như bài “Lời mẹ dặn” có câu:

 

            “Mẹ ơi chân thật là gì

            Mẹ ơi chân thật là gì

            Mẹ tôi ôm hôn đôi mắt

            Con ơi! Một người chân thật

            Thấy vui muốn cười, là cười

            Thấy buồn muốn khóc, cứ khóc…

Yêu ai cứ bảo là yêu

Ghét ai cứ bảo là ghét.”

 (Phạm Duy – Lời mẹ dặn)

 

            Và lời cuối, người nghệ sĩ trong bài còn viết:

 

            “Người làm xiếc đi dây rất khó

            Nhưng không khó,

bằng làm một nhà văn

            Muốn trọn đời đi mãi không ngừng

            Trên con đường, của lòng chân thật.”

 (Phạm Duy – Lời mẹ dặn)

 

            Đường dài lòng chân thật, nghĩ cho cùng, xem ra cũng khó. Khó, khi quyết định. Khó, vào lúc ra tay. Vào những lúc khốn khó. Chỉ có Chúa, biết lòng dạ của mình. Và của người.

                        Trần Ngọc Mười Hai

                        Nhiều lúc cũng thấy khó.

                        Rất nhiều chuyện.                                              


20. “Chiều Chúa nhật buồn”

Nằm trên căn gác đìu hiu”

(Trịnh Công Sơn – Lời buồn thánh)

 

(Mc 1: 43)

                        Buồn là phải. Ai đâu, những buổi chiều vàng ngày của Chúa, mà cứ vò võ. Đìu hiu. Nằm dài, trên căn gác trọ, rồi thở than. Thật uổng phí. Mất thì giờ. Chẳng thế mà, nghệ sĩ lại vẫn hát:

 

                        “Ôi tiếng hát xanh xao của một buổi chiều,

                        Trời mưa, trời mưa không dứt,

                        Ô hay! Mình vẫn cô liêu!”

(Trịnh Công Sơn – bđd)

 

            Xanh xao. Đìu hiu. Cô liêu. Là, chuyện dễ hiểu. Thực chất, thì sự thể vẫn là những tình tự hiển nhiên, miên triền một chủ bại. Chủ bại, là tình tự gắn liền với cuộc đời. Của những người, lâu nay đà mang “lời buồn thánh”, quyết áp đặt ngày của Chúa.

            Thật ra, thực chất của vấn đề, mà người người thường tự hỏi, là: hờn căm, giận dữ, với “nổi sùng”, có là “lời buồn thánh”, chốn dương gian? Nếu không gọi đó là thánh, thì tại sao Chúa cũng buồn, và biết giận? Chúa buồn giận? Hay, Ngài chỉ có những lời, như sau:

 

                        “Ngài nghiêm giọng

đuổi anh đi, và bảo:

“Coi chừng, đừng nói gì với ai,

nhưng hãy đi trình diện với tư tế;

vì anh đã lành sạch…”

(Mc 1: 43)

 

            Nghiêm giọng, hoặc nổi “cơn giận lành” rồi đuổi đi, như khi Ngài vào đền thánh Giêrusalem thấy con dân vẫn cứ làm chuyện “không phải”.

            Các dịch giả và nhà chú giải Kinh thánh, thấy khó xử, khi giải thích thái độ của Chúa, lúc Ngài thấy chuyện “không phải”, do dân gian. Quở mắng? Phiền trách? Hoặc, dùng roi đuổi đám ô tạp, vì cứ mải miết làm điều “không phải”, kéo dài dài?

            Sự thường, thì: giận là trạng thái vẫn hay gặp, trong cuộc sống. Rất thông thường. Giận, là động thái quyết diễn lộ, hầu cho thấy: có cái gì đó không ổn xảy đến, ngoài ý muốn. Giận, có thể để giải bầy sự việc với người khác, không theo cung cách thường tình. Dễ thương. Giận, là một trong 7 thứ tình, luôn gắn liền vào với con người. Ta chỉ có thể kềm chế, chứ không tài nào dứt bỏ. Huỷ hoại. Mãi mãi.

            Trong sống đời đi Đạo, giận dữ luôn có mặt bằng nhiều hình thái. Có loại hình nhè nhẹ, chỉ một nét nhăn chạy dài trên khung trán. Một ánh mắt hung hăng, rất thoáng vụt. Hoặc, một cái nhún vai, hất hàm. Tỏ dấu bất bình. Cũng có thể, là động thái hung hăng, quăng quật. Bằng cử chỉ rất dữ tợn. Ngôn từ, thì chồng chất những chĩu nặng. Cử chỉ, thì như muốn ăn tươi nuốt sống, người bên kia. Có thể, là hành vi sử dụng ngoại vật, gây tác hại lên nhiều thứ. Chất chồng. Đậm đặc. Khó dừng.

            Không thể gọi đó là: “cơn giận lành”, vịn cớ rằng Chúa là Đấng mặc lấy hình hài của người phàm, nên Ngài cũng biết giận, để ta có thể men theo mà hận. Và oán. Rất phẫn nộ. Mà, nên hiểu nghĩa giận chỉ mang tính lành và thánh, khi nó tuyệt nhiên không gây hại. Một ai. Làm như thế, chỉ để điều chỉnh sự việc dầu “không phải”, nhưng sao vẫn thấy làm. Một việc làm, khó điều chỉnh. Đổi thay. Khó, trong vị thế. Số hiệu. Cường độ.

            Để minh hoạ, cơn giận lành và thánh, có lẽ cũng nên về với truyện kể nhè nhẹ, rất như sau:

 

“Trưa hôm ấy, hai ông cháu đưa nhau xuống phố xem thiên hạ đối xử với nhau thế nào, ở huyện đời. Huyện nhà Luân Đôn, chốn ồn ào, náo nhiệt. Rất dễ ưa. Đi ngang qua Viện Thứ Dân, cô cháu nhỏ bèn hỏi ông nội:

-Nơi đây, có phải là nơi mọi người trong đó cứ đùng đùng nổi giận, rồi cã vã, không thưa ông?

-Chẳng phải thế đâu, cháu ơi. Đây là chốn mà người lớn ta gọi là chính trường.

-Chính trường là gì vậy hả ông?

-Là… ừ, chỉ là nơi kiến tạo và phân phát những quyền hành.

Thế rồi, hai ông cháu chợt đi ngang một toà nhà, mà thiên hạ vẫn gọi là “ngân hàng”. Cô cháu liền hỏi:

-Ông ơi, kìa! Đây có phải là chỗ người ta vẫn thường làm cho mọi người vui không sao thấy ai cũng hả hê, như thế?

-Đây là nơi người ta đang làm kinh tế đó, cháu!

-Làm kinh tế là làm cái gì, hả ông?

-Là, kiến tạo và phân phát sự giàu sang/phú quý, đó cháu.

Rồi, hai ông cháu lại tiếp tục đi. Cứ đi và đi mãi, gặp một nhà thờ, cô cháu bèn hỏi:

-Còn đây nữa, thế ông bảo đây là cái gì hà? 

-Nhà thờ, đó cháu.

-Nhà thờ, là cái gì? Ở đây, người ta có nổi sùng, rồi cãi nhau không?

-Không đâu. Đây là nơi thờ phượng, mà.

-Thờ phượng là cái gì thế, ông? Nó có kiến tạo và phân phát gì không?

Ông nội nghe cô cháu hỏi câu hơi lạ, nhưng cũng đáp trả đôi ba tiếng, cho xong chuyện:

-Chỗ này đâu dính gì đến quyền hành và giàu sang/phú quý đâu mà giận hờn, cãi vã!

 

            À thì ra, chỉ chỗ nào dính dấp chuyện quyền hành và giàu sang/phú quý, người ta mới cãi vã, nổi giận. Cũng là câu đối đáp. Rất hay. Nên suy tư, nghiền ngẫm. Bởi, chừng như suốt nhiều thế kỷ, người người vẫn cứ đối đầu. Rồi lại, tranh giành quyền hành và giàu sang/phú quý, nên mới xảy chuyện giận hờn, cãi vã. Phùng mang, trợn má. Chính trị và kinh tế. Nhà nước với thị trường. Giàu sang đa mang quyền thế, vẫn là chuyện gây tranh giành cãi cọ, một chuyện thường. Nhà nước chính là ta, qua tư cách một tập thể. Có khả năng chế ngự. Quản trị. Nhiều phù phép. Thị trường hay kinh tế, cũng do ta, qua tư thế của nhiều chủ thể. Những vị chủ.   

            Ở chính trị - kinh tế, người đời cứ cãi vã - giận hờn hằng thế kỷ. Đó là chuyện đã đành. Hiểu được. Bởi, hễ dính dấp chuyện giàu sang, lan man quyền thế, thì người đời thường không nhả bỏ. Nhưng, chuyện nhà thờ/nhà thánh, sao vẫn thấy hờn căm, ngăm đe chuyện tranh chấp. Chấp nhận sao?

  

            Giận hờn và tranh chấp, xảy đến với kinh tế - chính trị, còn hiểu được. Là vì, người đời không thể san sẻ giàu sang - quyền lực cho nhau, với nhau được. Nhưng, với niềm tin và phụng thờ ở nhà Đạo, là địa hạt ta có thể và vẫn phải sẻ san, trao cho nhau. Sẻ và san, không chỉ tiền bạc/tài sản hoặc quyền hạn mà thôi, nhưng san và sẻ cả lòng thương, tình  bạn lẫn kiến thức, ảnh hưởng, về mọi thứ. Mới phải chứ?

            Quả thật, lòng thương, tình bạn, kiến thức cùng tầm ảnh hưởng, đều là những thứ mà mọi người đều có thể và cũng nên sẻ san. Là thứ, ta vẫn gọi là “thiết yếu”. Bởi, càng san sẻ, ta càng “có“ nhiều, và “có” thêm. Nói cách khác, quyền hành và giàu sang, là thứ trò chơi không tạo nên thực chất, cho một ai. Bởi, nơi trò chơi này, luôn luôn có một người thắng, một người thua. Nếu bạn thắng, tôi sẽ thua. Nếu bạn thua, tôi sẽ thắng. Còn, ở “san sẻ”, lại không như thế. Khi ta sẻ san, cả hai bên đều thắng lớn. Chẳng bao giờ có người thua. Không có bên thua. Chính trị - kinh tế, là đấu trường. Là, địa hạt của tranh đấu, với ganh đua. Giành giựt. Còn sẻ san, là địa hạt của hợp tác. Nâng niu. Đùm bọc.

            Có lẽ, vì không nắm được ý nghĩa của thư giãn với sẻ san, nên người nghệ sĩ lại những than cùng thở:

 

            “Chiều Chúa nhật buồn

Nằm trong căn gác đìu hiu

Tôi xin em năm ngón tay thiên thần

Trong vùng ăn năn, qua cơn hờn dỗi

Tôi xin năm ngón tay em đi vào cô đơn.”

(Trịnh Công Sơn – bđd)

 

            Chính vì, cứ đìu hiu - ăn năn - hờn dỗi, nên người người mới cô đơn. Muộn phiền. Buồn thánh. Trong khi đó, thánh nhân nhà Đạo vốn quyết tâm sẻ san. Thương yêu. Đùm bọc, nên đã nhắc:

 

“Chớ gì giữa anh em

đừng có chia rẽ, ghen tương, oán ghét,

cạnh tranh, vu khống,

nói hành, kiêu căng, hỗn loạn.”

(2Cr 12: 20)

 

            Sở dĩ, người nhà Đạo cứ vui. Cứ thương yêu - đùm bọc - sẻ san, là bởi người nhà Đạo vẫn biết và vẫn nhớ lời dặn của thánh nhân:

 

            “Anh em hãy ăn ở thật khiêm tốn,

hiền từ và nhẫn nại;

hãy lấy tình bác ái

mà chịu đựng lẫn nhau.”

            (Êp 4: 2)    

 

             Và người nhà Đạo, còn hiểu rằng: ở hiện trường kinh tế - chính trị, mọi người chỉ biết có đấu tranh, giành giựt, quyết chiến đấu, một mất một còn. Chính đó là ý nghĩa của cạnh tranh. Thi đấu. Với ganh đua. Ở nhà Đạo, là chốn mọi người vẫn chỉ muốn có hợp tác. Sẻ san. Giao ước. Do đâu có những đặc tính ấy? Chắc chắn, những thứ đó ta không tìm gặp được ở chính trường, lẫn thị trường. Mà chỉ có thể, ở hôn nhân. Gia đình. Dòng tu. Hội ái hữu. Cộng đoàn tình thương, thôi.

            Khác biệt, là ở chỗ: chính trường và thương trường chỉ thấy từng cá nhân, từng chủ thể o ép lẫn nhau, quyết giành lấy cho chính mình, của ngon vật lạ, mà hưởng thụ. Còn, ở cộng đoàn tình thương, các thành viên trong đó chỉ biết kính trọng lẫn nhau. Tin tưởng và yêu thương. Chăm lo – san sẻ những gì mình có người còn thua kém, thiếu thốn hơn mình.

Ở chính trường và thương trường, người người chỉ thấy có giao dịch, và kình địch. Còn, ở cộng đoàn, vẫn luôn là tương quan, và sẻ san. Chia sẻ những gì mình có. San sớt, những gì mình không thấy rất cần. Người nhà Đạo, không chỉ biết có thu thập. No say, những lợi nhuận. Có khi còn sớt chia cuộc sống, bằng những lời thề sống chết với nhau. Bên nhau. Và có nhau. Và mỗi khi làm vị gì lành và thánh, đều vẫn quyết không làm cho riêng mình. Chỉ một mình mình. Mà, là tất cả.

Đó chính là ý nghĩa của cuộc sống có tương quan. Mà, tương quan là sự hài hoà. Bình an. Vô vị lợi. Chính vì thế, người nhà Đạo công chính và đích thực, phải là người luôn vui sống. Hiền từ. Chỉ chú trọng đến những tình tự tích cực trong 7 thứ tình. Chứ không phải chỉ biết có tranh, và giành. Giành ăn. Giành sống. Giành quyền.

 

Chính vì thế, khi có tương quan với Chúa, với Hội (của các) thánh, người nhà Đạo không cầu “xin”, mà chỉ cầu nguyện. Cầu và nguyện, không cho mình. Nhưng cho người. Cho mỗi người. Và mọi người. Như lời cầu của ai đó, ở bên dưới. Như một truyện kể của dân con nhà Đạo, vẫn nguyện cầu cùng Chúa, như sau:

 

“Con cầu Chúa,

phù hộ thương ban cho người thân cùng bạn hữu của con,mãi được khoẻ mạnh và hạnh phúc.”

Chúa nói:

-Nếu Ta chỉ cho họ có 4 ngày thôi.

Người đệ tử lại nguyện cầu:

-Thế thì, Chúa cho họ được khoẻ mạnh và hạnh phúc trong những ngày của mùa xuân, mùa hè, mùa thu và mùa đông.

Chúa lại nói:

-Nếu Ta chỉ cho 3 ngày thôi.

Người đệ tử lại nguyện và ước:

-Nếu chỉ được có 3 ngày, thì Chúa cứ cho họ được khoẻ mạnh và hạnh phúc ngày hôm qua, hôm nay và ngày mai.

Đức Chúa lại nói:

-Vậy là, Ta chỉ cho 1 ngày thôi.

Người đệ tử bèn thưa:

-Dạ, như thế cũng được!

Chúa mới hỏi:

-Vậy, con muốn ngày đó là ngày nào?

-Người đệ tử mau mắn đáp:

-Chúa cứ cho họ được khoẻ mạnh và hạnh phúc, mỗi một ngày.

Chúa cười, và nói:

-Như thế là tốt. Bạn bè – người thân của con gồm cả những người nghe biết thông điệp này, sẽ được khoẻ mạnh và hạnh phúc, hết mọi ngày.

 

            Thế đó, là truyện kể. Thế đó, chỉ để minh hoạ. Chứ, có Chúa nào mặc cả, và ra giá, như thế. Như ở chính trường, với thương trường. Bởi, cả chính trường lẫn thương trường, hoặc nhà trường-trường nhà, nơi nhà Đạo, tất cả chỉ là hiện trường của những khoẻ mạnh và hạnh phúc. Hết mọi ngày. Toàn cuộc sống. Mọi ngày đều là ngày của Chúa. Mỗi một ngày, đều không có cái-gọi-là “lời buồn thánh”. Mà chỉ là “một ngày như mọi ngày”, những ngày có Chúa. Có bạn. Và có tôi. Ta cứ thế mà sống vui. Sống mạnh. Sống vững chãi trong tình thương. Của mọi người.

 

            Trần Ngọc Mười Hai

            Vẫn quan niệm

            đời là như thế,

            vẫn vui tươi.

 

           

 

 

 

 

 

21. “Nhớ tới năm xưa bên nhau”

bước trong chiều mưa phím ru nhẹ đưa

Bến cũ đam mê say sưa

lá thu còn rơi người xa vắng người.”

(Ngô Thuỵ Miên – Mắt biếc)

 

(Xh 32: 19)

Nhớ chuyện xưa, bần đạo nào đâu nhớ “chiều mưa

trên  phím  ru, nhẹ đưa”, hoặc “bến cũ đam mê say sưa”. Đành chịu. Chuyện mà bần đạo nhớ nhất, là câu nói của các cụ. Khi xưa. Thường vẫn bảo. Các cụ nói: “Đi một ngày đàng, học một sàng khôn!”

