Chuyện Phiếm Đạo Đời 3

 

 

 

 

Cùng một người viết

 

 

Chuyện Phiếm Đạo Đời I – nxb An Phong Sydney 2008

Chuyện Phiếm Đạo Đời II – nxb An Phong Sydney 2009

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

L ờ i   b ạ t

 

Với Chuyện Phiếm Tập 3, Trần Ngọc Mười Hai tiếp tục phiếm về chuyện Đạo, chuyện Đời. Và Vũ Nhuận, một lần nữa, lại được mời viết đôi giòng giới thiệu, với những tâm tình chia sẻ mà hình như chưa nói nên lời.

Điều mà ai cũng có thể nhận ra ngay đó là Trần Ngọc Mười Hai – khi viết Chuyện Phiếm – không nhắm “làm văn chương”; và, vì tự bản chất, Phiếm không có tính cách nghiêm trọng. Do đó, những điều được Trần Ngọc Mười Hai nói đến, đều là những câu chuyện của đời thường, nói theo lối chuyện …. Phiếm. Nghĩa là, nói chơi cho vui, giữa những người bạn với nhau. Chúng ta có thể liên tưởng đến một số bạn bè tâm đầu ý hợp, ngồi tản mạn với tách trà, hoặc ly cà phê, để rồi có thể nói về vô số đề tài và những ý nghĩ quanh các đề tài đó, một cách thoải mái, không bị hạn chế hay ràng buộc.

Thế nhưng, điều táo bạo của Trần Ngọc Mười Hai – nếu gọi đó là điều táo bạo – đó là đã dám mang chuyện nhà Đạo ra để mà Phiếm. Chính vì thế, mà Chuyện Phiếm của Trần Ngọc Mười Hai không phải là chuyện trà dư tửu hậu, lan man qua ngày; thế nhưng, rõ ràng là có xắp xếp. Có bài bản. Có mục tiêu. Đó là cả một nghệ thuật. Thật không dễ. 

            Viết Phiếm là một loại hình nghệ thuật riêng biệt. Không ai giống ai. Thế nhưng, không có văn tài không thể viết được Chuyện Phiếm. Có văn tài không cũng chưa đủ. Muốn viết Phiếm phải có kiến thức rộng, đọc nhiều, nhớ nhiều. Có cái nhìn tinh tế. Có óc phê phán bén nhạy. Và nhất là phải có duyên nữa.

Về đề tài Chuyện Phiếm Đạo Đời của Trần Ngọc Mười Hai thường là những chuyện gần gũi trong cuộc sống, không rắc rối hay cao xa, và được tác giả đặt cho một cái tiêu đề thật hấp dẫn, dưới tên của một nhạc phẩm quen thuộc nào đó. Trong Chuyện Phiếm Đạo Đời  tập 3, có tổng cộng 44 truyện. Nào là: “Đồng Xanh Là Chốn Đây, Thiên Đàng Cỏ Cây”, với lời Việt của Lê Hựu Hà từ bài Greenfields được ban Tứ Ca The Brothers Four xuất sắc trình bày, để nói lên thế nào là Tin Mừng, Tin Vui …nội dung rất gần với Tin Mừng thánh Mác-cô, đoạn 16, câu 15. Hay, “Anh Khách Lạ Đi Lên Đi Xuống” rút từ nhạc phẩm “Còn Chút Gì Để Nhớ” của Phạm Duy. Người khách lạ của phố núi cao có khác gì những người khách lạ được đối xử tử tế trong sách Xuất Hành, đoạn 23 câu 9 hay không? hoặc “Cho Anh Xin Số Nhà” của Trần Thiện Thanh để nhắc về Hiến Chế Mục Vụ Humanae Vitae thời Đức Giáo Hoàng Phaolô Đê Lục, đề cập đến chuyện Ngừa Thai, Phá Thai, Đời Sống Gia Đình, vv.

Trong các Chuyện Phiếm Đạo Đời của Trần Ngọc Mười Hai nói chung, tài liệu chiếm một vị trí quan trọng. Chẳng thế mà khi nói đến bất cứ chuyện gì, tác giả cũng có tài liệu. Cũng “nói có sách mách có chứng”, hết. Độc giả sẽ rút được nhiều điều để học hỏi, từ những chứng từ đó. Chỉ cần để chút thì giờ ra đọc Chuyện Phiếm Đạo Đời của Trần Ngọc Mười Hai, thì sẽ rõ.

Về phần người đọc, khi đọc Chuyện Phiếm Đạo Đời của Trần Ngọc Mười Hai không chỉ để cho vui, mà thôi. Nhưng, người đọc bắt buộc phải suy nghĩ. Trí não phải làm việc, đôi khi cật lực. Đó chính là lý do làm cho Chuyện Phiếm của Trần Ngọc Mười Hai trở thành hấp dẫn và lôi cuốn. Đọc quên nghỉ.

Nghĩ cho cùng, Trần Ngọc Mười Hai viết tổng cộng đến 44 câu truyện trong Chuyện Phiếm Đạo Đời Tập 3 này – bề ngoài coi như một chuyện phiếm nhẹ nhàng- nhưng, để làm được điều này, không phải là dễ. Mỗi bài phiếm của Trần Ngọc Mười Hai là cả một công trình. Một đãi lọc. Từ chuẩn bị đến sắp xếp. Và cuối cùng đi đến việc thực hiện.

Tất cả những nỗ lực đó của tác giả Trần Ngọc Mười Hai, có lẽ cũng không ngoài ước vọng là được chia sẻ những gì đã được lãnh nhận, qua những năm tháng ngày dài trong chốn viện tu, cũng như trong thăng trầm cuộc sống làm chứng nhân giữa đời.