Vào đầu niên biểu hai nghìn lẻ chín, bần đạo cũng

đã đi xa, nhiều ngày đàng. Dù, chưa học được sàng khôn nào cả. Nhưng,  bần đạo cũng ghi tạc, một nỗi nhớ. Nhớ, không gian vắng lặng, nhiều sỏi đá. Nhớ, cả thời gian có khung trời kỷ niệm. Có mắt biếc. Mưa tuôn. Thời gian, ghi khắc chuỗi không gian dài, đầy nhung nhớ. Nhớ là: ngày xa xưa hôm ấy có đấng bậc tiên tổ Môsê, nơi đây từng hiện diện. Hiện diện miền xưa, sa mạc/sỏi đá, ngài uất hận. Hiện diện thời xa xưa, có kinh nghiệm 40 năm lưu đày, ngài giận dữ.

Nhớ năm xưa, là nhớ cung cách của đấng bậc tiên

tổ, tuy rất  hiền những vẫn giận. Giận nhất, là khi dân con nhà Do Thái dám từ bỏ Giavê Thiên Chúa, để đúc bò vàng mà thờ lạy, như sử sách rày ghi chép:

 

“Khi đến gần trại,

ông thấy con bê

và những bọn người đang nhảy múa.

Ông Mô-sê nổi cơn thịnh nộ:

Ông ném các tấm bia đang cầm trong tay

và đập vỡ dưới chân núi.”

(Xh 32: 19)


Nhớ tới năm xưa, là nhớ cả những ca từ mà người

nghệ sĩ lâu  nay  vẫn cứ hát:

 

“Dĩ vãng như bao cung tơ

lướt theo chiều mơ, kết muôn bài thơ.

nuối tiếc yêu đương xa xưa,

Tháng năm nào trôi để nhớ nhung người.”

(Ngô Thuỵ Miên – bđd)


Nhớ chuyện xưa, ta không chỉ nhớ có “một sàng

khôn” em học  được. Như là, nhớ đến cả những việc lỉnh kỉnh xảy ra ở “miệt dưới”, bấy hôm nay. Chuyện xảy đến, ở đất miền tận cùng, có chuyện dài kể lể để mà nhớ. Chuyện lỉnh kỉnh. Hỏi han. Ở xứ miền triền miên câu hỏi/đáp. Hỏi rằng:

 

 “Tuy vẫn biết, giận hờn/ghét ghen, là một trong bẩy mối tội đầu, gây khó khăn. Nhưng, nại cớ sao đây, khi ta thấy Đức Giêsu cũng nổi giận, ở Đền Thờ, khi Ngài gặp bọn người mua bán/đổi chác tiền bạc, ra mặt. Ngài là Chúa, Đấng chẳng thể nào sơ hở/phạm lỗi, thế mà sao Ngài vẫn tức giận? Xin linh mục giải thích cho thấu đáo về giận dữ.”

 

Đã hỏi, là có đáp. Đáp trả hay đáp ứng, cũng cứ xin chuyển đến đấng bậc vị vọng, ở Sydney. Và đáp giải hôm nay, là lời vàng. Tách bạch. Mạch lạc. Như bao giờ:

 

“Câu bạn hỏi, là một trong những thắc mắc khá rắc rối và khó hiểu, người thường gặp. Bởi thế nên, đây cũng là dịp để ta có một cái nhìn thông thoáng. Cho đúng. Về vấn đề này. Ngõ hầu lương tâm bớt áy náy. Bớt cắn rứt.

Vấn đề chỉ nảy ra, khi ta không có thói quen tách bạch chuyện giận hờn, coi đó như một cảm xúc. Say sưa. Mê mệt. Đó là nói theo ngôn từ của thời trước. Thời, mà mọi người vẫn coi hờn giận như hành vi có ý chí. Quyết tâm.

Thông thường, thì cảm xúc hoặc say mê, đôi khi còn gọi là tình tự, đáp ứng tự nhiên đối với tình huống, rất khác biệt. Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo định nghĩa các tình tự mê say ấy là những “cảm tính/xúc động, một khao khát bén nhạy, thôi thúc ta có những hành vi tuy không ra tay hành động gì cả, mà chỉ nói những gì mình có cảm giác/nhận thấy điều ấy là tốt/là đẹp, hoặc rất xấu.(GLHTCG#1763)

Thành thử, đối đầu với những điều tốt đẹp, ta sẽ có kinh nghiệm cảm xúc yêu thương, thèm khát, hy vọng, vui mừng, vv. Còn, với những gì xấu xa/quỷ quái, ta sẽ có tình tự ghét bỏ. Giận hờn. Hãi sợ hoặc tránh xa, bực bội, vv.

Tự thân, đam mê chẳng là điều tốt. Cũng không là điều xấu, cần tránh xa. Việc này, đơn thuần là thành phần của tâm lý con người, mà Thiên Chúa ban cho ta. Cũng là chuyện tự nhiên, khi ta sống yêu thương/vui mừng trước những gì là tốt, là đẹp. Cũng là chuyện tự nhiên, nếu như ta phải trải qua những giai đoạn sống rất hãi sợ hoặc giận dữ trước điều xấu xa. Tồi tệ.

Lấy ví dụ, nếu ta chẳng lo lắng gì chuyện hiểm nguy, cứ xông pha trận địa, đối ứng với chuyện lạ, thì chưa chắc ta đã sống dai. Sống an toàn! Còn, nếu ta chẳng hề phản kháng hoặc nổi giận khi thấy có ai đó hành động dã man/tàn bạo chuyên đánh đập trẻ thơ vô tội, khi đó ta sẽ không còn là người, có tính nhân hiền. Dễ chịu.

Các cảm xúc nói ở trên, chẳng nên đề cao, tán thưởng, tương tự trường hợp có cảm xúc tích cực, như: yêu thương. Hy vọng. Vui mừng. Nhưng, cũng chẳng phạm tệ gì, khi đó lại là những tình tự tiêu cực, như: giận dữ. Hãi sợ. Buồn bực. Tất cả, chỉ là phản ứng tự nhiên trước tình huống “chẳng đặng đừng”, thôi.

Chỉ vào khi ta thuận theo cảm tính nhất quyết hành động có khuôn thức, khiến cho hành vi ấy trở thành một việc đáng khích lệ hoặc tồi tệ ấy, mới thành chuyện. Nói theo ngôn từ của Giáo Lý Hội Thánh, thì: ”Cảm xúc mạnh như say mê/giận dữ, tự nó, không là điều tốt/xấu. Theo luân lý/đạo đức, cảm xúc mạnh như say sưa/ mê mệt, chỉ được đề cao/tuyên dương khi nó kéo theo hành động có ý chí và quyết tâm, mà thôi.” (GLHTCG #1767)

 

Một lần nữa, nếu sử dụng ngôn từ của nghệ sĩ ngoài Đạo, người người sẽ hát tiếp:

“Tình yêu như mây khói

thoảng theo gió buồn, mơ hồ.

Tình yêu như giông tố, qua phố đìu hiu.

Nhớ dáng xưa, yêu kiều

Trong chiều chợt nắng, cung đàn gợi ý

Chờ nhau, trong tê tái…”

 (Ngô Thuỵ Miên – bđd)

 

Cung đàn gợi ý. Say như mây khói. Buồn mơ hồ.Nhất nhất, đều là những cảm xúc tự nhiên. Không xấu. Chẳng tốt. Tốt/xấu chăng, là khi đấng bậc vị vọng, có nhận định xác đáng, như sau:

 

“Nhiều trường hợp, tuy ta có cảm xúc giận hờn, hung dữ, nhưng vẫn có thể biện minh được. Tỉ như, khi cha mẹ bực tức/nóng giận. với các con. Vì, chúng chẳng chịu nghe lời dạy dỗ, của bậc trên. Thầy cô, cũng có lúc nổi nóng với học trò cá biệt không tùng phục. Chủ nhân ông, đôi lúc vẫn tỏ ra ấm ức, hậm hực khi thấy công nhân do mình bỏ tiền ra thuê mướn, lại chẳng chịu làm việc, cứ ngồi chơi. Lại còn đòi hỏi nhiều quyền lợi, không chính đáng. Bực tức/nóng giận như thế, chẳng có gì là xấu, hết.

Phản ứng trước những cảm giác nóng nảy, nhiều người có những thái độ rất khác biệt. Phản ứng đó, có thể là một hành động do tự ý, hoặc xuất phát từ ý chí, khiến mình xử sự như thế. Dù đó có là hành xử, đáng khen thưởng hay là lỗi lầm, không phải phép.

Tỉ như ai đó, có thể tỏ ra giận dữ theo cách có kềm hãm, chế ngự. So với những điều xấu mình làm, thật ra cũng chẳng là gì. Thêm nữa, hành động giận dữ/tức bực có khi do tính bác ái tạo xúc tác đưa đẩy mình làm thế, không cưỡng được. Có trường hợp, cử chỉ bực tức nóng giận, lại nhằm mục đích tốt, cũng nên.

Nhiều lúc, bậc phụ huynh nóng nảy, tỏ bày tinh thần tôn trọng kỷ cương đối với con cái, khi con mình nổi chướng, bất phục tòng. Thầy cô ở trường, cũng có lúc xử sự như thế với học trò cá biệt. Ngỗ nghịch. Miễn là, các vị xử như thế theo cung cách kềm hãm, chế ngự. Vẫn là việc phải lẽ, đáng đề cao.

Việc Đức Giêsu nổi nóng với giới chức đổi tiền ở Đền Thờ, là một trong các trường hợp nói trên. Việc Chúa làm, hoàn toàn chính đáng. Chúa tỏ ra giận dữ, nhưng Ngài rất kềm chế. Việc Ngài làm, là do tình yêu thương với nhà của Cha, dù có người coi đó là việc quá tay. Chẳng nên.

Đổi lại, nhiều vị mất tự chủ, có lúc hung hăng, mạnh bạo quá đáng. Có khi còn lạm dụng, nữa. Trường hợp này, dù họ có biện minh cho cơn giận của họ cách nào đi nữa, cũng không thể minh xác được cung cách tỏ cơn giận và dữ, như thế. Giận như thế, là giận căm/hờn dỗi. Rất lỗi phạm. Thiếu cân nhắc. Thiếu tự chủ.

Tưởng, mọi người chúng ta cũng nên tập cho có thói quen ăn hiền ở lành, dễ dãi; ngõ hầu chế ngự được tính nóng, dễ nổi giận. Biết thuận theo lý trí mà cân nhắc từng trường hợp, ngõ hầu tránh bỏ tính bẳn gắt, dễ nổi giận. Cũng nên cầu Chúa gia tăng cho mình tính khí nhẹ nhàng. Hiền hoà. Hầu có phương cách tự kềm chế cơn tức bực, mỗi khi cần.

Hiểu như thế, sẽ khiến cho lương tâm ta nên trong sáng. Không vướng bận thắc mắc/nghi ngờ gì. Dù, cơn tức giận ấythuộc loại nào đi nữa. Chẳng hạn, khi xưng thú lỗi lầm với cha giải tội, ta chẳng cần kê xưng các lỗi lầm, khi tức bực. Bởi, tự thân, bực tức/nóng giận không là lỗi phạm, để xưng thú. Và, cũng chẳng cần xưng thú những trạng huống mình cảm thấy nóng nảy/bực tức trong lúc hoạt động bác ái/thiện nguyện mà lại gặp chuyện bất ưng, cưỡng chế.

Chỉ nên xưng thú, lỗi lầm nóng giận quá mức độ, không xứng với tình huống khi xảy nên chuyện, hoặc gây tác hại lên người khác. Nhất là, những nóng giận bộc phát, không do lòng yêu thương, dạy dỗ người mình thương. (x. Lm John Flader, The Catholic Weekly, 29/06/2009 tr. 10)

 

Cuối cùng ra, ta cũng nên trở về với tình huống thi ca/âm nhạc có những giờ phút khiến lòng mình trùng xuống, với cơn say. Say nóng. Chóng hờn. Mê say và ngâm nga câu hát có những ca từ/lời lẽ nên thơ. Mơ màng. Nhẹ nhàng, như câu nhạc ở dưới:

“Thuở ấy, tôi như con chim lạc đàn

Xoải cánh cô đơn, bay trong chiều vàng

Và ước mơ sao, trời đừng bão tố

Để yêu thương, càng nhiều gắn bó

Tháng ngày là men say nguồn thơ.”

(Trần Trịnh – Lệ Đá)


Mơ, là mơ cho trời đừng nổi cơn bão tố. Mơ, là mơ

cho lòng mình đừng gắn bó, với bão lòng. Để rồi, mọi chuyện sẽ nhè nhẹ. Êm êm. Như truyện kể dưới đây, để minh hoạ:


“Vào buổi hội thảo hôm ấy, giảng nghiệm viên cầm ly nước lạnh trên tay, rồi hỏi:

-Các bạn có thể cho biết ly nước này nặng nhẹ ra sao, không?

Học viên thay nhau trả lời, người nói nặng chừng 200 gram, kẻ bảo 500.

Thày nói tiếp:

-Nặng nhẹ là bao, đâu nào quan trọng. Quan trọng, là khi các bạn chịu đựng sức nặng ấy được bao lâu, thôi. Nhất là, cân lường/sức nặng của những khó khăn. Chịu đựng, những bực tức. Này nhé, rất đơn giản. Để kềm chế cơn nóng nảy/bực tức, cũng tựa như bạn chịu đựng sức nặng khi cầm ly nước này, chừng một ít phút. Cũng sẽ là điều, nếu ta cứ phải ngăn chặn/kềm chế nó đến cả tiếng đồng hồ. Cầm như thế, ắt tay mình sẽ mỏi. Sẽ cứng. Ráng chịu như thế suốt cả ngày, sẽ khó hơn. Có lẽ, bạn sẽ phải gọi xe cứu thương, cũng không chừng. Cũng thế, nâng nhấc hoặc cầm nắm/chịu đựng sức nặng của những khó chịu hoặc bất ưng, có khi còn tuỳ vào thời gian, và hoàn cảnh. Tuỳ thuộc tình hình diễn tiến vào lúc ấy, mà thôi. Và, đó là lý do để ta cân nhắc và định liệu, những bực tức. Khó chịu. Nếu cứ phải chịu mãi cái cảnh đem lại nhiều bực tức, khó chịu, ngày này qua ngày khác, thì những việc như thế thật khó lòng mà giải quyết. Nó cứ thế, trở nên nặng nề. Khó thở. Chẳng hề lui.

Cơn bực tức/nóng giận sẽ nặng nhẹ trong phút chốc như chịu đựng sức nặng của ly nước này, thì các bạn có thể kềm hãm cơn bực bội đó bằng cách, để lòng trùng xuống một lúc, cho lắng đọng. Sau đó, ta lại tiếp tục chịu đựng thêm. Chắc chắn, khi ấy ta sẽ thấy khác hẳn. Khác là bởi, khi đã thong thả, thư giãn, ta lại có thể chịu đựng, nâng ly nước thêm một chốc nữa, cũng đâu có sao.

Thành thử, chiều nay khi về nhà, các bạn cứ thử đối đầu với những bất ưng hoặc khó chịu xảy đến với mình. Bất kể nặng nhẹ, hãy từ từ mà kềm chế. Để cho lắng xuống, tất cả mọi tồn đọng. Cả những bức bách. Giận dữ. Hờn căm. Có như thế, mọi việc mới nên tốt đẹp, ngay sau đó.


Lời thày dạy, chỉ có thế. Không dài. Chẳng cường

điệu. Nhiêu khê. Khô cứng. Nhưng, chí lý. Ý nhị. Vị tha. Làm vì tha nhân. Cho tha nhân, như lời bàn được ghi tiếp ở bên dưới:

 

*Trong cuộc sống thường nhật, có những ngày bạn sẽ thấy mình hiền lành như bồ câu. Chim ngói. Lại có những tháng, mình gặp toàn chuyện bực bõ, dễ gây gổ.

*Hãy cố lựa lời êm êm/nhè nhẹ, mà hứa hẹn. Bởi, sẽ có lúc mình nuốt lời. Dễ như chơi.

*Nếu bạn cứ chầm chậm trong xử thế, và lựa lời mà kềm chế. Cơn bực tức sẽ qua mau.

*Đời người, sẽ có lúc mình những muốn đối xử tử tế với mọi người, thì đây chính là cơ hội tốt.

*Nên nhớ, đừng xía vào chuyện mình, chuyện người, vì điều ấy dễ khiến mình nổi giận.

*Hãy tổ chức tiệc sinh nhật cho thật nhiều. Đó, là điều tốt. Càng tổ chức nhiều, càng thấy vui.

*Ta học được nhiều điều, ở bút chì. Có bút rất nhọn/sắc, có bút cùn/lụt. Có cái, có tên thật đẹp. Có cái, tên tuổi chẳng giống ai. Nhưng, chúng vẫn phải chịu cảnh nằm cạnh nhau chung một hộp. Dù bất ưng. Khó chịu.

*Hạnh phúc, là biết sống vui, sống khoẻ. Chấp nhận mọi cảnh, dù cảnh trí ấy dễ gây bực tức. Nóng giận. Hờn căm. Không ai thích.

 

Lời cuối cho bạn, và cho tôi, là câu hát của người nghệ sĩ hôm trưóc, cứ ca rằng:

 

“Hãy vui lên bạn ơi!

Ngày mai lắm khi không còn gì để cười

Tương lai biết đâu chỉ là thương nhớ thôi

Dù sao hãy cười bạn ơi!

(Lê Hựu Hà – Hãy vui lên bạn ơi!)

 

Nếu nghệ sĩ ấy hôm nay vẫn còn sống, hẳn bạn và tôi, ta sẽ đề nghị đổi lời ca, thành:

 

Hãy vui lên bạn ơi,

Ngày mai lắm khi không còn gì để …nổi nóng!

 

Bởi, có nổi nóng hay hờn căm, giận dỗi cũng chẳng để làm gì. Chẳng làm được gì. Được chăng, chỉ là đổ vỡ. Cách chia. Buồn bực. Buồn và bực, như cuộc sống của quỷ ma. Sống đấy. Nhưng, là sống như chết. Vẫn cử động đấy. Nhưng, là những động tác không mang tính yêu thương. Êm ái. Tình người.


Trần Ngọc Mười Hai

Vẫn thừa biết

khó mà nguôi cơn giận,

nên vẫn cố.

             

 

 

 

 

 

 

22. “Nếu có điều gì vĩnh cửu được”

thì em ơi, đó là tình yêu của chúng ta.”

(Từ Công Phụng – Mãi mãi bên em)

 

(Mt 10: 28)

            Phải nói thật, ngay đây rằng: bần đạo không rõ và cũng chẳng tỏ chút nào về thân phận người nghệ sĩ họ Từ tên Phụng, dẫn ở trên. Nhưng, giòng chảy những thơ và nhạc, cùng ca từ do anh viết, sao nó gần gũi với tư tưởng nhà Đạo mình, đến như thế. Này nhé, là người thường ở huyện, nào đã mấy ai bận tâm đến những là: “vĩnh cửu”, “cửa hồn em”, “tận cuộc đời”, “giữ mãi lời nguyền”, vv và vv.

Trong khi đó, có Kitô hữu người Úc nọ là Eric Geoffreys, cứ lập đi lập lại với bần đạo, thoạt khi thăm viếng các đền đài, ở Giêrusalem, mãi một câu: “lại một ABC nữa, mấy mùa ABC rồi…” Cụm từ “ABC” mà anh tóm gọn, gồm toàn những chữ rất nghe quen, như: “another bloody church”, mà nếu dịch cho sâu/cho sát, có lẽ bạn và tôi, rồi sẽ bảo: “lại một đền đài chết tiệt nữa, cứ mà xem!

Thế đấy, ngôn từ của một con dân nhà Đạo. Thôi thì, cũng nên quên đi chuyện dịch và thuật, trong chốc lát. Để rồi, tôi mời bạn, ta đặt chân thăm viếng chốn “hồn thơ” của tác giả. Ở ngoài Đạo:

 

“Nếu, có điều gì vĩnh cửu được,

thì em ơi, đó là tình yêu chúng ta.

Rồi mai đây, anh sẽ đón em về,

Mở cửa hồn em vào đó, rong chơi.”

(Từ Công Phụng – bđd)

 

Quả có thế. Rong chơi miền “vĩnh cửu”, đâu là ý tưởng của riêng nhà Đạo mình. Hay ai đó. Cũng chỉ là ngôn từ, mà nhà thơ/người viết nhạc họ Từ đã “mơ màng”, nhiều ý tứ:

“Bờ môi ngoan, hương tóc rũ vai mềm

từng ngày dài, hồn anh mãi tương tư…”

(Từ Công Phụng – bđd)

 

Thôi thì thôi nhé, cũng ngần ấy thôi. Thôi, này tôi và bạn, ta cứ tìm hiểu đôi điều về Đạo, xem có gì mà bạn đạo người Úc nọ cứ gọi đó là “đền đài chết tiệt”, đến là thế. Đạo mình, là Đạo nắm vững chân lý rõ như ban ngày. Chân và lý, cả sự chết lẫn sự sống. Cả những nỗi buồn lẫn niềm vui sống. Niềm vui đi Đạo. Trong Đạo. Và, vui đời hành Đạo, như truyện kể, thật lễ mễ. Ở dưới đây:

 

“Chuyến bay nọ, người phụ nữ trẻ vừa hành trình chung một chuyến với cố đạo vị vọng kia, vẻ bề ngoài tuy không còn trẻ nữa, nhưng tâm hồn lại trẻ hết chỗ chê. Biết rõ rằng: bậc vị vọng/cha cố chỉ làm việc lòng lành phước đức, chẳng từ một ai. Và, câu chuyện trao đổi giữa một già và một trẻ, đã như sau:

-Thưa cha, con là người có Đạo. Hôm nay gặp cha, con mừng quá. Nếu có thể được, xin cha giúp con một tay, có được không thưa cha?

-Được quá đi chứ. Nhưng, đừng bắt cha làm điều gì trái giới răn của Chúa Trời, nhé con.

-Không đâu, thưa cha. Số là, chuyến này, con mua được cái máy xấy tóc rất tối tân, để làm quà sinh nhật thứ 60, cho bà mẹ. Máy này, còn “dzin” chưa xài. Khổ một nỗi, nó lại vượt quá qui định, của hải quan. Nên con sợ. Sợ rằng, hải quan ở đây họ sẽ làm khó rồi tịch thu, e rằng mẹ con sẽ không có đồ xài, ngày lễ lớn. Vậy, có thể nào cha cầm giùm con món đồ nhỏ ấy, miễn sao che mắt thế gian, là được, phải không cha? Con nghĩ, cha cứ để nó ở phía dưới kia, bên trong chiếc áo chùng mầu đen đen, sẽ chả có ma nào dám rớ vào khu vực “cấm địa” ấy đâu mà cha sợ!

-Tôi cũng chẳng ngại gì chuyện giúp đỡ. Nhưng, xin báo trước đừng bắt tôi nói dối đấy.

-Không đâu, cha. Cứ nhìn khuôn mặt hiền từ của cha, ma nào dám nghi ngờ điều gì xấu.

Cả hai người, một già/một trẻ đi ngang qua khu vực kiểm soát, người nữ phụ trẻ bèn nhường chỗ cho cha già bước lên trước, để kiểm soát. Viên chức hải quan thấy vậy, hỏi:

-Thưa linh mục. Hôm nay linh mục có đeo mang thứ gì cần khai báo không?

-Thú thật là: từ đầu đến thắt lưng, giống mọi người, tôi chẳng có gì để khai báo, hết.

-Lạ nhỉ. Thế thì, từ thắt lưng xuống chân trần, ngài có đeo mang thứ gì khả nghi không?

-Có đấy, anh ạ. Chỉ là món quà tuyệt vời dành cho nữ giới. Cốt tạo niềm vui, thế thôi. Có điều là, mãi đến hôm nay, cái đó vẫn chưa có ai xài thử, dù một lần.

-Thôi đi cha. Cha cứ tự nhiên tiến về phía trước, mà đi cho…

 

Tiến về phía trước mà đi cho, không chỉ là khẩu lệnh của chàng hải quan có chức, có quyền, đà quyết định. Rất nhiều khi, ta cũng vẫn đi; nhưng chẳng bao giờ tiến về phía trước. Cứ như người “dậm chân tại chỗ”, hoặc dừng lại, ở nhiều nơi. Những nơi, những chỗ, mang tính rất quyết định. Cho cuộc đời. Và, người đời. Hệt như quyết định gây thắc mắc/cãi tranh. Ở nhân gian, trần thế.

Chốn nhân gian nhiều chuyện, có những việc hệ trọng, không chỉ liên can đến người trong Đạo. Nhưng, cả người ở ngoài nữa, khiến hãi sợ. Vốn hãi sợ, nên người trong Đạo và kẻ ở ngoài, vẫn có những tình tự ngại ngần. Cứ mãi lo xa. Lo, không chỉ những chuyện khó dễ, về thể xác. Lo, chuyện linh hồn. Đạo đức. Chức năng. Tương phản. 

Có lo hoặc sợ, thì bạn và tôi, ta cứ trở về nguồn thương yêu sử sách, có thánh kinh. Nghe thêm một lần, Lời Chúa nói:  

          

"Anh em đừng sợ

những kẻ giết thân xác

mà không giết được linh hồn.

Đúng hơn, anh em hãy sợ

Đấng có thể tiêu diệt

cả hồn lẫn xác, trong hoả ngục.”   

(Mt 10: 28)

 

            Thật sự, thì Lời Chúa trích dẫn hôm nay không là nhắc nhở gửi đến với người còn sống, thời hiện tại. Mà, những gì có liên can/dính dự vào điều đã xảy ra, chốn bất ưng. Hoả ngục. Đầy hãi sợ.

 

            Về hãi sợ, nhiều người không chỉ những hãi cho cuộc đời này, mà thôi. Nhưng, cả những gì xảy đến, thời buổi trước. Hãi và sợ, đến độ bạn đạo của tôi dám đúc kết thành một han hỏi, rất thắc mắc như sau:

 

“Mới đây, con có dịp được xem cuốn phim mang tựa đề “Valkyrie”, trong phim này tài tử gạo cội Tom Cruise đã thủ vai Đại tá Claus von Stauffenberg, diễn tả những cá tính nổi bật của viên sĩ quan người Đức vốn dính líu vào âm mưu ám hại Hitler. Rồi còn rắp ranh ý định lật đổ bộ máy cường quyền của Đức Quốc Xã, nữa. Thật ra, xưa nay nhiều người vẫn coi Claus Von Stauffenberg là người Công giáo, rất mộ đạo. Phần con lại khác. Con vẫn tự hỏi, một khi mình tra tay dính dự vào những chuyện đổ máu, giết chóc, hoặc gian dối, thì làm sao lại có thể và xứng đáng gọi họ là những người Công giáo mộ đạo, được nữa chứ? Xin cha ban lời chỉ giáo, để con được yên tâm.”

 

            Chỉ giáo hay chỉ đạo, vẫn là bổn phận của đấng bậc “cha thiên hạ” xưa rày vẫn cứ thưa và thốt. Thưa, về chuyện phải Đạo. Thốt, về ngón nghề tay mặt/tay trái của đấng bậc vị vọng, ở Sydney. Ly kỳ. Nhiều học thức. Thôi thì, cứ mời bạn và mời tôi, ta nghe thử ý kiến của đấng bậc vị vọng. Ở đây. Xem sao:

 

“Anh/bạn hỏi về hoàn cảnh lịch sử rất đặc biệt, mà theo tôi thật khó mà trả lời, cho đúng. Khó, là bởi: làm như thế, rất dễ tạo thành tiền-đề cho hiểu biết xuyên suốt, ngang qua dữ kiện đặc biệt, có liên quan. Nhưng, anh/bạn cũng như tôi, ta có thể bảo rằng: ở một số hoàn cảnh nào đó, ta vẫn có đủ tư cách, đạo đức/chức năng để tra tay lật đổ những kẻ nắm quyền sinh sát trong chính phủ, xử không đúng.

Một giáo sư người Mỹ là ông Germain Grisez, một thần học gia luân lý nổi tiếng, đồng thời là tác giả cuốn tiểu luận dầy 3 tập, có tựa đề “Con Đường Chúa đi”, từng đề cập đến vấn đề này, ở tập 2.

Dưới tiêu đề “Ít khi, ta dùng bạo lực để thay thế chế độ tồi tệ” trang 885, tác giả có viết: “Chế độ nào cương quyết ngăn chặn hoạt động chính đáng, hầu dấy lên cuộc cải tổ bất bạo động; hoặc, dám sử dụng bạo lực hợp pháp, để duy trì cơ cấu bất công, thì chính họ và những người hỗ trợ họ, đều phải chịu trách nhiệm về cách mạng bùng nổ khi dân chúng đã tuyệt vọng, không còn sức đeo đuổi sự công minh chính trực. Thêm vào đó, khi có giới cầm quyền nào đó cương quyết theo đuổi mục tiêu mình đặt ra, gây xung đột về lợi ích chung của đất nước, lại không có thẩm quyền để quyết định, thì tình trạng ấy chẳng khác gì hoàn cảnh của người có chính nghĩa, luôn chống đối giới cầm quyền, đã xử sự rất không phải.” (Tôma Akinô, Thần Học Tổng Hợp, 2-2, q.42,a.2, ad 3)

Chính vì thế, giáo huấn Hội thánh vẫn dạy rằng: ta có thể biện minh tính cách luân lý/đạo đức cho việc cậy nhờ sức đối kháng có vũ trang, như phương cách tối hậu nhằm “ngăn chận tình trạng chuyên quyền/bạo ngược thấy rõ, vẫn kéo dài, khiến tai hại cho quyền căn bản của mọi cá nhân cũng như làm tổn hại lợi ích chung, của mọi người.” (x. Giáo huấn về Tự Do và Giải Thoát với tín hữu Đức Kitô, 1986, t. 79)

Giáo sư Germain Grisez cũng nhắc nhở việc ta phải có sự dè dặt cần thiết, trước khi quyết định tham gia kháng chiến bằng vũ lực, mà theo ông, ta chỉ nên sử dụng nó như biện pháp tối hậu, mà thôi. Việc này phản ánh điều mà Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo, từng đề cập.”

 

            Nói theo cung cách của nghệ sĩ ngoài đời về chết chóc, vĩnh cửu, có lẽ sẽ phải nói như thế này:

                        “dù mai đây, trăng có úa bên thềm

                        và ngày buồn, thu tàn kéo qua đây

                        rồi mùa đông vội vã, đến bên ta.

                        Anh giữ mãi, lời nguyền cùng bên em.”

 (Từ Công Phụng – bđd)

 

               Lời nguyền mùa đông, hay lời dạy của Hội thánh, ta phải giữ. Giữ, như Hội thánh vẫn làm qua bao mùa biến động, nổi trôi. Trong Giáo hội. Ở mọi nơi. Chính vì thế, mà đấng bậc vị vọng nhà ta tiếp tục triển khai thêm:

 

“Giáo lý Hội thánh còn dạy ta rằng: “Việc gia nhập lực lượng đối kháng có vũ trang hầu phản kháng, chống lại giới cầm quyền chủ trương độc đoán, sẽ không là chuyện hợp pháp, trừ phi các điều kiện sau đây phải được áp dụng: 1/ Khi, rõ ràng là: có sự vi phạm trầm trọng và kéo dài, quyền căn bản của con người; 2/ Khi, mọi phương tiện để khôi phục/đền bù đều thất bại; 3/ Nhưng, những việc phản kháng/chống đối như thế, sẽ không kéo theo sau những xáo trộn nào, còn tệ hơn; 4/ Khi, không còn hy vọng nào cho một thành quả vững chắc, có cơ sở; 5/ Khi, rõ ràng là, không thấy có giải pháp nào tốt đẹp hơn, thực hiện được.” (GLHTCG#2243)

Những điều kiện kể trên ghi rất rõ. Cho nên, thông thường thì: ít có khi nào ta có thể thực hiện được, những điều kể ra như thế. Vấn đề là, ta cần xem xét/phán đoán cho cẩn thận, để xem các điều kiện nói ở trên có áp dụng được hay không, với chế độ ức hiếp/chuyên quyền lộng hành, vào thời đó. Tức, thời Hitler làm mưa làm gió. Nói như thế, tức bảo rằng: bản thân tôi, không thấy mình có khả năng thích hợp để phân tích các điều ấy, cho thật kỹ. Ở đây. Trong bài này.

Dầu sao đi nữa, ra như có điều ta có thể quả quyết được, là: chế độ chuyên quyền/ức hiếp của Hitler là trường hợp đặc biệt để ta có thể đặt thành vấn đề. Bởi, các điều kiện kể trên đều thấy có thể áp dụng rất đúng cho trường hợp đó. Vì thế nên, chuyện tham gia phong trào kháng chiến có vũ trang, ở đây, là việc chẳng đặng đừng. Hợp tình. Hợp cả lý.

Cuốn phim mà anh/bạn vừa viện dẫn, có đoạn nói đến “Chiến Dịch Valkyrie”, trong đó có đến 15 âm mưu tìm cách ám hại nhà độc tài Hitler. Điều này cho thấy: rất nhiều người nhận ra rằng: chế độ phát xít ông tạo ra, thật là quái ác, đầy những tội, đủ để thúc giục nhiều người tham gia lực lượng kháng chiến có vũ trang, mà dứt điểm chế độ tội lỗi đó.

Trong số những người hoạt động chống Đức Quốc Xã của nhà độc tài Hitler lúc bấy giờ, có Hải sư Đô đốc Wilhelm Canaris, là người đứng đầu hoạt động phản gián. Nên, khi nghe nói Hitler có ý định bắt cóc hoặc ám hại Đức Giáo Hoàng Piô XII năm 1943, thì chính ông đã thông báo cho phía đối tác người Ý biết, nên âm mưu trên đã không thành. Tháng Hai năm 1944, Canaris đã bị cách chức, không còn thủ vai đầu não cơ quan phản gián Đức nữa. Sau đó, ông bị cầm cố tại gia và bị hành quyết, năm 1945.

Rõ ràng, Giáo sư Germain Grisez có đưa ra tiêu chuẩn để xem xét, nếu có điều gì không chắc chắn về tính luân lý/đạo đức trong quá trình diễn biến sự việc. Lấy ví dụ trường hợp Đức Quốc Xã: “Nếu không biết chắc luân lý có cho phép ta ám hại nhà độc tài chuyên chế Hitler không, thì chỉ khi nào ta xác tín việc ấy được phép làm, thì khi ấy ta mới bị ràng buộc phải tham gia âm mưu sát hại, nhà độc tài Hitler.”(sđd, tr. 287).