Âu đó cũng là một ơn gọi mà Trần Ngọc Mười Hai - hơn ai hết - muốn trung thành cho đến hơi thở cuối cùng. Là độc giả, chúng ta cũng có thể giúp Trần Ngọc Mười Hai đi trọn con đường đó. Một lần nữa, xin trân trọng giới thiệu đến quý độc giả xa gần Chuyện Phiếm Đạo Đời – Tập 3 của Trần Ngọc Mười Hai.

 

Vũ Nhuận

 

“Đồng xanh là chốn đây,

thiên đàng cỏ cây”

là nơi bầy thú hoang, đang vui đùa trong nắng say.

Đây, những bờ suối vắng, im phơi mình trên lùm cây.

Đây, những giòng nước mát, khẽ vươn tay về thung lũng,

Và những đôi nhân tình, đang thả hồn dưới mây chiều…”

(Lê Hựu Hà – Green Fields)

oOo

(Mc 16: 15)

            Là người sống bên lề hay ở ngoài -ngoài nhà Đạo- có thể là, bạn đã và đang nghêu ngao hát những lời ca đầy ý nhị, vui như thế. Riêng bần đạo, từ hồi còn khoác áo chùng thâm, bản thân vẫn thích cùng với ban tứ ca The Brothers Four cầm đờn ghi-ta ngâm nga dạo ba câu hát. Những câu hát, có ý và lời na ná như một giòng chảy mà thánh sử Mác-cô từng ghi chú nơi lời Kinh Thư, hôm trước.

Là thánh sử hay nghệ sĩ nay-đã-ra-người-thiên-cổ, đều có lời vui Tin Mừng, như bên dưới:

 

“Ta yêu đồng xanh

như đã yêu thương con người”.

(Lê Hựu Hà – bđd)

 

Lời ca là như thế, khác gì lời vàng, vẫn nghe quen như câu nói mà thánh sử từng ghi lại:

 

“Anh em hãy đi

khắp tứ phương thiên hạ,

loan báo Tin Mừng

cho mọi loài thọ tạo.”

(Mc 16: 15)

 

Tứ phương – thiên đường, chốn thánh của mọi người. Của, đôi nhân tình thả hồn dưới mây chiều. Của thú hoang, vui đùa trong nắng say. Hay, của giòng nước mát khẽ vươn về thung lũng. Rất Tin Mừng. Bừng bừng khí thế. Nhiệt náo. Phấn khởi. Đê mê.  

            Mừng vui khí thế, xưa nay vẫn dàn trải qua muôn thế hệ. Ở phương Tây. Cả ở bên ta. Chốn trời Nam cũng như mạn Bắc, những đồng xanh chốn thiên đường. Thiên đường hôm nay, đâu là chín tầng trời mây cao, trên chốn ấy. Cũng chẳng là, dinh thự nguy nga điện Cẩm Linh, vùng Mecca, dãy Sông Hằng hay Đền Thánh Cả ở La mã. Cả với Constantin.

            Đồng xanh kia, nay là chốn mừng vui khí thế tưng bừng của Hội thánh. Có Thánh Thần Chúa rợp bóng uy linh đổ xuống trên đầu, người già lẫn đám trẻ, ngày Lễ Hội. Hội lễ chân tình tập họp người con thân thương, từ chốn đồng xanh cỏ mát bốn phương trời, tề tựu về bên Hội thánh Chúa.

            Reo vui Tin Mừng, Hội thánh nay hội tụ những người con không còn là “đôi nhân tình thả hồn dưới mây chiều”, mà “những người lầm than vất vưởng”, Thầy chạnh lòng, thấy mà thương (Mt 9: 36). Thiên đường cỏ cây hôm nay, là những người tất bạt, chưa từng nghe biết Chúa. Là thọ tạo, khắp bốn phương thiên hạ, chốn “Đồng xanh” ấy. Những người “vẫn đứng chờ, giữa cánh đồng.” Chờ và mong, những người như ta, đem niềm vui Tin Mừng, đến “cho mọi loài thọ tạo”.                     

            Và, vấn đề mạn phiếm hôm nay, là để hỏi: những gì đã và đang làm nên tình An Vui, rất Tin Mừng?

            Thật ra thì, ảnh hình thơ nhạc trên đây, chưa hẳn là An Vui Tin Mừng, rất đích thực. An Vui Tin Mừng, là làm được những việc cần làm. Tức, đưa dẫn mọi người ra đi, để họ có thể đến mà sống cùng và sống với nhau, hầu phù hợp với điều mình vẫn nghe biết.

            Ở Phúc Âm, Đức Kitô là Đấng đem An Vui Tin Mừng, đến trước nhất. Tin Mừng Ngài đem đến, đã sờ chạm thật sự vào cuộc sống, của mọi người. Với kẻ đói, Ngài truyền mang bánh đến cho họ ăn. Những người quặt quẹo - đui mù và điếc nặng, nhiều miên trường khổ ải, Ngài chữa lành cho tất cả. Là kẻ bất ưng với công việc mình làm. Là người thu-thuế hoặc nông dân - thuyền chài, chẳng hơn ai. Ngài vẫn cứ gọi mời: hãy đi mà khám phá ra chân trời mới. Lớn hơn nhiều. Hoặc, là người bị bỏ bê ghét bỏ, đám đĩ điếm dân đen, cặn bã xã hội. Ngài vẫn mở rộng vòng tay ôm, đón họ về với cộng đoàn đầy thương mến.  