Cuối cùng, Giáo sư Grisez kết luận rằng: những người như thế, dù ở tình trạng nghi hoặc, vẫn nghĩ rằng nhiều khả năng đích thật là việc ám hại nhà độc tài quái ác Hitler là việc cho phép, thì khi ấy ta mới được phép tiến hành. Nhìn chung, chừng như với chế độ quỉ quái của Hitler, ta có chính nghĩa để thành lập một đạo binh kháng chiến chống sư chuyên quyền, độc đoán.” (Lm JohnFlader, The Catholic Weekly 28/6/2009, tr. 10)

 

            Để một bên, những biện luận/phân tách thật khúc chiết, thiết tưởng cũng nên bàn và phiếm chút gì nhè nhẹ. Thư giãn. Cho thoải mái. Rất dễ tiêu. Dễ tiêu hoá, bằng một truyện kể ngăn ngắn. Gọn nhẹ. Rất như sau:

 

“Vào giờ học tâm lý, vị giáo sư bất chợt khám phá ra rằng đám học viên khá cao niên của mình có vẻ hơi bị động. Ông bèn quyết định cho mọi người làm một bài thực tập, với đề tài, chỉ thế này: “Trong một tuần, bạn phải cố làm sao đến với người mình thương và nói với người ấy, rằng: bạn yêu họ. Bởi, trong cuộc sống, tuy ta rất gần người thân, nhưng ít khi nào nói rõ những lời âu yếm, với người mình thương.” Đề tài xem ra không khó. Chỉ khó, có mỗi điều: học viên ở trường ai cũng trên dưới 30. Tức, ít nhiều cũng đều có kinh nghiệm về yêu thương, nhưng hiếm khi tỏ bày tình thương, mình đang có.

Tuần sau lại, vị giáo sư tâm lý đi thẳng ngay vào câu hỏi, xem có học viên nào tình nguyện kể  chuyện đời mình, hay không. Ông đinh ninh: người bước lên bục trước nhất, phải là học viên nữ, mới đúng. Ai ngờ, cánh tay hôm ấy giơ lên, là của nam nhân. Trông anh thật tình. Chân phương. Đầy cảm xúc. Cảm xúc anh nêu, là lời lẽ tóm gọn như sau: 

-Cách đây 5 năm, cha tôi và tôi có sự bất bình thấy rõ, xem ra không thể nào hàn gắn. Thấy mặt nhau, cả tôi lẫn ông đều tìm cách ngoảnh mặt về phía khác, cố tránh né tình huống khó xử, ngoại trừ vào các buổi hội họp bất đắc dĩ trong gia đình, thôi. Ngay lúc đó, chúng tôi cũng không phát biểu một lời nào. Vừa rồi, tôi quyết định là khi về nhà, sẽ tự kỷ ám thị nhất định phải nói với cha mình, là: con thương cha lắm. Chỉ với quyết định ấy thôi, tôi đã thấy tim gan mình nhẹ hẳn lên. Đêm hôm đó, tôi không tài nào chợp mắt. Hôm sau, tôi đánh xe đến nha cha mẹ, rung chuông , rồi thầm nguyện cầu Chúa cho người mở cửa đón mừng phải là cha tôi, mới được. Bởi, nếu là Mẹ ra mở cửa, thì lời nói yêu thương, đối với tôi, thật quá dễ. May thay, người mở cửa chính là Cha. Không chậm trễ, tôi bèn bước vào cửa và nói trước:

-Ba à, hôm nay con đến chỉ để xin cha tha thứ cho con và nói rằng con thương ba lắm.

Lúc ấy, như có luồng gió đổi mới hoàn toàn con người của cha tôi. Trước mắt tôi, rõ ràng là khuôn mặt của ông hiền dịu lại. Các nếp nhăn nơi khoé mắt, dường như tan biến hết. Và, ông bắt đầu khóc. Ông chạy đến. Ôm chầm lấy tôi, rồi nói:

-Ba cũng thương con lắm. Nhưng ba không biết làm thế nào để nói được câu nói đó.

Chưa hết. Hai ngày sau bữa đó, cha tôi tự dưng lên cơn đột quỵ, và mãi đến ngày hôm nay, ông vẫn còn nằm nhà thương. Tôi trộm nghĩ, nếu tôi lưỡng lự, vẫn không chịu đến trước với cha, chắc chẳng bao giờ tôi có được cơ hội đó.

Cũng chưa hết. Từ lúc thấy lòng mình nhẹ nhõm vì cởi bỏ được những dồn nén, trong tâm can, tôi lại khám phá ra nhiều điều. Nhiều câu nói của các học giả nổi tiếng, khắp nơi. Trong đó có câu nói của ông tổ ngành triết lý thần học, thời Trung Cổ, là thánh Tôma Akinô, từng có những lời quả quyết rằng: Chẳng ai có được niềm vui thực sự, trừ phi người ấy được sống trong tình yêu thương”. Cũng từ đó, tôi thấy mình đã nắm bắt được niềm vui thực sự. Hạnh phúc đích thật, mà không biết.

 

            Chuyện triết lý thần học về cuộc sống, vỏn vẹn chỉ có thế. Nhưng, người kể vẫn không quên một lời bàn. Lời bàn từ người kể, bao giờ cũng quanh quẩn những thương yêu và ganh ghét. Yêu người thân cận. Ghét kẻ địch thù, quỷ quái, ác tính là chuyện thường tình. Và, lời bàn hôm nay, cũng na ná tựa như ca từ người nghệ sĩ, về vĩnh cửu.

 

Cuối cùng thì, lời bàn hôm nay và mai ngày vẫn là lời thân thương, của mọi thời:

            “Nếu có gì vĩnh cửu được,

            thì em ơi, đó là tình yêu chúng ta

            dù mai đây trăng có úa bên thềm

 (Từ Công Phụng – bđd)

 

            Về với chủ đề ta mạn bàn, có lẽ sẽ phải nói: “dù mai đây, chính nghĩa có thắng hay bại”, hãy cứ một lòng yêu thương nhau. Bởi, điều “vĩnh cửu”, không là gì khác ngoài “tình yêu của chúng ta”. Và chính nghĩa, đâu có là gì, nếu không vì: tình thương yêu, ta vẫn có. Nồng nàn. Vĩnh cửu. Nồng nàn trong tương quan với Chúa. Vĩnh cửu, là tình thương yêu, người với người. Bất kể, người đó có là nhà độc tài. Chuyên chế. Ác độc.

 

            Trần Ngọc Mười Hai

            Vẫn luôn tin vào

            sự vĩnh cửu,

            của Tình yêu.

 


 

23. “Đạo diễn đưa tay lên”

đạo diễn đưa tay xuống

bi hài kịch mở màn

bi hài kịch khai trương

(Phạm Duy – Bi Hài Kịch)

 

(Hc 50:22)

            Bần đạo còn nhớ, trong lần ghé viếng Gia đình An Phong Sydney năm 2006, sau buổi nhận “bằng rừng” bốn cục, làm Tổng Vụ Trưởng Hướng Đạo, bạn hiền linh mục cùng lớp gọi tên Tiến Lộc, đã hát cho bà con nghe nhạc bản thật hay ho, dĩnh ngộ, viết như trên. 

            Dĩnh ngộ, là vì: toàn bộ bài hát của nghệ-sĩ Phạm Duy, chỉ thấy những ca từ hết “đưa tay lên, đưa tay xuống”, rồi đến “bi-hài-kịch mở màn/đổi màn/đủ màn/bỏ màn”, và cuối cùng kết thúc bằng câu thơ day dứt: “Bi hài kịch còn dài, bi hài kịch chưa thôi!”.

            Với nghệ sĩ ngoài đời, cuộc sống con người chỉ là tấn bi-hài-kịch thêm “sen” (scène/scene), thêm cảnh trí. Nhiều cảnh trí, người nghe vẫn thấy người nghệ sĩ già nhà ta, vẫn cứ hát:

 

            “Diễn viên quay súng bắn

            diễn viên gục đầu đường…”

 (Phạm Duy – bđd)

 

            Và:

 

            “diễn viên đang tra tấn

            diễn viên chịu cực hình.” 

(Phạm Duy – bđd)

 

            Trong khi đó, đời mình ta vẫn thấy: rất nhiều đạo diễn Đạo-đời vẫn loay hoay/hí hoáy với nhiều “tra tấn”. Tra và tấn, để diễn viên đời thường cứ phải chịu cực hình. Nhưng dù thế, đời người vẫn còn nhiều thứ để trân trọng. Vẫn còn “chút gì để thương, để nhớ”. Nhớ rằng, đã nhiều lần các thần sứ lẫn tiên tri, từng lên tiếng khuyên bảo người đời, bằng một dẫn dụ:

 

“Giờ đây hãy chúc tụng Thiên Chúa muôn loài,

Đấng đã làm những điều vĩ đại ở khắp nơi,

Đấng đã làm cho đời sống ta nên cao quý

ngay từ thuở ta còn trong lòng mẹ,

và đối xử với chúng ta

theo lòng lân tuất của Người.”

(HC 50: 22)

 

            Thế đó là sự thật. Chính đó, là những khác biệt. Khác biệt, vì nhà đạo diễn ở đời thường mới chỉ “đưa tay lên, đưa tay xuống” thôi, đã có biết bao nhiêu là “bi-hài-kịch mở màn”. Và, toàn là những màn , có “diễn viên quay súng bắn”, đến “diễn viên đang tra tấn”, để rồi khi:

 

            “Diễn viên khen nhau mãi

            diễn viên chửi nhau hoài

            gió thổi từ muôn nơi

            tai nghe lời ngọt bùi.”

(Phạm Duy – bđd)

 

là lúc người nghệ sĩ kiêm đạo diễn, đã nói lên một kết đoạn, như sau:

 

“Bi hài kịch còn dài

            Bi hài kịch chưa thôi”.

 (Phạm Duy – bđd)

 

            “Bi hài kịch chưa thôi”, là bởi: ở đời, còn khá nhiều người vẫn cứ “đưa tay lên”, rồi lại “đưa tay xuống”. Lên - xuống, không phải để diễn viên “tra tấn” hay “chịu cực hình”, mà đối xứ với chúng ta, “theo lòng lân tuất”, hay không mà thôi.

            “Đối xử theo lòng lân tuất” có thể là, làm thế nào để xã hội mình đang sống không còn cái cảnh:

           

            “Bi hài kịch bỏ màn,

            Bi hài kịch chưa xong

            Diễn viên rơi nước mắt

            Đạo diễn khóc hay cười

            Khán giả thì bưng môi

            Khán giả thì im hơi.

(Phạm Duy – bđd)

 

            “Khóc hay cười”  là tình huống xã hội vẫn: còn đó nỗi buồn. Buồn, vì có sai sót trong “công lý và hoà bình”. Vả lại, làm sao tạo hoà bình, có công lý? khi sự thật vẫn rành rành ra đó. Sự thật, là những sự rất thật về một chênh lệch còn đó, giữ người giàu/kẻ nghèo. Giữa cuộc sống của người thì thừa mứa, đổ vùi những ‘cơm rất lành, canh rất ngọt’. Trong khi đó, kẻ nghèo người khó vẫn tìm kiếm những cơm thừa canh cặn, rơi rớt từ bàn ăn, cửa hiệu, mà nhà giàu vừa ngốn vào bụng, ăn không hết.

            Chênh lệch giàu/nghèo nói ở đây, vẫn là thách thức đối với mỗi người, và mọi người. Những người đang sống ở xứ sở dẫy đầy những tài nguyên, rất thừa mứa. Trong khi đó, kẻ khác vẫn thòm thèm từng giọt nước trong lành, từ các “phông tên”, còn lác đác, hiếm hoi.

            Về chênh lệch - thách thức giữa kẻ có của dư của để, và người đói nghèo dưới mức bình thường/thời hiện tại, thì vừa qua, Hội Đồng Giám Mục Úc Châu đã họp bàn vào độ tháng 9 năm 2008; sau đó, đã đưa ra thông cáo chung, tuyên bố về một Công lý và Sự thật, ở xã hội. Trong tuyên bố, có những lời rất đích thực, được trích thoáng như sau:

 

“Các thách thức hoặc thử thách mà Chúa trao cho người thanh niên giàu có, nói ở Tin Mừng Mác Cô, cũng là thách thức ta vẫn gặp, ở đời thường. Hôm nay. Vấn đề là, chúng ta có sử dụng tài nguyên phong phú của mình, vì lợi ích cho mọi người, đặc biệt là những người đang bị từ khước phúc lợi có từ những người giàu, hay không? Trong Tin Mừng, Đức Giê-su ngước nhìn người thanh niên giàu có, mà xót thương cho anh. Trong khi, anh chẳng mảy may xúc động gì, từ chối lời gọi mời của Ngài.

Là dân con đất nước trẻ và sang giàu, có lẽ chúng ta đang thiếu thốn mất một điều; điều ấy là thế này: chúng ta có nhận lãnh những hành xử tuỳ vào thách thức Chúa trao ban, hoặc có bị đánh động về những thử thách Ngài đặt để cho ta, không?

Đức cố Giáo hoàng Gioan Phaolô Đệ Nhị, đã nhiều lần nêu vấn đề chủ nghĩa tiêu thụ, và cảnh giác: chẳng có gì xấu xa, nếu có ai đó trong số những người anh em chúng ta, cứ muốn cho cuộc sống của mình, được khá hơn. Xấu chăng, là khi ta có lối sống khiến ta nghĩ rằng mình sẽ khá hơn, nếu hướng nhiều đến những chuyện “có”, hơn là “sống”. Có nhiều hơn sống, tức vận dụng để nhiều ngày tháng mà vui chơi, tận hưởng cuộc đời. Coi đó như cứu cánh, của cuộc sống.”

Sự giàu sang phú quý trong xã hội, tự nó, chẳng là điều gì xấu xa hết. Giàu sang/phú quý vẫn đem lại nhiều lợi ích, tuỳ cách ta sử dụng, thôi. Như truyện kể Tin Mừng, về người thanh niên giàu có, cho thấy: anh tuy giàu thật đấy, nhưng vẫn không thấy hạnh phúc. Bởi thế nên, trên thực tế, nhiều lúc cũng trái ngịch. Chẳng hạn, nếu ta mải mưu cầu gia tăng của cải/vật chất, thì điều này sẽ thôi thúc ta kiếm tìm thêm công việc nào to lớn hơn để bon chen. Và, càng thêm nhiều việc, người đời càng phải bỏ nhiều giờ để làm. Càng làm nhiều, càng thấy có sức ép liên tục, từ nhiều phiá. Nhiều sức ép, nên ta càng phải làm phụ trội, thêm giờ. Có khi, phải làm thêm vào ngày cuối tuần, nữa.

Nước Úc, nay trở thành một trong các quốc gia đã phát triển. Có người mê say làm việc, đến là cật lực. Từ đó, gia tăng sức ép của công việc đưa vào quan hệ gia đình. Đối với khá nhiều bậc cha mẹ, đã thấy có trường hợp: con cái đòi hỏi nhiều thứ hơn, vì cha mẹ chúng không sống gần gũi, quan tâm đến chúng như trước.

Gia tăng tài sản, còn có nghĩa là: gia tăng nợ nần. Điều này, càng gây khó trong việc hạn chế nhu cầu ta cần có, thời buổi này. Cá nhân người lao động cũng như toàn thể gia đình họ, từ đó dễ rơi vào bẫy cạm của vòng lao lý quá mức. Và, vì tiêu thụ không biết chán, bất kể nợ nần ngày một chồng chất, tất cả ai ai cũng nỗ lực đạt thành quả to lớn, về vật chất. Xem như thế, sự giàu sang phú quý vẫn gia tăng não trạng khiến mọi người càng thấy mình có quyền đạt được nhiều thứ. Nhưng lại quên mất ý nghĩa của sự cảm tạ/biết ơn về những gì mình có. Quên cảm tạ, đồng thời lại muốn có thật nhiều. Có mãi, không không bao giờ biết thế là đủ.

Lòng ham muốn có nhiều/có thêm không gia giảm, rồi cứ thế phải sản xuất. Cứ thế tiêu thụ đồ đạc cho thật nhiều. Muốn có nhiều/có thêm, lại phải khai thác thêm nguồn tài nguyên vốn lấy từ lòng đất. Khai thác nhiều, sẽ gây nên tình trạng ô nhiễm không khí, và phí phạm, kéo từ thế hệ trước đến thế hệ sau.  Thời hôm nay, có lẽ ta cũng nên giảm mức tác hại môi trường bằng cách quan tâm đến những gì mình đang có. Biết tự vấn lương tâm mỗi khi mình muốn có thêm. Tự vấn, bằng nhưng câu, như: có thật mình cần đến những thứ này, không?” (xem www.socialjustice.catholic.org.au)

 

            Nhận định của hàng Giám mục Úc, có lẽ cũng là dịp để bà con mình đáp lại những gì vẫn thấy dẫy đầy , ở đời thường. Thường thì hôm nay, vẫn thấy nhiều người đã biết tự vấn lương tâm. Cứ hỏi lòng mình bằng những câu, như ngưồi nghệ sĩ già, thường hay hát:

 

            “Ôi bi kịch còn dài

            trong hay ngoài sân khấu

            bên trên hay là bên dưới…

            ai cũng buồn như nhau.”

 (Phạm Duy – bđd)

 

            Về với Tin Mừng thánh Máccô, về người thanh niên giàu có, đã bỏ đi với khuôn mặt buồn rười rượi. Anh buồn như nhiều người giàu khác ta vẫn thấy ở đời. Vào mọi thời. Buồn, như các Giám mục ở Úc, còn đề cập:

 

“Đức Giê-su gọi mời ta thiết lập nên xã hội công bằng, trong đó mọi người cùng làm việc. Để nắm chắc, rằng: tình trạng nghèo đói ở nhiều nơi phải bị bứng tận gốc. Bứng đi, để mọi người sẽ có khả năng sống cuộc sống đầy đặn. Và, cũng nên đoan chắc rằng: người giàu sang/phú quý phải có trách nhiệm lo lắng cho người thiếu thốn, dễ tổn thương. Lo cho họ đủ cơm ăn áo mặc. Lo cho họ có nơi tá túc, bớt dãi nắng dầm mưa. Và lo cho họ luôn được người khác quan tâm, chăm sóc.