            Tin Mừng hôm nay, là tin được quảng bá sâu rộng, đến với mọi người đang có nhu cầu, rất khẩn thiết. Trước hết và triệt để hơn hết, là những người đang cần thực phẩm. Cần chỗ ở. Cần cuộc sống an ninh/an toàn, khắp mọi nơi. Tin Mừng bây giờ, phải là thông tin khả dĩ tiếp cận nhu cầu của những người đang kiếm tìm hạnh phúc. Hạnh phúc trong nhận thức. Hạnh phúc trong bổ sung cho khả năng riêng tư trí tuệ, hầu triển khai nhân cách. Trải rộng quà tặng ân sủng, đến với người. Tin Mừng hôm nay và mãi mãi về sau, là lời gọi mời của Đức Chúa, được gửi đến bạn bè/người thân. Cả với những người mà ta chưa từng quen biết.

            Với giới trẻ, là những người đang hăng say hoạt động nơi nhóm hội/cộng đoàn. Những bạn đang cưu mang giùm giúp các người có nhu cầu. Đang ơi ới vẫy gọi. Với cộng đoàn Hội thánh, rao báo Tin Mừng hôm nay, không còn là cung cách của các bậc ở trên, đấng bậc chỉ biết có phán và có bảo. Phán. Mà, như người trẻ hăng say lao mình vào với thế giới của những người túng cực. Thế giới của những người có nhu cầu thiết thực, không thể thiếu. Những người, chỉ sống ngày qua ngày, chẳng biết gì tình hình ngày mai, ra sao. Những kẻ sống vô gia cư, chết vô địa táng. Những kẻ bị người đời dè bỉu, khinh chê.

            Rao báo Tin Mừng cho thế giới cùng cực, có thể cũng chẳng cần phải đưa ra những lời hoa mỹ, rất hứa hẹn. Mà, chỉ cần mách giúp những mẹo vặt. Hoặc, phương cách kiếm tìm công ăn việc làm, đủ nuôi thân. Rao báo Tin Mừng, còn có thể, là chỉ vẽ cho đàn em nhỏ biết cách làm 4 phép tính cộng trừ nhân chia, để mà sống. Sống với người. Với mình.

            Rao báo Tin Mừng, còn là ra đi về với xóm làng tận vùng sâu. Vùng xa. Ở những vùng, mà người dân đen chưa từng biết đến chữ nghĩa. Cả với âm thanh. Và, rao báo Tin Mừng, là ngồi đó mà lắng nghe người già, và kẻ tật nguyền run lật bật, kể cho nhau có mỗi chuyện nghe hoài đến chán.

            Nói cho cùng, rao báo Tin Mừng là thông truyền quảng bá nỗi niềm phấn khởi khi có người chịu bỏ công sức, thì giờ ra mà quan tâm chăm sóc kẻ yếu đuối tật nguyền; hoặc, mở rộng vòng tay ôm đón người lầm lỡ, cô đơn. Tuyệt vọng. Những người bị cộng đoàn tẩy chay. Loại bỏ. Xa lánh.

Và, rao báo Tin Mừng sẻ san Lời Chúa, là chia sớt với Ngài mối bận tâm giùm giúp, thông cảm người đang cần người khác để mắt nhìn đến. Có thể, ấy đó là người già nua, kẻ tật bệnh. Có thể, cũng chỉ là người khác tính khí. Khác chính kiến lập trường. Có thể, cũng chỉ là người khác biệt cuộc sống thực tế, diễn ra mỗi ngày.

Cuộc sống ấy, cả thi sĩ lẫn người đặt nhạc, vẫn diễn tả ở câu thơ:

 

     “Đồng xanh giờ vắng tênh, dưới trời lãng quên,

      còn đâu bầy thú hoang, đang vui đùa trong nắng êm.

      Đâu những bờ suối vắng, im phơi mình bên lùm cây

      Đâu những giòng nước mát,khẽ vươn tay về thung lũng

      Và những đôi nhân tình xưa, đã lìa cách xa rồi.”

      (Lê Hựu Hà - bđd)

                         

Và, nay có tiếng hỏi: các đôi nhân tình xưa kia, nay có được sẻ san Tin Mừng Lời Chúa ở đâu đây? Ở đâu đây, là ở trong hoặc ở bên ngoài nhà Đạo? Các đôi nhân tình ngày hôm nay có còn nghe lại khúc ân tình người nghệ sĩ, xưa vẫn hát? Hát nhẹ nhàng. Và, ca lên như một nhắn nhủ, bảng lảng bóng chiều hôm:

 

  “Ta thương đôi tình nhân kia, như gió thương yêu mây trời

   nhưng sao giờ đây, chẳng thấy ai chung quanh ta

   đất trời như bãi tha ma trên đồng hoang cỏ cháy…

   Và, đã bao năm trời Ta đứng chờ Giữa cánh đồng.”

   (Lê Hựu Hà – bđd)

 

Tin Mừng được rao báo cho người ở ngoài Đạo nay lại là những vần thơ rất riêng tây. Đầy ắp cả một hồn thơ. Và, một rừng âm thanh, những là nhạc. Tin Mừng đem đến cho người đạo hạnh ở tận trong, vẫn an vui hài hòa, như một lời kể, ở bên dưới:

 

“Chúng tôi chung sống với nhau suốt 21 năm trời, chưa thấy xảy ra chuyện gì khiến cả hai chúng tôi phải hối hận. Mới đây, tôi gặp một chuyện đến là hồi hộp. Hồi hộp là bởi, cách đây không lâu, tôi bắt đầu đi ra ngoài dạo chơi với một người nữ phụ khác.Mà, người ngỏ lời lại chính là vợ tôi. Đến giờ này, tôi vẫn còn nhớ lại cái giọng ngọt ngào, nhưng hơi khác thường của người bạn đời, mà tôi vẫn còn chung sống suốt 21 năm. Vợ tôi lựa đúng lúc, vời tôi vào phòng rồi nói:

-Em biết là anh vẫn còn nhiều tình cảm với bà ấy. Em nghĩ, vợ chồng mình tuy vẫn còn thương nhau. Nhưng…

Hồi hộp quá, đến độ chẳng thốt nên lời phản đối, tôi chỉ ấp úng được vài câu, rất biện hộ:

-Em thừa biết, lâu nay anh vẫn một lòng…

Vợ tôi không để tôi nói tiếp, bèn bồi thêm:

-Vẫn biết thế. Nhưng anh đâu bớt thương bà…

Cuối cùng, thì trắng đen đã rõ. Người, mà vợ tôi ám chỉ tôi phải minh bạch chọn lựa, chính là mẹ của tôi.

Vâng. Mẹ tôi ở góa cũng đã 19 năm qua.Khổ nỗi, tôi cứ mải bận hết chuyện này đến việc khác. Chẳng bao giờ có thể sắp xếp được giờ rảnh rỗi về thăm hoặc mời bà đi đâu. Vì thế, tôi quyết định gọi điện mời mẹ tôi ra ngoài ăn hiệu và xem phim, vào buổi tối. Cũng như mọi phụ nữ, mẹ tôi rất ngại nhấc điện thoại vào buổi tối. Bà sợ phải nghe tin dữ đến muộn vào ban đêm. Nên, thoạt nghe thấy lời mời, bà rất đỗi ngỡ ngàng, cử hỏi đi rồi hỏi lại:

-Có thiệt không đó con? Chỉ mỗi hai bọn mình thôi sao? Chà, lâu ngày, hỉ?..

Và, ngày “N” đã đến. Sau khi tan sở, tôi ghé nhà đón mẹ đi ăn. Tôi chợt nhận thấy bà cũng hồi hộp không kém. Cụ bới tóc lên, trông gọn gàng và nét đẹp cao sang vẫn còn đó như hồi nào. Thấy tôi, bà nhoẻn một nụ cười rất tình tứ, và lịch sự nói:

-Mẹ khoe với mấy bà bạn già là hôm nay mẹ đi chơi tối với ông con trai cưng. Chỉ mình nó thôi chứ không có “cái đuôi” đi kèm. Mấy bà bảo: thế là nhất bà đấy, cụ ơi! Chả ai sánh bì được đâu!

Thế là chúng tôi đi. Tôi đưa tay đỡ mẹ như đỡ một đệ nhất phu nhân, vào buổi tiệc. Quả là, tối nay mẹ tôi đẹp hơn một bà hoàng. Bà xứng đáng như thế. Tôi đưa bà đến một nhà hàng không nổi tiếng lắm, nhưng lịch sự và thơ mộng. Ngước mắt nhìn quan sát, tôi thấy bà vừa ngồi  xuống đã nhoẻn nụ cười hồn nhiên, bảo:

-Trước đây, mẹ chuyên trị việc xem thực đơn và gọi món cho mọi người ăn.

-Thế bây giờ, mẹ cứ ngồi thoải mái, việc ấy để con.

Hai mẹ con vui vẻ hả hê, vừa ăn vừa trò chuyện quên cả thời gian trôi qua, rất nhanh. Muộn rồi, hai mẹ con tôi không kịp xem phim, nhưng đi một vòng phố rồi về nhà. Khi tiễn mẹ vào nhà, bà nói:

-Mẹ thích những buổi đi ăn như thế này lắm. Lần tới, con phải để mẹ mời con mới được.

Tôi đồng ý để mẹ vui. Từ giã mẹ già, tôi vội phóng như bay chạy về chưa kịp khoe với vợ nhà, thì vợ tôi đã hỏi:

-Thế nào? Buổi hẹn hò có đẹp lắm không?

Tuyệt! Tuyệt đẹp như một bài thơ, chưa có phần kết…

Vài bữa sau, tôi được tin mẹ tôi vội vã ra đi, sau cơn trụy tim, không hẹn trước. Tin vui đến chậm. Tin buồn quá mau. Tôi chưa kịp làm được gì thêm cho mẹ, thì mẹ tôi đã ra đi. Ít hôm sau, nhà tôi nhận được một phong thư, bên trong có kẹp một biên lai trả tiền trước cho bữa tiệc ở cũng một nhà hàng mà hai mẹ con tôi từng đến. Trên biên lai thấy ghi hàng chữ “Mẹ đã trả tiền trước cho bữa ăn mẹ đặt sẵn. Nhưng mẹ nghĩ là mẹ sẽ không thể có mặt vào bữa ấy được. Nên mẹ trả tiền cho hai phần ăn: một cho con và một cho vợ con. Con biết đấy. Tối hôm đi ăn với con, mẹ thấy chưa có buổi nào tuyệt vời như thế cả, trong đời mẹ. Mẹ thương con nhiều.”

Đọc hàng chữ thân thương của mẹ, tôi mới hiểu trọn vẹn thế nào là Tình Mẹ thương con. Câu nói đến với tôi, thật đúng lúc. Cũng từ hôm ấy, tôi nhận ra rằng: không gì quý bằng khi mình tặng cho nhau hạnh phúc vào đúng lúc, đúng vào thời điểm mà người ấy cần.

 

            Đoạn kết của truyện kể, có thể dùng làm câu khẳng định về Tin Mừng, ta cần rao. Tin Mừng là như thế. Chẳng cần rao giảng đâu xa. Ngay với người nhà. Người mà mình gần gũi nhất. Đó chính là thông điệp “Đồng xanh là chốn đây”, hôm nay Chúa gửi đến cho ta. Một Tin Mừng. Tin rất vui. Và rất mừng.

 

Trần Ngọc Mười Hai          

Vẫn nhận được những thông điệp

vui như thế.                                      

Rất là Tin mừng.           

Để mà rao báo.