Cộng đoàn tiên khởi, cũng đã có quan ngại về tài sản chung, của mọi người. Sách Công vụ Tông đồ cho thấy cộng đoàn dân Chúa đã mong “bán đi đất đai của cải mà các ngài có, để phân phát cho mọi người, ai nấy tuỳ theo nhu cầu của mình.” (Cv 2: 45)

Các thánh tổ phụ thời Giáo hội tiên khởi, cũng buộc phải đeo đuổi thực hiện sự công minh chính trực. Ở thế kỷ thứ IV, thánh Bazil Cả đã nhắc cộng đoàn Hội thánh nên có trách nhiệm, với người nghèo. Thánh nhân có nói: ‘Vụn bánh mà anh chị em bỏ đi không dùng là cơm bánh của người nghèo. Quần áo dư dả, anh chị em treo trong tủ là áo quần của những người đang lạnh lẽo, thiếu mặc. Giày dép anh chị em đang đeo, là dép đi của những người đang dùng chân đất, mà sục xạo. Tiền bạc, anh chị em cất trong két sắt, là tiền là bạc của những người đang túng thiếu, rất đói nghèo. Cử chỉ bác ái, mà anh chị em bày tỏ, là những công trình mà anh chị em phải để hết tâm huyết, vào trong đó.”

Sở dĩ có đói nghèo trong xã hội, chỉ vì nhiều người không đủ khả năng tạo nên những gì họ cần. Tự thân, nghèo là sự tấn kích vào tương quan giữa người với người –tức: những nối kết hỗ tương- vẫn nằm sâu nơi lời dạy của Chúa. Chính vì lý do này, mà hội thánh đã và đang ra tay hành động suốt nhiều năm, ngõ hầu cải thiện nền y tế, giáo dục và phúc lợi, cho các gia đình. Cho cộng đồng.

Xã hội Úc nay đã khá giàu. Nên, chúng ta được mời gọi để nhận ra rằng: nhu cầu của người nghèo, vẫn quan trọng hơn sự ham hố của người giàu sang/phú quý, nhiều tiền nhiều của. Còn rất nhiều người, vẫn sống trong tình trạng đói nghèo triền miên. Và, họ vẫn bị người giàu đối xử không đuợc công bằng.

Nếu quan sát, ta sẽ thấy: nghèo đói vẫn hiển hiện nơi một số cộng đoàn của ta. Tức, cộng đoàn đang sống khá sung túc. Sống, ở xã hội có nền kinh tế rất tiến bộ. Chỉ số đói nghèo hiện thời của người Aborigines đang gia tăng gấp 2 đến 3 lần so với người Úc, nói chung. Đó là sự chênh lệch giàu/nghèo khó coi, ở một đất nước có nhiều tài nguyên dự trữ, dồi dào.

Thật đáng xấu hổ, khi ta không thể thoả mãn nhu cầu của người nghèo, là những người anh người chị của chúng ta. Lý do gây nên sự nghèo đói túng cực trong cộng đồng các anh chị em này, là do chúng ta chưa quan tâm đủ, ngõ hầu nhu cầu thiết yếu của cộng đồng người Aborigines, được đạt mức. Và, lý do khác nữa, là do ta chưa biết tôn trọng đủ các giá trị của nền văn hoá cổ xưa, cho phải phép.

Ngày lại ngày, viên chức Giáo hội làm việc tại các trung tâm phúc lợi như Centacare và Vincent de Paul, đang hỗ trợ cho các gia đình còn tung thiếu, bằng vào chương trình khẩn cấp nhằm giúp đỡ các người anh người chị của chúng ta phấn đấu, ngõ hầu đạt hiệu quả khả quan hơn.

Ngay từ đầu, những người anh người chị này, đã nhận ra sự khác biệt không đồng đều giữa mức sống có chuẩn mực mà công nhân/viên chức có đồng lương khiêm tốn vẫn cố gắng, nhưng chưa toại nguyện. Anh chị em ấy, vẫn cố gắng giúp các gia đình nhiều hơn nữa, để họ đạt được nhu cầu thiết yếu, có lúc lên có lúc xuống.

Cứ tưởng tượng, trường hợp các người anh người chị của chúng ta, đặt chân đến được tới đất nước tạm dung, sau nhiều tháng ngày khổ đau/khôn khó, ngõ hầu thoát khỏi vòng lao lý, khỏi chế độ hà khắc, bách hại. Sau một thời gian, trải qua hành trình vượt biên/vượt biển rất hiểm nguy, điều mà theo qui ước của Liên Hiệp Quốc, tất cả mọi người có quyền được xin tị nạn. Thế mà, nhiều đồng bào tị nạn là người anh em của chúng ta, vẫn cứ bị giam nhiều tháng nhiều ngày tại các trại giam di trú, rất sầu buồn. Đó là kinh nghiệm đắng cay của nhiều đồng bào tị nạn, vẫn mong được giúp đỡ, và được quan tâm để họ có thể lập thủ tục định cư, theo khuôn khổ luật lệ của nước Úc.”

 

            Diễn tả về “bi hài kịch” cuộc đời rất chênh lệch  giàu/nghèo, là như thế. Cuộc đời, theo cái nhìn chính mạch của nhà Đạo. Còn, người đời/thời nghệ sĩ, lại hơi khác. Khác với vần thơ như sau:      

           

“Diễn viên gục đầu đường

            máu chảy, vệt loang loang.

            Máu chảy vào quê hương.”

(Phạm Duy – bđd)

 

            Chảy vào quê hương - Nước Trời, một đời sống. Chảy, như các giám mục ở Úc lại đã thêm một nhận định:

 

“Mỗi người, và mỗi nhóm khác nhau trong xã hội, đều có khả năng đạt nhu cầu vật chất, và nhận ra được tiềm năng của mình, theo tính cách xã hội, kinh tế và tâm linh, của mình. Mọi người chúng ta được gọi mời, để có thể nhận ra được điều ấy, trong cuộc sống. Giữa bạn bè. Như vẫn thấy, trong cuộc sống cộng đồng của chúng ta. Nếu có ai bị thiệt thòi hoặc bị bỏ rơi, thì tình trạng của chúng ta cũng bị giảm sút. Chúng ta không thể tồn tại, mà lại không cần người khác. Và, ta chỉ có thể tăng trưởng thành đạt tiềm năng lớn lao của mình, là nhờ vào quan hệ ta có với mọi người.”

 

Nơi Tiệc Thánh, ta góp mặt hiện diện với Đức Giê-su, không như kẻ giàu/người nghèo, kẻ đầy uy quyền/người yếu kém. Nhưng, như những người anh người chị, trong cùng cộng đoàn. Đối với xã hội chỉ chú tâm đến tiêu thụ và tiêu thụ, thì thông điệp của Tiệc Thánh mang tính đáp trả, đối đầu với nền văn minh/văn hoá của con ngưòi. Trong khi chủ thuyết tiêu thụ đưa ta đến cảnh tích luỹ nhiều hơn nữa. Có cuộc sống kéo dài đến miên trưòng, hoặc chỉ nghĩ đến những là tiêu thụ và tiêu thụ đồ hàng vật chất, thì nơi Đức Kitô, ta được đề nghị thực thi quan hệ mật thiết với Chúa. Và, với nhau. Đức Kitô kêu gọi chúng ta, ngang qua người thanh niên giàu có, ở Tin Mừng, là: không nên tạo cho mình nhiều tiền nhiều của thêm lên nữa. Nhưng, là: sống nhiều hơn. Sống đích thực tính bác ái hơn.

            Xem thế, Đức Giê-su là Tin Vui, cho người nghèo. Xem thế, Đức Chúa là Tin Mừng cho người dõi theo bước chân mềm giảng rao, đích thực sống niềm tin-yêu, Ngài vẫn dạy. Ở đây nữa, cuộc đời con người vẫn cứ như là:

 

            “Ôi bi kịch còn dài

            trong hay ngoài sân khấu

            bên trên hay là bên dưới

            ai cũng buồn như nhau.”

(Phạm Duy – bđd)

 

            Đời người, buồn hay không, cũng tuỳ. Tuỳ người. Tuỳ quyết tâm của mỗi người, để hãnh tiến. Đạo diễn cuộc đời cò giơ tay lên hay giơ xuống, cũng tuỳ thái độ của mình đối với đời. Tuỳ, tầm nhìn của mình vào cuộc đời. Thái độ và tầm nhìn ấy, có thể ví von với truyện kể để minh hoạ, ở bên dưới:

 

“Có một ngân hàng, mỗi buổi sáng, cung cấp vào tài khoản của bạn 86400USD. Số dư trong tài khoản không được phép chuyển từ ngày này qua ngày khác. Mỗi buổi chiều, ngân hàng sẽ hủy bỏ hết số dư còn lại mà bạn đã không dùng hết trong ngày.

Bạn sẽ phải làm gì? Sử dụng hết số tiền đó, dĩ nhiên!  Mỗi người trong chúng ta đều có một ngân hàng như vậy. Tên ngân hàng là THỜI GIAN.

Mỗi buổi sáng, ngân hàng này cung cấp cho bạn 86.400 giây. Vào mỗi buổi tối, ngân hàng sẽ xóa bỏ, coi như bạn mất, thời gian mà bạn không đầu tư được vào các mục đích tốt. Ngân hàng không cho phép bạn được để lại số dư trong tài khoản. Cũng không cho phép bạn bội chi. Mỗi ngày, ngân hàng lại mở một tài khoản mới cho bạn. Mỗi tối nó lại hủy hết những gì còn lại trong ngày. Nếu bạn không dùng được hết thời gian mà bạn có trong ngày, người bị mất chính là bạn.

 

Không có chuyện quay lại ngày hôm qua. Không có chuyện tiêu trước cho "ngàymai". Bạn phải sống bằng những gì bạn có trong tài khoản ngày hôm nay. Hãy đầu tư vào đấy bằng cách nào đó, để bạn có thể nhận được nhiều sức khỏe, hạnh phúc, và thành công nhất! Đồng hồ vẫn đang chạy.. Hãy cố thực hiện thật nhiều trong ngày hôm nay.

 

-Để biết được giá trị của MỘT NĂM, hãy hỏi một học sinh bị ở lại một lớp.

-Để biết được giá trị của MỘT THÁNG, hãy hỏi một người mẹ sinh con thiếu tháng.

-Để biết được giá trị của MỘT TUẦN, hãy hỏi biên tập viên của một tuần báo.

-Để biết được giá trị của MỘT GIỜ, hãy hỏi những người yêu nhau đang mong chờ được gặp nhau.

-Để biết được giá trị của MỘT PHÚT, hãy hỏi một người bị lỡ chuyến tàu.

-Để biết được giá trị của MỘT GIÂY, hãy hỏi một người vừa thoát khỏi một tai nạn.

-Để biết được giá trị của MỘT PHẦN NGÀN GIÂY, hãy hỏi người vừa nhận được huy chương bạc trong kỳ thi Olympic.

 

Hãy quý trọng từng giây phút mà bạn có! Và hãy nên quý thời gian hơn nữa bởi vì bạn đang chia sẻ thời gian đó với ai đấy thật đặc biệt đối với bạn. Đặc biệt đủ để có thể chia sẻ thời gian của bạn. Và hãy nhớ rằng thời gian chẳng chờ đợi ai cả. Ngày hôm qua đã là lịch sử. Ngày mai là một bí ẩn. Hôm nay là quà tặng. Cũng vì vậy mà nó được gọi là PRESENT!  (HIỆN TẠI, và QUÀ TẶNG).

Bạn bè quả là loại nữ trang quý hiếm. Họ khiến bạn mỉm cười và khuyến khích bạn thành công. Họ lắng nghe bạn, họ chia sẻ với bạn những lời khen tặng, và họ luôn muốn mở trái tim ra với chúng ta. Hãy gởi những lời này đến với ai mà bạn xem như người bạn, và nếu những dòng này lại trở về với bạn, Bạn ắt biết rằng bạn đang có một vòng tròn bạn hữu .

 

            Bạn bè, hay bất cứ gì trong cuộc đời, vẫn là những gì quý giá, trong đời. Một đời có các đạo diễn cứ giơ tay lên, giơ tay xuống. Vẫn có diễn viên, tức chính người đời “dở khóc dở cưới”. Khóc cười, một cuộc đời là bởi, người đời vẫn cứ là hay quên Lời dặn dò trong Kinh Sách, về đời người và người. Người ấy có thể là bạn bè, là Quà tặng. Rất trân quý và đáng ghi. Để suy nghĩ. Nghĩ và suy mãi, về Lời. Về người.

 

            Trần Ngọc Mười Hai

            Vẫn cầu mong

mãi mãi nghĩ và suy

            về cuộc đời.

            Về người đời.

            Cứ luôn là quà tặng

            Cho mình và cho người.

           

 

 

 

 

24. “Chiều hôm qua lang thang

trên đường”

Nhớ, nhớ buồn buồn với chán chường

Chiều hôm nay trời nhiều mây vương
Có mùa Thu Vàng bao nhiêu là hương.

(Cung Tiến – Thu Vàng)

 

(Mt 6: 33)

Nhớ, nhớ buồn. Buồn với chán chường. Đó vẫn là mối sầu không tên, của nhiều người. Cả người ở huyện nhà Đạo, rất thân thương. Chí ít, là bầy trẻ nhỏ. Ở hải ngoại. Bầy trẻ này, vừa về quê thăm ông/bà nội/ngoại, mới dăm ngày, đã tán thán: “Mẹ ơi, sao con thấy ở đây chán quá à! Đi đâu không đi, tối ngày cứ bắt con đi nhà thờ hoài. Lại còn đọc kinh nữa. Chán lắm rồi, mẹ.”

            Nghe trẻ bảo, cha mẹ nào mà chẳng chột dạ. Thì ra là thế. Lâu nay là bậc mẹ cha, mình cứ bắt các con đọc kinh theo kiểu người lớn, đâu biết bọn chúng nay đà thấy chán. Sáng thức dậy, mẹ đã giục: “Đọc kinh dâng ngày cho Chúa, đi con”. Chợt đến trưa, mẹ cũng nhắc: “Hay là, mẹ con mình đọc ba kinh, nguyện cầu Chúa chúc lành cho của ăn ta nhận lãnh, nhé con”. Mãi về chiều, mẹ lại bảo: “Con à, mình đọc kinh dọn mình chết lành, đi con...

            Ngồi lặng im một mình, nhiều lúc bần đạo cũng nghĩ: nếu ta thay đổi lời kinh câu hát cho uyển chuyển đôi chút, chắc con cháu trong nhà, sẽ không còn kêu ca. Vì quá chán? Còn nhớ, có lần bần đạo đến nhà bạn bè, gặp bữa ăn, thấy vợ chồng khuyên con, lập lại lời cầu kinh, trước bữa ăn, vỏn vẹn chỉ thế này:

 

“Lạy Chúa, con cảm ơn Chúa đã cho con có được mẹ cha rất hiền lành. Con cảm ơn Chúa đã sinh ra mẹ ra cha, để mẹ còn dọn bữa cho con. Con cảm tạ Chúa đã cho Chúa Giêsu xuống thế, chịu chết vì chúng con. Con cầu xin Chúa, cho ngày mai sẽ còn vui hơn hôm nay. Chúng con cầu cùng Chúa, nhân danh Chúa Giêsu, Chúa của con.”

 

            Lời kinh hay như thế, sao vẫn chán? Chán đến độ, có cháu nhỏ người bạn khác ở nước ngoài, chạy đến với mẹ hiền tỏ bày ý kiến rất nhẹ nhàng, và buồn rầu như sau:

 

-Mẹ ơi, tối nay con không muốn đọc kinh chút nào hết đó, mẹ!

-Sao thế? Có chuyện gì làm con không bằng lòng thế?

-Chẳng có gì cả, mẹ à. Chỉ là, con thấy mình đọc kinh gì mà sao cứ lập lại hoài một câu như nhau. Nghe buồn chán lắm, cơ mẹ ạ. Sao mình không đọc kinh gì vui vui một chút có hơn không?

 

            Ngày xưa, khi các cụ nhà mình nghe ai đó lập đi lập lại mỗi một chuyện xưa như trái đất, bèn “kê ngay tủ đứng” chặn họng, rồi bảo:“Biết rồi, khổ lắm nói mãi!” Vâng, quả đúng là như thế. Vấn đề, là: có nhiều điều Chúa Mẹ đều biết cả, mà sao ta cứ xin hoài, không biết chán?

Quả tình thời nay, ở ngoài đời, thiên hạ có quá nhiều thứ hấp dẫn, cứ lôi cứ cuốn con em/đàn trẻ nhỏ chạy ra ngoài mà vui chơi. Chúng nào có thích ru rú ở nhà, để nghe người lớn hết đọc kinh, rồi lần hạt. Bởi thế nên, hôm nay ta thử mạn phiếm về chuyện: làm thế nào để khuyến khích bọn trẻ nhỏ, bỏ giờ ra mà học hỏi, chuyện Đạo. Học sống cuộc đời đi Đạo. Kẻo đã quá muộn.

Và một ý tưởng khác cũng nên bàn, là: trường lớp công/tư hôm nay, có giúp cho đàn trẻ vui vẻ học Đạo? Giáo lý, kinh bổn hôm nay, có là “bổn cũ soạn lại” thời cụ cố Đắc Lộ đề xướng nay có còn hấp dẫn giới trẻ, nữa hay không?…

Mới đây, vấn đề này lại được đặt ra với một số ít dân lành nhà Đạo, ở “miệt dưới” Sydney như tay viết Michael McVeigh có đôi giòng nhận xét, như sau:

 

“Cách đây 22 năm, khi Sư huynh Kelvin Canavan, Dòng thánh Patrick khởi đầu sự nghiệp giảng dạy của ông, lúc ấy các trường Công giáo ở Úc chỉ gồm toàn nhân viên/giáo chức vốn là nam nữ tu sĩ. Trường ở đây, không nhận được khoản trợ cấp nào từ phiá chính quyền. Thoạt kỳ thuỷ, trường nào thuộc cộng đồng giáo xứ đều đã tập hợp nhau lại vào ngày của Chúa, để dự thánh lễ, để suy tư. Và học hỏi.