 

 

     

                       

 

 

 

“Đời mình trong năm tháng sẽ qua, lo gì sau này!”

ngồi đây, ta cùng hát khúc tình ca,

và sẽ trao nhau tình yêu

tiếc nhau chi cho nhau phút này, nhớ nhau muôn đời.”

(Trường Kỳ - Sealed with a kiss)

(Mt 5: 7)

            Trong hành trình cuộc sống, bần đạo xin được phiếm với bầu bạn, về những tư tưởng vừa bắt chụp, rất sâu sắc. Ngắn gọn. Của vị cha già nhà Đạo có lập trường rất Đạo, và có đức. Có ý thức. Trách nhiệm. Cũng rất vui. Vui như ý tưởng chủ lực về cây thập tự cha già vẫn đeo nơi ngực, có hình Chúa Phục Sinh. Thay cho hình Chúa tử nạn. Cha già Hồng y Godfried Daneels - người Bỉ, có tiếng là cấp tiến, đã trả lời các câu hỏi của phóng viên Robert Mickens, như sau:

 

“Ảnh tượng trên thập tự nhỏ tôi đeo nơi ngực, là ảnh tượng Chúa Phục Sinh, chứ không phải là Chúa chết thảm. Thập tự, trị giá chỉ đáng nửa Euro tôi mua được ở Rôma, vào bữa trước. Nhưng không vì giá rẻ mạt, mà ảnh và tượng mất đi ý nghĩa cao cả của thập tự. Tôi rất thích thập tự này, vì nó diễn tả được ý nghĩa Chúa sống lại, ngay thập tự. Đây, là tư tưởng mang sắc mầu thánh sử, mà thánh Gioan ghi chú.

Nếu anh nhìn cây thập giá có Chúa chịu đóng đinh, thì điều này cũng đúng. Nhưng, nếu anh nhìn vào toàn cảnh chúng ta vẫn có trước ngày Chúa sống lại, anh sẽ thấy là chúng ta đang sống vào thời buổi đến sau ngày Chúa Phục Hồi Sinh Lực… Và, chúng ta vẫn sống như thế, đã từ lâu.” (Robert Mickens – Where have all the thinkers gone? The Tablet 31/5/2008)

 

            Còn nhớ, nơi xứ họ nhỏ bần đạo sống, có vị linh mục chánh xứ buổi trước, tuổi đời còn khá trẻ, thụ phong linh mục làm cha chính cũng được có 7 niên. Nhưng ông đã can đảm thay ảnh tượng bằng đất, Chúa gục đầu trên thập tự, bằng ảnh tượng Chúa ngẩng đầu, rất Phục Sinh. Hai tay Chúa giang rộng, như muốn ôm choàng vào lòng Ngài, đàn con ngoan thấp bé, đang thầm lặng nguyện cầu. Nguyện cầu, nơi giáo đường im ắng ấy. Và vị linh mục trẻ, sau những thay và những đổi như thế, đã thu hút rất nhiều giáo dân người Tây đã lỡ trớn cuồng chân vội đi hoang. Nay hồi hướng trở về.

            Tản mạn đầy chất phiếm về thập giá có Chúa Phục Sinh, bần đạo lại liên tưởng đến bài ca đầy ắp những tình tự thân thương trích dẫn ở trên, với những giòng chảy lãng mạn đại loại như sau:

 

            “Còn mấy lúc như ngày hôm nay?

            Đời hết nghĩa nếu không tình yêu

            Rồi sẽ đến lúc ta cùng chia tay…

            Yêu nhau đi, không buồn không tiếc!

            Nếu có đến, khi ta rồi xa… tim còn mơ màng… “

(Trường Kỳ - bđd)

 

            Tim mơ màng. Mơ về tình yêu, là điều Chúa vẫn nhắn và vẫn nhủ:             

 

Phúc thay, cho ai có lòng thương người,

vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương.”

(Mt 5: 7)

 

            Và, Phê-rô thánh-nhân, vị tông đồ rất gần với Chúa, cũng thêm rằng:

 

            Trước hết, anh em hãy hết tình

mà yêu thương nhau,

vì lòng yêu thương

che phủ muôn vàn tội lỗi.”

            (1P 4: 8)

 

            Là thánh nhân. Hay chỉ là con dân với “muôn vàn lỗi phạm”, ắt hẳn vẫn thấy có nhiều điều hiện rất rõ ở muôn người, là: “tình yêu che phủ cuộc sống”, khắp nơi nơi. Che bây giờ. Phủ mãi về sau. Khi gần nhau. Hay khi “sống mãi trong tình”, như người nghệ sĩ viết lời cho nhạc bản, của Brian Hyland: 

 

            Tình yêu, ta còn mãi về sau,

            còn nhớ khi ta gần nhau,

            đã trao nhau, bao niềm yêu mến…

            mình sống mãi trong tình yêu…

            … mình sống mãi trong tình yêu…”

(Trường Kỳ - bđd) 

 

            Sống mãi trong tình yêu. Dù tình đó, chỉ diễn ra với hai người. Rất đơn lẻ. Hoặc, tình này vẫn trải dài khắp nơi nơi. Vẫn là thứ tình mà Chúa nói đến, trong đời rao giảng suốt nhiều năm. Từng cây số. Nơi ngõ nhỏ. Ở đất miền vùng xa, xứ Do thái. Độ trước. Hay, chốn nhân trần ta sống ở nơi đây. Nơi, có cha già Hồng Y Godfried Daneels đang chuyển tải cho thế hệ mai ngày. Cho xứ đạo nhỏ chốn ắng im. Mọi miền. Nơi, có lời thổ lộ chân tình, về Hội thánh thời hậu Công Đồng Vatican, thứ Hai:

 