 

Hôm nay, trường Công giáo lại đã nảy sinh một loại hình, khác hẳn. Nhiều gia đình, nay đã nối kết với Hội thánh, nhờ hệ thống giáo dục của Đạo. Bình luận về hệ thống giáo dục này, Sư huynh Canavan, đã có nhận xét, như sau: ‘40 năm trước, chúng ta đâu có hệ thống giáo dục Công giáo tốt đẹp như bây giờ. Mỗi trường tự gây quỹ, tự xây dựng đường hướng giáo dục, cho riêng mình...(Michael McVeigh, Telling the Chirstian Story, Australian Catholics Winter 2009, t.14)    

 

            Về kinh sách, tách bạch chuyện thường huấn, hẳn ai cũng nhớ lời các cụ xưa, ưa bảo: “Vô tri bất mộ”. Tức, đã không biết gì, thì làm sao nói được là thích thú. Thành thử, ở đâu/bao giờ cũng thế, có thích và có thú, mới thấy việc mình làm, không nhạt và chán. Nhạt, như nước ốc. Chán, như cơm nếp nát.

            Nhằm “chuyên trị” nồi nước ốc nhạt nhẽo và bát cơm nếp nát nói ở trên, Hội thánh ở Úc đã có quyết định đưa vào chương trình giảng dạy, một môn dành cho các em ở năm cuối tiểu học, được thấm nhuần giáo lý căn bản, có thi đấu, trắc nghiệm. Giờ đây, mời bạn/mời tôi, ta thử nghe lời bàn và thuật của sư huynh Kelvin Canavan, rất lão làng trong ngành dạy Đạo, như sau:

 

“Cách đây 10 năm, giáo phận Sydney đưa vào thực hiện, việc kiểm nghiệm lòng tin của con trẻ. Đây là chương trình kiểm tra kiến thức lòng Đạo, cho các em lớp 6, ở tiểu học. Kiểm tra lòng Đạo, để tìm cách cải tiến. Kiểm để xem nhà trường hoặc lớp có dạy cho con em mình cách thức học hỏi về tín ngưỡng - lòng đạo, hay không.

 

Tôi rất mừng khi nhận ra rằng: trong suốt 15 năm vừa qua, thày cô ở trường đã chấp thuận đưa chương trình giáo dục lòng đạo, vào với giáo án để dạy. Tuyệt vời nhất, là: cho đến nay, đấng bậc giáo chức vẫn giữ nguyên một quyết tâm làm việc này một cách rất có hiệu quả.” (x.Michal McVeigh, bđd)

 

Vấn đề cần thêm ở đây, là: làm sao để thày cô/nhà giáo của Đạo mình làm được những việc khô khan/cứng ngắc như thế, mà không chán? Các vị có sợ bị “đụng hàng” với hệ thống công lập/ngoài đời, không? Các vị có được sự hỗ trợ của nào ai khác, không? Đây, ta thử nghe thêm một ý kiến nữa:

 

“Chúng tôi rất hài lòng về phương cách mà cho đến nay nhà trường vẫn thực hiện. Vẫn nối liền niềm tin vào với văn hoá bình thường. Nối liền, qua chương trình công lý/xã hội. Nối liền, bằng tập hợp mọi người đến với nhau, mà tổ chức các buổi lễ, các sự kiện lớn. Có ý nghĩa.

 

Mặt khác, sư huynh Kelvin Canavan Cfc, cũng có nói: ông rất hài lòng về dự án này. Dự án, để đưa giá trị ngàn năm của Đạo đi sâu đi sát vào với khía cạnh của cuộc sống, ở nhà trường. Dự án, không chỉ mỗi công nhận rằng: hệ thống giáo dục của Đạo, nhằm vào thực hiện nhiều việc, hơn là chỉ giảng dạy mỗi ngày chừng nửa tiếng về tu đức, mà thôi. Tuyệt vời nhất, là việc chúng ta còn được dạy cả văn hoá ở trường, nữa.” (x.Michal McVeigh, bđd, t.15)

 

            Không những thế, sư huynh Kelvin Canavan cfc, còn “bật mí” một số chuyện rất thực, như:

 

“Thật sự mà nói, tôi thấy mừng là vì Hội thánh ngày hôm nay đã có khả năng đưa viễn cảnh của Đạo vào với giáo án của nhà trường. Chúng ta hỗ trợ nhà trường được nhiều cơ hội thuận tiện, để mừng kính các lễ lớn, và/hoặc những sự kiện/biến cố đại loại như thế. Ví dụ như, thày cô ở trường lo mỗi việc: dạy căn bản về kinh tế pháp luật, sử ký địa dư, hoặc Anh ngữ/khoa học vv. Còn lại, phần chúng tôi, chúng tôi cung cấp cho họ tài nguyên/vật liệu, tạo điều kiện cho họ dạy môn ấy, theo viễn ảnh Công giáo.” (x.bđd, t.15)

 

            Bạn bè người thân ở nhà, đọc đến đây hẳn sẽ thấy có nhiều điều xem ra hơi lạ. Lạ, ở chỗ: sống với đời, người người vẫn nghe người nghệ sĩ xưa nay, vẫn hát:

 

                        “Một mình đi lang thang trên đường

Buồn hiu hắt và nhớ bâng khuâng

Lòng xa xôi và sầu mênh mông.

Có nghe lá vàng não nề rơi không.”

 

            Thật ra, đời có xót xa/não nề, không phải vì kiếp người đoạ đày. Mà vì, lắm khi ta cứ nghĩ mình không làm nổi. Dù, vẫn có khả năng và tài cáng. Dù, người đời vẫn theo kiểu sống thường ngày ở huyện. Quên cả chuyện Đạo. 

 

            Xót xa/não nề, không chỉ do việc giáo dục lòng Đạo cho trẻ nhỏ, nay lơ là. Và, thiếu sót. Nhưng vì, người người nay mất đi niềm hứng khởi, trong học hỏi. Học về Đạo. Hơn là, học chuyện đời. Nói khác đi, trọng tâm cuộc sống của nhiều người, nay chỉ nhắm những chuyện thường ngày, ở đời mà thôi. Chứ, không là chuyện Đạo.

 

             Chẳng thế mà, người nghệ sĩ khi xưa, lại tiếp tục:

 

            “Mùa Thu vàng tới là mùa lá vàng rơi

Và lá vàng rơi, khi tình Thu vừa khơi

Nhặt lá vàng rơi, xem màu lá còn tươi

Nghe chừng đâu đây màu tê tái.”

(Cung Tiến – bđd)

 

            Chẳng thế mà, về những xót xa/não nề chuyện đời/chuyện Đạo, có đấng bậc nhà giáo thuộc lĩnh vực Đạo, đã ưu tư nhiều về học hỏi chuyện Đạo, bèn đề ra một số câu gợi ý chỉ để hầu chuyện người đọc. Để, mỗi người tự đặt cho chính mình. Trong các câu hỏi xếp hàng chờ lời đáp, có những câu được tóm gọn như sau:

 

1.    Đâu là phương cách hữu hiệu để bạn và tôi, ta học cách làm người Công Giáo, rất thực?

2.    Trau dồi lòng Đạo, bạn và tôi có cho rằng đàm đạo/chuyện vãn cũng khá cần cho lòng tin?

3.    Hội thánh tiên khởi làm những gì để biết chắc là mọi người thực sự tin vào Đức Kitô?

4.    Có cần chăng, những bàn bạc/luận thảo về ý nghĩa làm người Công giáo?

5.    Bản thân ta, có những thắc mắc hệt thế không? Nếu có, kết quả ra sao?

6.    Vai trò của đấng bậc/nhà giáo trong giảng dạy chuyện Đạo, đạt đến đâu? vv và vv..

 

Với các đấng bậc vị vọng, thì chỉ hỏi han như trên. Thế còn, bọn con trẻ, nay thì sao? Để minh hoạ cho câu trả lời của trẻ nhỏ, và cũng để vấn đề đặt ra được nhẹ nhàng, thư giãn, mời bạn mời tôi, ta nghe thử câu truyện kể, rất dễ gặp ở đâu đó:

     

“Hôm ấy, sau một ngày làm lụng khá vất vả và căng thẳng, vì đụng phải nhiều vấn đề hóc búa với đồng nghiệp và đối tác, ông bố về nhà đã trễ lại còn được cậu con 8 tuổi chờ sẵn ở cửa, thấy mặt bố, đã hỏi ngay:

 

-Con có thể hỏi một câu ngắn, được không bố?

-Có chứ. Lúc nào bố cũng sẵn sàng, mà con.

-Con chỉ hỏi: làm việc như bố, kiếm được bao nhiêu tiền một giờ?

-Chuyện này của người lớn, con hỏi để làm gì? Bố đang mệt, đừng để bố nổi cáu…

-Con chỉ muốn biết, có vậy thôi. Mỗi giờ bố kiếm được bao nhiêu?

-Nếu là chuyện con cần để trình với thày cô, thì bố bật mí cho con biết: bố làm $50/giờ

-Vậy, bố có thể cho con mượn chừng $25 tiền của bố, được không?

Ông bố mới vừa nghe như thế, đã đổ quạu:

-Nếu con chỉ hỏi mượn số tiền ấy để mua đồ chơi hoặc làm những chuyện vô bổ, thì tức khắc, hãy vào phòng riêng, tắt đèn mà đi ngủ. Đừng có mà trông mong gì bố hết. Hãy suy nghĩ. Đừng kiếm cớ để chạy tội ích kỷ, chỉ lo chơi, mua bán những đồ vô ích. Bố làm việc quần quật mỗi ngày, đâu để con phung phí, vào những chuyện như thế…

 

Ông con lẳng lặng bước vào phòng, vội đóng cửa. Rất nhẹ. Sợ bố tiếp tục nổi nóng. Trong khi đó, ông bố suy nghĩ: bằng ấy tuổi đầu, sao con mình lại hư như thế?.. Một lúc lâu, thấy hạ hoả, ông nghĩ lại: Hay, con mình có lý do của nó nên mới hỏi mượn tiền. Có thể nó cần mua thứ gì đó, chẳng phải đồ chơi. Nghĩ thế rồi, ông vào phòng con nhỏ, hé cửa hỏi:

-Con vẫn còn thức chứ?

-Con vẫn không tài nào ngủ được…

-Bố nghĩ lại, thấy hơi quá đáng đối với con chăng.Có lẽ tại hôm nay bố gặp nhiều chuyện trong sở, nên mới đổ xuống hết trên đầu của con. Thôi đây, con cầm đỡ $25 đô này đi. Mai mốt cần gì, cho bố biết nhé…

-Cảm ơn bố. Con chẳng cần gì thêm đâu. Chỉ là, con mới chỉ kiếm đủ có $25 đô thôi. Nay, con đã có đủ $50 đô đưa cho bố đây. Xin bố dành cho con một giờ, ăn cơm tối với con, nhé.

Nghe con nói, ông bố khuỵu người xuống. Ôm con, khóc nức nở. Khóc, là vì ông không rõ, con mình học được điều đó ở đâu. Trường lớp hay nhà thờ? Mà, lại dạy cho con của ông những bài học về “đạo làm cha” còn hay hơn cả, nhiều bài học quý giá, ở đời.

 

            Về học hỏi những chuyện “đạo làm người” trong đời, không chỉ mỗi trường lớp hôm nay, mới đặt ra. Hình như, cả thời xa xưa cổ lỗ, người ta cũng từng đặt vấn đề, ra như thế. Để, đến hôm nay, ngồi nhớ lại người xưa cũng có những thắc mắc rất “căng” như bây giờ. Những thắc mắc và nhận định, đại loại như:

 

“Tôi thấy, không có hy vọng gì cho tương lai của con trẻ. Bởi, bọn trẻ bây giờ vẫn hay tuỳ thuộc vào những điều phù phiếm/lông bông của trẻ con. Bởi, chắc chắn một điều là giới trẻ ngày nay hay khinh suất, quá lời… lúc tôi còn trẻ, tôi vẫn được dạy là mình phải thận trọng, biết kính trên nhường dưới. Nhưng tuổi trẻ ngày nay lại cứ thích vượt phóng chuyện cẩn trọng, dè dặt. Và, cũng chẳng còn kiên nhẫn nữa.” (Hesiod, 700 trước công nguyên)

            Hoặc, một nhận định khác của đấng bậc nổi tiếng khôn ngoan, hiền triết:

 

“Bọn trẻ ngày nay chỉ ưa những gì hào nhoáng, xa hoa. Chẳng lý gì chuyện kính trọng người cao niên, già cả. Chỉ thích nói nhăng nói cuội, ở mọi nơi. Cả nơi trang nghiêm, cần học hỏi. Lớp trẻ hôm nay đã trở thành bạo chúa, bắt mọi người phục vụ mình, chứ không còn phục vụ người lớn trong nhà nữa.

 

Chẳng ai biết đứng dậy chào đón khi người lớn bước vào phòng. Ngày nay, lúc nào bọn chúng cũng ra như muốn cãi lời cha mẹ. Cứ huyên thuyên luôn mồm trước mặt khách khứa. Ăn uống thì ngồm ngoàm, ngấu nghiến. Đứng ngồi, chẳng giống ai, cứ bắt tréo chân cẳng hoặc giạng háng, gác lên bàn, rất khó coi. Đôi khi còn hung tàn bạo ngược với thày cô, nữa. (Triết gia Socrates, 469-399 trước công nguyên)

 

            Và, một nhận định của triết gia khác:

 

“Tuổi trẻ ư? Là, đám người hoang tàng khi hưởng thụ. Đôi lúc, rất bất kham. Cần có giây cương, để thắng giữ.” (Triết gia Plutarch 46-120 niên lịch La Mã)           

 

            Nói tóm lại, là con trẻ, thiết tưởng lúc nào cũng cần học. Cần hỏi. Học chuyện Đạo, hỏi chuyện đời. Những chuyện dù rất chán, vẫn cứ nhịn. Cứ cố làm cho vui. Vui, như người nghệ sĩ trẻ khác:  

 

 

 

            “Hãy vui lên bạn ơi!

            Ngày mai lắm khi không còn gì để cười

            Tương lai biết đâu chỉ là thương nhớ thôi

            Dù sao hãy cười bạn ơi!”

(Lê Hựu Hà – Hãy vui lên bạn ơi!)

 

            Lời cuối cùng, có lẽ cũng nên quay về với cội nguồn của tình thương yêu, không biết chán chường. Yêu, vào mọi lúc. Vui, vào mọi thời, như sau:

            “Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa

và đức công chính của Người,

còn tất cả những thứ kia,

Người sẽ thêm cho.

(Mt 6: 33)

 

            Lời trích đây, là lời vàng ta nghe nhiều năm tháng. Nhưng đã mấy ai chịu để giờ ra mà nghiên cứu. Và học hỏi. Học và hỏi, những chuyện xưa như trái đất. Vẫn không chán. Có chán chăng, chỉ vì lòng mình trĩu nặng những chuyện lăng nhăng. Vô bổ. Của mọi thời. Mọi người.

 

Trần Ngọc Mười Hai

            Vẫn cứ mong

học được nhiều điều.

            Sẽ không chán,

            như dự đoán.

 

          

 

 

           

 

           

       

25. “Hãy nói về cuộc đời”

Khi tôi không còn nữa
Sẽ lấy được những gì
Về bên kia thế giới
Ngoài trống vắng mà thôi…”

(Anh Bằng/Du Tử Lê – Khúc Thụy Du)

 

(Mt 5: 4)

            Nói về đời, sao người chỉ muốn nói “khi tôi không còn nữa”. Cuộc đời, còn nhiều thứ để nói lắm chứ. Nói về đời, là nói vào khi tôi/khi bạn đang còn sống. Sống để nói, chứ đâu nào: “lấy được những gì”, “ngoài trống vắng mà thôi”. Thì ra, khi nói về cuộc đời, là “để lấy”. Lấy gì? Lấy, mà làm chi?