“Phải thú thật rằng: với tôi, Công Đồng Vatican Hai là tất cả trọng tâm cuộc đời, tôi quyết sống. Trọn cuộc đời, tôi vẫn cố áp dụng những gì Công Đồng đặt ra, nhất là: nền phụng vụ. Là giáo lý. Và, tương quan Hội thánh, ở thế trần…”

 

            Hơn 31 năm làm giám mục, cha già Hồng y Daneels đã tìm cách khích lệ các linh mục cũng như dân con nhà Đạo dưới trướng, rằng: “anh em hãy cố mà học hỏi về Công Đồng chung. Hãy cùng nhau hợp tác mà làm việc trong chung sức. Bởi, hợp tác với các tầng lớp giáo dân vẫn luôn là điều cần thiết. Nhất thứ, ở vào thời đại mà số giáo sĩ của ta cứ ngày một giảm sút, suy sụp”

            Tuy nhiên, theo cha già, điều gây khiếp sợ đến với Hội thánh, không nằm ở sự kiện có sút giảm hay không, trong hàng ngũ tu sĩ/linh mục. Nhưng cho bằng, hiện nay không có nhiều khuôn mặt rực rỡ - thông thái, trong Giáo triều. Giáo triều mà cha già nói đến, là các “thượng hội đồng giám mục” mà ngài có cơ hội tham dự, suốt từ thập niên 80 đến nay. Năm 2008. Về chuyện này, ngài nói thêm:

 

“Khi tôi đưa mắt nhìn về các thượng hội đồng giám mục có mặt ở nhiều buổi, tôi thấy rất nhiều vị chủ chăn tốt lành có tâm hồn mục vụ, thật đấy. Các ngài rất mực là mục tử nhân hiền. Nhưng đôi lúc, tôi chợt nghĩ: sẽ còn tốt lành hơn biết mấy. Nếu như chỉ cần có đến 5% thôi, trong số các giám mục ấy, là các nhà tư tưởng. Các nhà thông thái. Đầy lòng nhiệt huyết! Điều mà chúng ta cần, là trong số các giám mục và hồng y hiện hữu trong Giáo hội của ta, phải có nhiều khuôn mặt thật sự thông minh, đầy tri thức. Rất cần thiết!”(R. Mickens, bđd)

 

 

            Đề cập đến vấn đề hôn nhân - gia đình, cha già Hồng y Daneels cũng có nói: “Hội thánh, với tư cách một thể chế, và bản thân tôi, chưa làm được gì nhiều cho các gia đình...” Và khi nhà báo R. Mickens gạn hỏi rằng: trên thực tế, có điều gì khiến cho cha nghĩ là mình có thể làm được nhiều hơn không? Thì, cha già đáp ngay không do dự: lẽ đáng ra, chúng ta đã phải làm nhiều điều tích cực hơn, để khuyến khích và hỗ trợ các gia đình đang sống đàng hoàng, vững ổn. Hơn là, ta chỉ chú trọng đến các gia đình đổ vỡ. Ngài nói: “Các gia đình tốt lành thường có cảm giác như mình đang là những đứa con mồ côi, đơn chiếc. Đôi lúc, Hội thánh chúng ta đã quên rằng mình là một người mẹ, rất hiền.”

            Và cuối cùng, cha già còn bàn thêm với nhà báo Robert Mickens: về lối sống khiêm nhu, tức: điều mà ngài muốn gửi gắm để lại cho hậu thế, sau khi cha già tạ thế. Trong các lần được phỏng vấn, cha già luôn nhắc lại câu nói của thánh Phanxicô Assisi, rằng: ta nên sử dụng như phương châm để vui sống suốt đời, là: “Đừng bao giờ nên để bất cứ ai đến với mình, lại cảm thấy nản lòng mà bỏ đi trong sầu buồn”.       

            Trở về với nền thi ca, âm nhạc ngoài đời, chừng như câu nói của thánh nhân cũng tương tự lời ca năm xưa của người nghệ sĩ, ghi ở nhạc bản nêu trên:

 

             “Ngồi bên nhau cất tiếng ca… say tình chan hoà

            ngàn mây xanh cùng sống ngút ngàn xa,

            đời thắm tươi như ngàn hoa                          

nắng say say như vang tiếng cười… thiết tha yêu đời.” (Trường kỳ - bđd)

 

            Thiết tha yêu đời. Hay, say tình chan hoà. Phải chăng là lời lẽ của người nhà Đạo, ta vẫn sống trong đời. Vẫn luôn nói. Bởi, có thiết tha yêu đời, mới thấy là đời mình vẫn tươi thắm như ngàn hoa. Như mây xanh. Mây vui cuộc đời. Vào mọi lúc. Chí ít, là những buổi, những lúc người người có được cảm nghiệm, như giòng chảy về “cử chỉ đẹp”, trong đời gia đình riêng tây hoặc rộng lớn chốn thị thành, mà người linh mục rất anh em của bần đạo ghi nhận, ở dưới:

 

“Bà Foreman dừng chiếc xe hơi của mình ngay ở một trạm thu phí giao thông trên xa lộ cao tốc. Liếc mắt qua kính chiếu hậu, bà thấy cả một dãy dài xe hơi, sau mình. Bà chợt nảy ra một ý định vui vui: quay kính xe xuống, đưa cho người bán vé một tờ 5 đô và bảo: “Bác ơi, tôi mua 5 vé nữa cho 5 chiếc xe sau tôi, chỗ tiền dư tôi xin biếu hết cho bác, nhé!”

Không kịp để cho người bán vé thắc mắc vì quá sức ngạc nhiên, Bà Foreman quay kính xe, đạp ga, lái đi ngay. Bà hình dung trong đầu cùng một ngạc nhiên đầy thích thú ấy nơi 5 người tài xế chạy theo sau, mà bà không hề quen biết. Bà không cần đến lời cám ơn. Cũng chỉ là “một cử chỉ đẹp” nho nhỏ, mà thôi. Có đáng gì đâu!

Về đến nhà, bà Foreman vừa làm bếp, vừa tủm tỉm cười một mình vì nhớ lại chuyện sáng nay, xảy ra trên đường. Ông chồng già để ý thấy, lấy làm lạ. Đến bữa ăn trưa, ông lựa lời hỏi; bà mới kể lại đầu đuôi. Đến lượt mình, ông cũng cảm thấy vui lây niềm vui nho nhỏ ấy…

Chiều đến, vào trường dạy môn Giáo dục Công dân, ông Foreman quyết định làm một “cử chỉ đẹp” bằng cách dùng chính câu chuyện về “cử chỉ đẹp” của vợ để dẫn nhập cho bài học. Học sinh của ông, bỗng lặng đi một thoáng chốc, rồi đồng loạt vỗ tay hoan hô, sau lời kết thúc của ông thầy.: “Các em hãy nhớ là niềm vui sống khởi đi từ những chuyện bình thường nho nhỏ như thế. Mỗi ngày, ước gì mỗi người trong chúng ta đều làm được ít nhất một ‘cử chỉ đẹp’ tương tự.”

Ở trong lớp, hôm ấy, có cô bé tên Mary vốn là học sinh “cá biệt”, luôn bướng bỉnh, lì lợm. Hệt như “con chim lười” trong gia đình. Về nhà, hôm nay cô lại có tâm trạng hết sức hân hoan phấn khởi, nhất quyết làm một “cử chỉ đẹp”, với mẹ cha. Cô lặng lẽ thu dọn, lau chùi , quét tước, nấu nướng và giặt giũ xong xuôi mọi việc trước khi người mẹ từ xưởng làm và người cha từ toà báo, trở về nhà.Vào chập tối, hai ông bà bước vào nhà, nhận ra ngay là hôm nay đã có sự gì đổi thay kỳ lạ nơi cô con gái đang tuổi “nổi chướng”. Gạn hỏi mãi, cô mới kể lại câu chuyện về “cử chỉ đẹp” mà cô được nghe thầy Foreman kể lại trong lớp. Cô hứa với ba mẹ, là từ hôm nay, tất cả mọi chuyện cô làm ở nhà sẽ không là “cử chỉ đẹp” duy nhất, chỉ một lần rồi thôi, đâu.

Sau cơm tối, niềm an vui đầm ấm toả khắp căn nhà. Và, ông Alfonse, cha của Mary, vốn là phóng viên báo chí ở địa phương, nơi gia đình cô sinh sống, rất khoan khoái ngồi vào bàn làm việc, mặt mày hớn hở. Ông quyết định phải viết ngay một bài, về câu chuyện “cử chỉ đẹp”… Chiều hôm sau, cả miền đều xôn xao rộn rã, khi mọi người đọc được bài báo ấy. Người ta bảo nhau, ít nhất mỗi ngày, hãy nhớ làm một “cử chỉ đẹp” nho nhỏ, cho nhau. Cho cuộc đời.

Cha xứ họ đạo, cũng đã đưa câu chuyện này vào bài giảng thánh lễ Chúa nhật hôm đó. Có diễn giả cũng đã chọn câu chuyện “cử chỉ đẹp” làm chủ đề, cho buổi mạn đàm ở hội trường, của thị trấn. Một bà mẹ kể lại cho con nhỏ của mình nghe về “cử chỉ đẹp”, thay cho lời ru nhẹ, vào buổi tối. Có đôi bạn trẻ đang yêu, cũng thoả thuận từ nay sẽ dành cho nhau nhiều “cử chỉ đẹp” thay cho mấy trò giận hờn, vô bổ. Ngoài đường phố, người ta đã thôi không còn vứt rác rưởi và bã kẹo cao su, bừa bãi nơi công lộ, nữa.

Các tài xế, nay cũng đã quyết tâm không làm bắn nước tung toé lên người khách bộ hành, đi cạnh bên. Một chú “Sói Con”, bước khỏi nhà, thắt chiếc nút nhỏ ở chéo đuôi khăn quàng trên ngực, cũng tự nhủ sẽ làm một “cử chỉ đẹp” trên đường đến công viện họp bạn Hướng Đạo. Ở nhà giam, viên cai ngục bẳn tính kia, cũng quyết định sẽ có nhiều “cử chỉ đẹp” với tù nhân. Người đi chợ, mua hàng ở siêu thị cũng quyết định sẽ nói lời lịch sự, biết cám ơn. Còn cô thâu ngân viên, thường hay cau có, nay đã biết mỉm nụ cười khả ái, với khách hàng. Cầu thủ bóng đá lừng danh chơi xấu, giờ đây đã nhất quyết trong trận đấu cuối tuần, sẽ chạy đến đỡ đần cầu thủ bạn bị té ngã, biết xin lỗi…(Lm Tiến Lộc CssR, ghi nhanh từ một họp bạn, Hướng Đạo)

 

            Vâng, “cử chỉ đẹp” nào tuy nhỏ, cũng đã đổi thay cả xã hội. Cả gia đình rộng lớn, khắp nơi. Trao cho nhau “cử chỉ đẹp”, dù không lớn, là trao tình cộng đoàn. Của gia đình đàng hoàng. Trao cho nhau “cử chỉ đẹp”, là: “Hãy trao cho nhau tình yêu… để nhớ nhau muôn đời.”