            Thật ra, thì khi nói, bạn và tôi nào có muốn lấy những chi chi. Nhất thứ, là lấy để mang “về bên kia thế giới”. Nói, chỉ để kể. Kể cho nhau. Kể cho thế hệ mai sau. Những điều mà suốt cuộc đời, ta chỉ tranh sống chứ chưa giành kể. Kể thật nhiều. Kể lai rai. Không ngoài những gì về đời người và người đời. Kể, cả những chuyện tai nghe mắt thấy, như truyện kể  ngắn gọn, ở bên dưới:

 

“Kể rằng:

 Có thầy tu nọ thuộc phái “khất thực” đi ngang qua khu làng nhỏ, để hành và khất. Nhằm lúc trời hanh khô, thầy cất bước ra đi, đi mãi đi hoài, vẫn không tới. Thấy đã thấm mệt, thầy bèn quyết định dừng chân đứng lại, rẽ vào căn nhà nhỏ, để xin nuớc. Ngặt một nỗi, căn nhà nhỏ chỉ thấy có cô gái còn trẻ, dù không xinh. Cô gái nghe thầy tu nói muốn xin nước, bèn đặt một chai nước ở hiên nhà, định quay vào trong, để lấy ly. Lúc ấy, thầy tu lại cứ tưởng cô gái đi vào luôn, nên định bụng mở nắp chai, tu một hơi cho nó đã. Vừa lúc đó, cô gái đi ra, thấy vậy bèn kêu lên:

-Thầy đừng tu, để em lấy…

Thầy tu hoảng hốt, ngắt lời:

-Cô đừng lấy, để tôi tu…”

 

            Quả là, về đời người hoặc người đời, cũng có trăm phương ngàn cách để nói, mà không lấy. Nói làm sao? Lấy thế nào? Đó, vẫn là vấn đề, của mọi thời. Mọi nơi. Chí ít, là nhà Đạo. Về cuộc đời ở nhà Đạo, không thể “nói lấy nói để”, như nghệ sĩ ở trên vẫn dành nói và hát, những lời như:

 

            “Hãy nói về cuộc đời

            Tình yêu như lưỡi dao

            Tình yêu như mũi nhọn

            Êm ái và ngọt ngào

            Cắt đứt cuộc tình đầu…

(Anh Bằng/Du Tử Lê – bđd)

 

            Không nói được hoặc nói không được, là bởi: nói về đời người và người đời, thường là người người vẫn nói theo hai kiểu. Hai cách. Cách đầu, là nói tiếng “Không”. Cách sau, là nói “Có”.

            Nói không –chứ không phải là không nói- không thể là nói chữ “không” về mọi chuyện. Với, mọi chuyện. Bởi, nếu bạn và tôi, ta cứ nói tiếng “không” về mọi chuyện, thì cuộc đời con người sẽ chẳng có chuyện gì để mà nói. Chẳng có gì để , phải quan tâm.

            Ngược lại, nếu nói tiếng “không” với mọi chuyện, hẳn là ta sẽ chẳng còn nhận ra được chính mình. Mình là ai? Mình muốn mình là ai, nữa. Mình ra sao? Làm những gì? Và, nếu cứ nói tiếng “không” với mọi người, mọi chuyện, cả chuyện yêu đương, hoặc đương yêu, hoặc được chọn lựa cuộc sống, chứ không phải là cõi chết, thì cuộc sống sẽ không còn đưa đẩy mình vào “Thiên đàng để ngỏ”. Và như thế, ta sẽ mất đi hạnh phúc. Mất đi những dịp thuận để nói tiếng “có”. Với mọi sự.

            Nói “không”, là nói giống như nghệ sĩ ở trên, vẫn cứ nói và cứ hát những lời:

 

            “Như loài chim bói cá

            trên cọc nhọn trăm năm

            tôi tìm đời đáng mất

            trong vũng nước cuộc đời…”

 (Anh Bằng/Du Tử Lê – bđd)

 

            Nghe người nghệ sĩ cứ nói những điều nghịch nhĩ như trên, cũng thử đề nghị, bạn cũng như tôi, ta có thể làm ngược lại, là nói có. Có, với người đời. Để rồi, đời mình sẽ trở nên tốt đẹp, hơn bao giờ. Hơn, cả người nghệ sĩ chừng vẫn tưởng. Hơn, là vì: khi nói “có”, tức là ta đã trả lời “có” với Chúa. Với, người người. Những người đang trông ngóng, chờ đợi ta nói có. Rất thân thương.

            Nói “có”, là nói lời ứng đáp rất tích cực với những đòi hỏi, từ người khác. Đòi và hỏi, về tương quan giùm giúp. Đòi và hỏi, về một hỗ trợ. Rất thân thương, cần có. Cho nhiều người. Nói “có”, là nói như Đức Chúa, vẫn đáp trả một đòi hỏi rất ư là nghiệt ngã, về cứu độ. Nói “có” như Ngài, là bằng lòng chấp nhận những cái “không” nào khác, để người người được “có”. Có mãi. Có được điều cần có, trong cuộc đời, là: ơn cứu độ. Do Chúa ban.

            Nói “có”, còn là chấp nhận lời mời gọi từ Chúa, khi Ngài đưa ra hiến chương Nước Trời 8 điểm, trong đó có điểm nói rất rõ, về sự “có”:

 

            “Phúc cho những kẻ hiền lành,

            Vì họ sẽ (có) được đất làm cơ nghiệp”

            (Mt 5: 4)

 

            Nói “có” về cuộc đời, ngày hôm nay, là nói rất rõ về “những kẻ hiền lành”, từng hiện diện làm vẻ vang Giáo Hội, mà dân con Đạo Chúa vẫn có thói quen gọi các ngài là “Tiến Sĩ Hội Thánh”. Sao là “Tiến Sĩ (của) Hội thánh, lại được gọi là “những kẻ hiền lành, vì “có” được “đất làm cơ nghiệp”? Đây là câu nói của một dân thường ở huyện, huyện Sydney, cũng từng hỏi và từng nói, như sau:

 

“Tôi nghe nhiều người nói về tước hiệu “Tiến Sĩ Hội Thánh”, nhưng không hiểu  ý nghĩa/chức năng của danh xưng này. Xin ngài giải thích cho biết dựa vào đâu ta có thể phong cho ai đó tước hiệu là Tiến Sĩ, Hội Thánh? Và, các vị ấy, nay đếm được bao nhiêu. Xin biết ơn.” (Một giáo dân không ghi rõ, những tên cùng tuổi).

 

            Đã “nói” và hỏi về những điều được nghe và được “nói” ở huyện nhà, huyện Sydney muôn thuở, của bạn tôi, thì câu hỏi dù có khó nói, hoặc nói khó hay không, vẫn được chuyển về “đức thày” nhà Đạo rõ ràng đầy đủ họ và tên rất ư là John Flader, của tờ The Catholic Weekly, hôm 20/9/2009, tr 10), như sau:

 

“Trước hết, như ông/bạn từng biết: tước hiệu “Tiến Sĩ” theo nghĩa này, không có ý nói về các vị tiến sĩ khoa bảng ngành y, chuyên trị cúm cho nhiều người. Cũng không là, các vị chữa trị nhiều bệnh tình của con tim, rất Hội thánh!   

Cụm từ “Tiến sĩ” xuất xứ từ tiếng Latinh “docere”, có nghĩa là “dạy dỗ”. Xem như thế, “tiến sĩ” ở tiếng Latinh, có nghĩa là bậc thầy dạy. Những điều phải.

Muốn được Giáo hội phong cho tước hiệu “Tiến Sĩ Hội Thánh”, đương sự phải ngang qua 3 qui trình diễn tiến như sau: phải trổi trang về tín lý; phải sống lành thánh, rất thanh cao; và, phải được Hội thánh tuyên dương công trạng “Tiến Sĩ”, của nhà Đạo.

 

Duy chỉ các bậc hiển thánh mới được phép lĩnh nhận tước hiệu này. Chính vì thế, nhiều đấng bậc vị vọng từng sống ở thời Giáo Hội tiên khởi, từng viết nhiều sách nổi tiếng, nhưng một khi không được phong thánh, vẫn không phải là Tiến Sĩ Hội thánh.

Các thánh tử đạo, chẳng hạn, tuy lành thánh rất mực, nhưng chẳng có vị nào được Giáo hội phong làm Tiến Sĩ Hội Thánh, hết. Thậm chí, ngay như các bậc thánh nổi danh như: thánh Irênê, thánh Cyprianô, là đấng bậc rất vị vọng, từng đóng góp rất nhiều điều bổ ích vào kho tàng giáo huấn của Hội thánh, vẫn không được gọi là Tiến Sĩ Hội Thánh, bao giờ.

Một lý do khác nữa, là: các thánh tử đạo có lẽ vì đã được Hội thánh tuyên dương mức tối cao rồi, không còn danh hiệu nào cao quý hơn để áp đặt cho vinh quang của các ngài hơn được nữa.

Dù rằng về mặt tín lý, các Tiến Sĩ Hội thánh đều rất trổi trang, cũng không có luật đòi buộc các ngài phải đưa ra nhiều bài viết có giá trị. Chẳng hạn như, trong khi thánh Âu Tinh và Gioan Chrysostômô đã để lại rất nhiều bài viết, các vị khác như thánh Catarina thành Xiêna và thánh Nữ Têrêxa Hài Đồng Giêsu, còn có khi viết rất ít, hoặc chẳng viết gì hết.

Mọi việc còn tùy vào quyết định của Đức Giáo Hoàng có đồng ý tuyên dương vị nào là Tiến Sĩ Hội Thánh hay không, thôi. Đức Giáo Hoàng tiên khởi làm việc này là năm 1295, Đức Bônifaxiô VIII đã tuyên dương 4 vị Tiến Sĩ Hội Thánh gốc Tây Phương, sống vào 6 thế kỷ đầu, là: thánh Ambrôxiô, thánh Âu-Tinh, thánh Giêrônimô và Đức Giáo Hoàng Grêgôriô Cả.

Đối ứng với các vị này, còn có 4 Tiến Sĩ Hội Thánh thuộc Phương Đông, cũng được tuyên dương cùng thời kỳ, là các thánh: Gioan Kryzốtômmô, Baxin Cả, thánh Grêgôriô thành Nazanziô và thánh Atanaxiô. Dù các ngài được phong thánh rất sớm, từ trước, Đức Piô V cũng chỉ chính thức công nhận các ngài là Tiến Sĩ Hội thánh vào năm 1568, mà thôi.

Cùng năm 1568, Đức Piô V cũng đã tuyên dương vị thánh đồng môn Đa Minh của ngài là thánh Tôma Akinô làm Tiến Sĩ Hội Thánh. Vào năm 1588, Đức Giáo Hoàng Sixtô V thêm vào danh sách các Tiến Sĩ Hội Thánh tên của thánh Bônaventura.

Mãi cho đến thế kỷ thứ 18, con số các Tiễn Sĩ Hội Thánh của Đạo chỉ gồm có 10 vị, thôi. Phải chờ đến thế kỷ thứ 20, con số các thánh này mới gia tăng. Cho đến hôm nay, số các ngài lên đến 33 vị. Và, chỉ có 3 trong số các ngài, là phụ nữ.

Năm 1970, Đức Giáo Hoàng Phaolô Đệ Lục đã chính thức phong cho Têrêxa thành Avila và thánh Catêrina thành Viên làm Tiến Sĩ Hội thánh. Đến năm 1997, Đức Gioan Phaolô Đệ Nhị lại đã thêm vào danh sách các vị Tiến Sĩ Hội Thánh, tên tuổi của thánh Têrêxa Hài Đồng, thành Lisieux, nước Pháp.

Vào thế kỷ thứ tư và thứ năm, các Tiến Sĩ Hội Thánh lúc bấy giờ gồm thánh Êphrem, Hilariô, Xirinô thành Giêrusalem, Xirinô thành Alexandria, Đức Lêo Cả và thánh Phêrô Chrysôlôgô. Năm thế kỷ tiếp theo sau, ta có thánh Isiđôrô thành Sêvilla, Chân Phước Biđê và thánh Gioan Đamátxinô.

Từ thế kỷ thứ 11, ta có các thánh Phêrô Đamaniô và Anxem. Ở thế kỷ thứ 12 và 13, ta có các thánh Bernađô thành Clevô, Antôn Pađua, Anbertô Cả, Bônaventura và Tôma Akinô. Thánh Catarina thành Xiêna sống vào thế kỷ thứ 14.

Thời kỳ nhiễu nhương chống cải cách vào thế kỷ thứ 16 và tiền bán thế kỷ thứ 17, đã sản sinh thêm nhiều Tiến Sĩ Hội Thánh rất cao cả, là thánh nữ Têrêxa thành Avila, Gioan Thánh Giá, Phêrô Canixiô, Rôbợt Belamin, Lôrenxô thành Brindixi và PhăngXoa LaSan.

Hai Tiến Sĩ Hội Thánh cuối cùng là thánh AnPhong Ligôri, sống vào thế kỷ thứ 18 và thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu thành Lixiơ ở thế kỷ thứ 19. Trong số 33 vị Tiến Sĩ của Hội Thánh nói trên, có 25 vị thuộc Giáo hội Phương tây và 8 vị thương Hội thánh Đông Phương. Về hội dòng và triều, 14 vị thuộc đấng bậc triều và 16 thuộc dòng tu. Trong số các Tiến Sĩ của hội thánh, có 2 vị là Giáo hoàng, 18 Giám mục , 9 linh mục và 1 phó tế.

Trong số các Tiến Sĩ Hội thánh sống đời tu trì, 5 vị thuộc Dòng Biển Đức, 3 vị thuộc Dòng Kín Camêlô, 3 Đaminh, 3 Phanxicô, 2 vị thuộc Dòng Tên, 1 Dòng Xitô và 1 Dòng Chúa Cứu Thế. (x. John Flader, The Catholic Weekly 20/9/2009, tr. 10)     

  

                Về những “nói”, nhiều vị nói rất nhiều chuyện. Nhiều việc. Và, nhiều người. Có người và việc rất nổi tiếng. Gì cũng nhất. Gì cũng hơn hẳn mọi người. Mọi sự. Những vị “hơn hẳn mọi người” ấy, tên tuổi họ đều được ghi vào sách “kỷ lục Guiness”. Sách này được cập nhật hoá, từng năm/tháng. Rất thời thượng. Nhưng, có rất nhiều điều cũng rất ư là “kỷ lục”, mà lại không được ghi vào sách. Những người/những điều được coi là “nhất trên đời”, nhưng không được ghi vào sách, nói ở trên. Nên kể đến, là:

 

            “Thói quen tệ hại nhất,cho đời:                  Ưu tư

            Niềm vui cao quý nhất:                               Cho đi

Mất mát to lớn nhất:                                     Mất tự trọng

            Công việc khiến ta hài lòng nhất:             Giúp đỡ

            Nét vẻ xấu xí nhất của con người:             Lòng vị kỷ

Người/vật có nguy cơ dễ bị tuyệt chủng nhất: Lãnh tụ 

            Tài nguyên thiên nhiên cao quý nhất:       Tuổi trẻ

            Liều thuốc bổ ích nhất:                                Sự khích lệ

            Khó khăn lớn nhất cần vượt qua:  Nỗi niềm hãi sợ

            Thuốc an thần hiệu nghiệm nhất:     Sự thanh thản

Căn bệnh khiến ta khập khễnh thất bại nhất: Kiếm cớ

            Sức mạnh uy phong nhất trong đời:   Tình yêu

            Tiểu nhân nguy hiểm nhất:      Ngồi lê đôi mách

            Vi tính lạ kỳ nhất:                       Não bộ thần kinh 

Thiếu nó, ta sẽ trở nên tồi tệ nhất từ xưa đến nay:Hy vọng

Vũ khí giết người ghê rợn nhất: Lưỡi mềm uyển chuyển

            Cụm từ có tác dụng nhất:            “Tôi làm được”

Tài sản lớn nhất:                              Niềm tin

Tình tự vô dụng nhất:      Thương hại chính mình

Nữ trang hấp dẫn nhất:       NỤ CƯỜI

Vật sở hữu giá trị nhất:         Sự liêm sỉ

Đường dây trao đổi hiệu nghiệm nhất:  Lời nguyện

cầu

Đức tính dễ lây lan nhất:     Niềm phấn khởi

 

            Xem như thế, “nói về cuộc đời”, là nói về những gì hay nhất, đẹp nhất. Cần nói. Cần kể. Nói về cuộc đời, là nói về những điều như thế. Những thứ, mà truyền thông đại chúng, cũng như báo đài/sách vở, ít khi ghi.

            Hỏi và nói, về người đời/đời người, đừng nên hát lời cuối của nghệ sĩ nói trên, ghi bên dưới:

 

            “Đừng bao giờ em hỏi

            Vì sao ta yêu nhau

            Vì sao môi anh nóng

            Vì sao tay anh lạnh

            Vì sao thân anh rung

            Vì sao chân không vững

            Vì sao, và vì sao!”

 (Anh Bằng/Du Tử Lê – bđd)

 

           

Vì thế nên, khi hỏi và nói điều gì đi nữa, đời người vẫn như thế. Trừ phi, người đời biết nghe Lời Thầy Chí Ái, từng nói. Ngài nói rất chí lý. Từ ngàn xưa:

 

            “Phúc cho những kẻ biết thương xót,

            vì họ sẽ được xót thương.”

            (Mt 5: 7)

 

            Và, hiền nhân/tiến sĩ của Hội thánh, lâu nay là những người từng nói. Từng nghe. Từng làm theo Lời Thầy. Rất đúng.

 

            Trần Ngọc Mười Hai

có bao giờ dám nói,

nhưng chỉ dám hỏi.

Hỏi mình. Hỏi người.

Về đời người. Và người đời.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

26. “Nếu một mai khi hòa bình”

Anh sẽ dìu em qua lối xưa
Cho từng ngón tay đan lại”

(Trần Thiện Thanh – Lời Cho Người Yêu Nhỏ)

 

(Ga 16: 13/1Cr 6: 19)

Nếu phải chờ đến một mai, khi hoà bình, anh mới có “Lời Cho Người Yêu Nhỏ”. Chậm quá chăng? Nhiều bạn, nhiều người như tôi, vẫn cứ bảo rằng đã có và hiện có những Lời nói ấy cho người yêu lớn/nhỏ, vào mọi thời. Ngàn năm trước. Triệu năm sau. Lời cho người yêu lớn/nhỏ, ý hẳn là Lời Yêu Đương. Của Đức Chúa. Tình Yêu. Tình giữa Cha và Con, như các đấng bậc đang làm. Hôm nay.   

Việc các-đấng-bậc-đang-làm, bần đạo nhớ có lần sang Mỹ, được nghe người anh cùng trường, dõng dạc tuyên bố: anh từng về quê, đặt tay lên đầu/trán người-dân-đi-Đạo ở Tây nguyên, làm “té/ngã” cả trăm người. Bần đạo lúc ấy, chẳng hiểu mô tê/ất giáp gì là “té” với “ngã” khi bị người anh “rờ trán”, có ấm không. Nhưng nghĩ là, mỗi khi Thần Khí đến với ai, chắc cũng có cảnh ngã/té, trong tâm hồn!

            Dù gì nữa, bần đạo nay dám mời bạn, mời tôi, ta bước vào vùng Kinh Sách xem chương đoạn nào nói chuyện té/ngã, khi Thần Khí đến với ta? Trước nhất, một chương đoạn chính mạch: 

 

            “Đó là Thần Khí sự thật,

Đấng mà thế gian không thể đón nhận,

vì thế gian không thấy

và cũng chẳng biết Người.

Còn anh em biết Người,

vì Người luôn ở giữa và trong anh em.”

            (Ga 14: 17)

 

Và,

 

“Khi Thần Khí sự thật đến,

Người dẫn anh em tới sự thật toàn vẹn.

Người sẽ không tự mình nói điều gì,

nhưng tất cả những gì Người nghe,

Người sẽ nói lại,

và loan báo cho anh em biết

những điều sẽ xảy đến.”

(Ga 16: 13)     

 

            Nghe Lời Thật, chắc mọi tâm hồn đều sẽ sáng ra. Sáng, như thánh Phaolô từng quả quyết:

 

            “Hay anh em lại chẳng biết rằng

thân xác anh em là Đền Thờ của Thánh Thần sao?

Mà Thánh Thần đang ngự trong anh em

là Thánh Thần chính Thiên Chúa đã ban cho anh

em.

Như thế, anh em đâu còn thuộc về mình nữa.”

(1Cr 16: 19)

 

            Xem thế thì, chuyện “té/ ngã” chẳng có gì là quan trọng. Vì một khi, thân xác đã được sáng, thì mình lại càng phải làm cho sáng hơn sự thật ấy, với mọi người. Như đấng bậc nọ ở Sydney từng đề cập trong Lễ Ngũ Tuần năm 2009, với lời hỏi/đáp rất như sau: 

 

“Tôi có vài bạn được ơn thần hứng, dấy tràn ơn Chúa Thánh Thần. Các vị này được nói “tiếng lạ”, lại tham gia các buổi chữa lành, nhiều tật bệnh. Xin hỏi: tôi cần phải làm gì thêm, để có được tương quan đậm sâu với Thánh Thần Chúa, mà chẳng cần yếu tố “thần hứng”/”nói tiếng lạ”, đặc biệt như thế? 

 

            Không như người nghệ sĩ, thường chỉ hát:

 

            “Dù mưa qua, vùng giá rét

            trời xanh trong, lòng đôi ta

mình yêu nhau, như khi vừa mới biết, nghe em!”

(Trần Thiện Thanh – bđd)

 

đấng bậc mình, cũng đã trả lời ngắn và gọn, như sau:

“Khi Chúa Thánh Thần chứng tỏ sự hiện diện và sức mạnh quyền uy của Ngài bằng nhiều phương cách phi thường, bắt đầu bằng Lễ Hiện Xuống và còn tiếp tục cho đến hôm nay, thì mọi tín hữu chúng ta đều có thể và phải có tương quan mật thiết với Ngôi Ba Thiên Chúa.

Hãy để tôi thêm đôi lời giải thích, theo cách nào khác, rằng ta làm được việc này, nhờ dựa trên các vai trò khác nhau của Chúa Thánh Thần, được nhắc đến trong Kinh Thánh.

Vào Buổi Tạ Từ, Chúa nói: Thánh Thần Chúa sẽ “ở với anh em mọi ngày, và mãi mãi”, và: “Ngài luôn ở giữa, và ở trong anh em.” (Ga 14: 17). Đồng thời, thánh Phaolô cũng viết cho giáo đoàn Côrinthô, trong đó nói: “thân xác anh em là Đền Thờ của Thánh Thần ngự giữa anh em” (1Cr 6: 19)

Việc này mở ra một triển vọng về đời sống tâm linh cho chúng ta. Ta có được phẩm cách làm đền thờ Chúa Thánh Thần đến ngự vào lòng mình. Vì thế, ta có khả năng tiếp cận, chuyện vãn với Thánh Thần Chúa, không phải “ngoài kia”, mà “ở đây”. Bây giờ. Ngài là “Vị Khách ngọt ngào thân mật cho tâm hồn”.

Nhận thức về phẩm cách này thôi thúc ta chiến đấu hăng say, chống phạm lỗi, chí ít là những lỗi phạm đối với thân xác, của chính ta. Chính trong bối cảnh ngôn ngữ ấy, mà thánh Phaolô minh định thêm rằng ta là đền thờ của Chúa Thánh Thần. Và thánh nhân kết luận: “Anh em không còn thuộc về mình nữa. Nhưng đã được mua chuộc, bằng giá cả hẳn hòi. Vậy, hãy tôn vinh Thiên Chúa nơi thân mình anh em.” (1 Cr 6: 19-20).

Hơn nữa, vào Buổi Tạ Từ, Đức Giêsu nói về Chúa Thánh Thần rằng Ngài là “Thần Khí Sự thật”, Đấng dẫn đưa ta tới sự thật hoàn toàn (Ga 16: 13). Điều này áp dụng vào đời sống người Kitô hữu, rất nhiều.

Những ai từng học hỏi bằng nhiều cách, dù cách trần tục hoặc tâm linh, đều có thể kêu cầu Chúa Thánh Thần dẫn đưa mình về với sự thật. Cho bất cứ bộ môn nào mình học hỏi. Hoặc nghiên cứu.

Cũng thế, nếu ai thấy khó nắm bắt sự thật về bất cứ vấn đề riêng tư, đặc biệt nào đều có thể kêu cầu Chúa Thánh Thần soi sáng, chỉ dẫn. Và vị nào đang hướng dẫn/dỗ dạy một ai, cũng có thể xin Chúa Thánh thần dẫn dắt mình và những người mình dạy dỗ, đi vào sự thật, cần có.

Thánh Phaolô cũng viết cho giáo đoàn Rôma nói rằng: Chúa Thánh Thần luôn dẫn nhập nơi ta tính sâu sắc của phận làm con Thiên Chúa. Sâu sắc, không chỉ về tính cách của thọ tạo mà thôi, nhưng đặc biệt ở nơi con cái Chúa, Đấng là Cha của mình:

 

“Quả vậy, phàm ai được Thần Khí Thiên Chúa hướng dẫn, đều là con cái Thiên Chúa. Phần anh em, anh em đã không lãnh nhận Thần Khí khiến anh em trở thành nô lệ và phải sợ sệt như xưa, nhưng là Thần Khí làm cho anh em nên nghĩa tử, nhờ đó chúng ta được kêu lên: "Áp-ba! Cha ơi!" Chính Thần Khí chứng thực cho thần trí chúng ta rằng chúng ta là con cái Thiên Chúa.”(Rm 8: 14-16).

Cả vào khi ta gặp rắc rối, hoặc té/ngã, hiểu theo cách nào đó, Thiên Chúa vẫn không ở xa. Ta vẫn có thể cầu Chúa Thánh Thần giúp ta kêu thành tiếng “Abba! Cha ơi!”, và nhớ rằng Thiên Chúa không ở đâu đó, tránh xa ta. Ngài là Cha luôn thương yêu ta nên đã gửi Con Một Ngài xuống chết cho ta. Tất cả chúng ta đích thực là con Ngài.

 

Trong thư gửi giáo đoàn Rôma, thánh Phaolô cũng viết:

 “Hơn nữa, có Thần Khí giúp cho ta là những kẻ yếu hèn, vì ta không biết cầu nguyện thế nào cho phải; nhưng chính Thần Khí cầu thay nguyện giúp cho ta, bằng tiếng rên khôn tả. Và Thiên Chúa thấu suốt tâm can, biết Thần Khí muốn nói gì, vì Thần Khí cầu thay nguyện giúp cho dân thánh, theo đúng ý Thiên Chúa.” (Rm 8: 26-27)

 

Có thể, nhiều lúc ta thấy khó lòng mà nguyện cầu, vì không biết phải ăn làm sao nói làm sao; hoặc, khô khan nguội lạnh. Chính đó là lúc ta đến với Thánh Thần xin Ngài can thiệp cầu bàu cho ta, để rồi Thiên Chúa là Cha biết rõ những gì đang xảy đến trong tâm can.

Bao giờ cũng thế, Thánh Thần Chúa là Tình Yêu giữa Cha và Con, và “Nhờ có thế, ta sẽ không thất vọng. Bởi, Thiên Chúa đã đổ tình yêu tràn đầy của Người cho ta, nhờ Thánh Thần mà Người ban cho chúng ta” (Rm 5: 5), chúng ta được kêu gọi trở nên thánh thiện , tràn đầy tình thương, nhưng nhiều lúc ta vẫn chỉ muốn làm mỗi bổn phận, như: đi lễ đều đặn ngày của Chúa, thôi. Vậy, cũng nên xin Chúa Thánh Thần như ta vẫn thường cầu, bằng lời kinh: “Cầu xin Chúa Thánh Thần, Người luôn thăm viếng hồn con, thêm sức cho con tình yêu chan chứa..” như thế, để cuộc sống tâm linh của ta sẽ phản ánh mối tình ta có đối với Chúa. Với đồng loại.

 Cuối cùng, tựa như Chúa Thánh Thần đã ngự đến với các thánh tông đồ vào ngày Lễ Ngũ Tuần và nhờ Ngài đã biến đổi ta trở thành các nhà truyền giảng hăng say, thiện chí cho Chúa Phục Sinh. Nhờ Ngài, ta có thể nguyện cầu Chúa Thánh Thần đổ đầy nơi ta, lòng hăng say sốt mến, quyết đưa dẫn mọi người về với Đức Kitô. Và như thế, ta có thể yêu cầu Ngài ban cho ta được đặc ân “nói tiếng lạ”, không phải bằng thứ ngôn ngữ ít ai hiểu biết, mà bằng phương cách nào khả dĩ đến với tâm hồn và thần linh của bạn bè. Chúng ta.”(Lm John Flader, The Catholic Weekly, 31/5/2009, tr.10)

 

            Đọc đến đây, hẳn bạn và tôi, ta cũng đã an tâm mãn nguyện phần nào về ngôn từ mà các người anh người chị hiện vẫn sử dụng, như “té/ngã”, “nói tiếng lạ”. Rất cảm thông. Cảm và thông, như nghệ sĩ ở trên, lại hát thêm một lần nữa:

                        “Nếu một mai khi hoà bình,

                        anh có trở về như em khát khao

                        cho lệ mắt em thôi đong đầy..”

 (Trần Thiện Thanh – bđd)

            Lệ mắt ấy, là những giọt đong đầy, nhiều u uất. Lệ mắt nay, sẽ là:

“Đêm hoả châu sáng nhớ thương trên tuyến đầu,

Nơi cuối trời em thắp vì sao…”                 

 (Trần Thiện Thanh – bđd)

 

            Đã đành là, tuyến đầu nơi ấy, có hoả châu. Cuối trời nay, đầy tràn những vì sao. Sao yêu thương. Sao nguyện cầu. Cho em thắp. Để anh yêu. Yêu và thắp lên những vì sao an vui như tình của Cha-Con. Rất Thánh Thần. Tình ấy, nay dẫy đầy, nơi mọi người. Cả người ở ngoài nhà Đạo, của chúng ta. Tình hiện rõ, như lời khẳng định bên dưới, để minh họa:

 

“-Nếu không có Tình Yêu, bổn phận khiến người ta dễ nóng giận.

-Nếu không có Tình Yêu, Trách nhiệm đẩy còn người đến chỗ bất nhã.

-Nếu không có Tình Yêu, Sự thật biến con người thành kẻ ưa soi mói.

-Nếu không có Tình Yêu, Sự khôn ngoan dẫn bạn tới chỗ láu cá.

-Nếu không có Tình Yêu, đon đả biến con người thành giả trá.

-Nếu không có Tình Yêu, Sự am hiểu đẩy bạn thành kẻ cố chấp.

-Nếu không có Tình Yêu, Quyền lực khiến ta trở thành kẻ áp bức.

-Nếu không có Tình Yêu, tiếng tăm làm ta trở thành người cao ngạo.

-Nếu không có Tình Yêu,Của cải làm bạn nên tham lam.

-Nếu không có Tình Yêu, Lòng tin biến ta thành kẻ cuồng tín.

-Nếu không có Tình Yêu,trên đời này bạn và tôi, mình cũng chẳng là gì cả!!!

 

            Nói cho đúng, nếu thay cụm từ “Tình Yêu”, bằng “Thánh Thần Chúa”, thì bạn và tôi, tất cả chúng mình sẽ hiểu thế nào là ơn “té/ngã”. Nói tiếng lạ. Trong đời. Với người người.

            Trần Ngọc Mười Hai

thôi không còn thắc mắc

những “té/ngã” và “nói tiếng lạ”

            Vì đã hiểu.

Và cảm thông.

 

27.“Đừng xa nhau! Đừng quên nhau!”

Đừng rẽ khúc tình nghèo
Đừng chia nhau nỗi vui niềm đau.

(Phạm Duy – Đừng xa nhau)

 

(Cv 9: 32-43)

Xưa nay, người người vẫn cứ bảo: “Đừng xa nhau!” Bảo rồi, lại nói: “Đừng quên nhau!” Thử hỏi, phải chăng đây là nhắn nhủ nhỏ to, từ người nhà? Nhà Đạo. Nhà thơ. Và, là căn dặn của các cụ nhà ta. Bảo ban. Khuyên bảo. Của ai đó. Có lời to nhỏ. Thắc mắc. Trên đường dài, con tàu cuộc đời. Còn nghe kể:

 

“Trên chuyến tàu nọ, có người phụ nữ đẹp. Có bà già và ba đàn ông. Tới đoạn hầm bến dưới đèo, bỗng nghe lào xào một tiếng "chụt!" rồi tiếng "bốp!", đến vang rền. Kế đến, một phản ứng, nhiều lúng túng.

Bà già nhà ta bèn nghĩ thầm:

-Bọn trẻ bây giờ thật quá quắt!".

Người nữ đẹp, lại nghĩ khác:

-Sao bã được người khác ôm hôn, còn mình thì không?".

Người đàn ông thứ nhất, lật đật nghĩ:

-Một lát nữa, đến đường hầm tới mình hôn tiếp, cũng dễ thôi!

Người thứ hai thì khác hẳn:

-Đứa nào mà còn hôn với hít nữa, ta sẽ tát cho gãy hết răng, cho mà xem!

Còn, người đàn ông thứ ba, thì quyết chí:

-Mẹ nó chứ! Tao mà biết là thằng nào tát trộm vào mặt tao thì tao sẽ đập nó một trận cho sặc gạch!"

 

            Có nghĩa là, cùng một âm thanh. Cùng một động tác. Một sự kiện. Nhưng, mỗi người lại nghĩ suy một khác. Khác nhiều lắm. Ghê lắm. Khác đến độ, mang theo những tình tiết, vẫn chưa biết. Nay, ta chỉ biết mỗi một điều, là: lời lẽ phát biểu ở trên, có lời kèm theo yêu thương. Da diết. Có lời, chỉ tỏ bày tình cảm khích bác. Lạc điệu. Lạc, cả âm hưởng thân thương, lẫn lời ca. Vậy, ta nghe tiếp:

 

                        “Đời phai mau, người ghen nhau,

                        lòng vẫn cứ ngọt ngào,

                        Miệng ru nhau những ân tình sâu.”

 (Phạm Duy – bđd)

 

            Ân tình sâu, mà nghệ sĩ già đã trải qua, là mối hỉ nộ ái ố đủ bẩy thứ tình, tựa như thứ tình và tự của nghệ sĩ nọ từng hồi hướng trở về với “quê trời” Hội thánh, “cụ sáu” Vũ Thành An. Nếu quả có khác, thì hẳn là dân con nhà Đạo của ta, sẽ có nhiều đề tài để sẻ chia. Nghe cũng thích. Đề tài để chia và sẻ, là tư tưởng nhè nhẹ. Hiền hoà. Vui tươi. Được ghi vội ở bên dưới:

 

“Tháng vừa rồi, ở Liên Hiệp Quốc người ta đưa ra một khảo sát nhỏ, nhằm phổ biến đến bà con dân thường, ở nhiều nơi. Phổ biến bằng những cú điện thoại gọn nhẹ chỉ làng nhàng hỏi đôi câu: 

Hỏi, là hỏi lẹ làng có mỗi câu như thế này:

 

“Xin quý vị vui lòng cho biết ý kiến trung thực về một giải pháp cho các trường hợp thiếu lương thực, với thế giới còn lại.”

Bản khảo sát gặp ngay thất bại cay đắng vì những lý do, như sau:

-Ở Đông Âu, người ta không hiểu được cụm “thành thực” mang ý nghĩa gì.

-Trong khi đó, ở Tây Âu người người chẳng bao giờ biết chữ “thiếu lương thực” có ý nói đến chuyện gì? Thiếu ra sao?

-Ở Châu Phi, dân thường ở đây không ai hiểu ý nghĩa cụm từ “thực phẩm”là gì.

-Trung Quốc thì khác, ở đây chẳng ma nào biết chuyện, làm sao “cho ý kiến”?

-Ở Trung Đông, người dân trong vùng chẳng ai hiểu “giải pháp” có nghĩa gì.

-Bên Nam Phi, cũng không ai dùng và chẳng biết câu “xin vui lòng” là gì.

-Ở Hoa kỳ, mọi người chẳng hiểu cụm từ