            Trao cho nhau tình yêu, không cần phải là chuyện to tát. Cũng chẳng cần lời lẽ “nổ ròn”, nhiều phô trương. Hoành tráng. Chỉ cần, một cử chỉ nho nhỏ, nhưng rất đẹp. Đẹp như cử chỉ của lão bà Foreman, ở khắp nơi. Đẹp như, lời nhắn nhủ từ người nghệ sĩ, vẫn từng hát:

 

            “Đời thắm tươi như ngàn hoa

Nắng say say như vang tiếng cười...

thiết tha yêu đời.” (Trường Kỳ- bđd)

 

            Vâng. Bấy nhiêu thôi, cũng đủ. Cho cuộc đời. Của mọi người.

           

            Trần Ngọc Mười Hai

            Vẫn muốn kêu mời bạn bè

            trao cho nhau một cử chỉ      

            rất nhè nhẹ tâm tình,

            Như tình yêu.

            Trong đời.

 

 

                       

                                   

                                                     

             

 

“Vì tôi là linh mục”

Không mặc chiếc áo dòng

Nên suốt đời hiu quạnh

Nên suốt đời lang thang...”

 

(Ga 3: 30)

            Bài nhạc của Nguyễn Đức Quang trích lại ở trên, bần đạo có dịp nghe từ hồi còn đi học. Thập niên ’60, thì phải! Chừng như lúc ấy, nghệ sĩ du ca Nguyễn Đức Quang thoạt vừa quen biết người anh cựu linh mục, sinh hoạt đều trong phong trào Thanh Niên Thiện Chí/Sinh Viên Nguồn Sống ở Đà lạt, cố Gs Nguyễn Ngọc Lan.

Bần đạo chẳng còn nhớ, có phải vì thấy vị “cựu linh mục” tuy không mặc áo dòng, nhưng rất cởi mở lại dễ dàng làm thân, nên đã có cảm hứng đặt nhạc? Thật hư, cũng không biết. Chỉ biết một điều là, lời lẽ thanh âm bản nhạc đã đi vào lòng người trẻ tuổi ở miền cao khi đó, khiến nhiều bạn cứ ngâm nga đàn hát, không dứt.

Và, cũng thập niên năm ấy, thấy xuất hiện một tác phẩm khác, tập truyện ngắn có tựa đề “Tóc Mây” của Lệ Hằng, đã một thời thu hút người đọc, lại cũng liên quan đến linh mục, thật không ít. Thế mới biết, linh mục bỗng nhiên trở thành đề tài bàn luận của khá nhiều người/nhiều vị, trong dân gian.

Trước khi đi xa hơn nữa, xin hầu bạn bè bằng một câu chuyện cười nhà Đạo như sau: 

 

“Có cô bé theo mẹ đi nhà thờ, thấy ông cha giảng đạo dài giòng chán ngấy, thấy mệt. Cuối cùng, thì chán quá, cô chịu hết nổi bén níu áo mẹ, hỏi: Mẹ à, nếu chúng ta đưa tiền cho ông cha ngay bây giờ, thì cha có để cho mẹ con mình về không?”

        

 Hôm nay, hơn 40 năm nhìn lại, bần đạo thấy có điều gì đó liên quan đến chức vị linh mục, trong Đạo/ngoài đời. Nói liên quan, không theo nghĩa thần học hay giáo luật - đạo đức, nhưng là phản ánh vai trò khá ư cần thiết, với xã hội. Với nhà Đạo.

Bởi, do có sự nổi tiếng/thu hút từ chức vị “linh mục” như thế ấy, mà nhiều đấng bậc kẻ tin trong nhà Đạo đôi lúc cũng thắc mắc. Thắc mắc thường nghe quen, có lẽ là những câu hỏi về vai trò của vị linh mục trong đời sống. Chí ít, là trong phụng vụ, hoặc thánh lễ.

Thắc mắc người nhà Đạo nhiều khi không khác mấy, nhận định của nghệ sĩ thân quen, ở ngoài:

 

“Vì tôi là linh mục

giảng lời tình nhân gian

nên không còn tiếng khóc

nên không còn tiếng trách

nên không biết kêu than

nên tôi rất bơ vơ

nên tôi rất dại khờ…”

(Nguyễn Đức Quang – bđd)

 

            Khôn ngoan hay dại khờ, đâu phải là bản chất của các mục tử chuyên về thần, về linh. Có chăng cũng chỉ là đặc ân đặc sủng Đức Chúa phú ban cho người cống hiến cả cuộc đời, cho công việc mục vụ, rất ứng và cũng rất linh.

            Bần đạo còn nhớ, nhiều năm về trước cũng có vị trong Đạo/ở ngoài đã từng thắc mắc về vai trò rất linh và rất ứng của vị mục tử nhà Đạo, nên đã có lời hỏi trên tạp chí. Đã hỏi, thì chắc cũng có lời thưa đáp, rất lịch sự từ các vị mục tử nổi danh. Lần đó, là vị linh mục nổi cộm trong địa hạt truyền thông ở Sydney một thời, linh mục Brian Lucas.

            Hỏi là hỏi thế này:

 

“Tôi chỉ có câu hỏi rất ngắn về vai trò của các linh mục trong Thánh lễ phụng vụ, của Hội thánh. Và nếu tôi không lầm, thì khi xưa có vị chức sắc rất cao trong phẩm trật Hội thánh, dường như lúc ấy là Hồng Y Ratzinger, đã bình luận rằng: linh mục nay trở thành trọng tâm của sự chú ý, từ nhiều giới. Xin vui lòng giải thích trong cột giải đáp này, để rộng đường dư luận; và giúp mọi người am hiểu về Thánh lễ là tác động của Thiên Chúa chứ không phải chỉ con người.” (Người hỏi ký tên: W. K.)

 

            Và, câu trả lời chỉ đơn giản như bên dưới:

 

“Tôi không rõ nội dung lời phát biểu ở trên phát xuất từ Đức Hồng Y Ratzinger có đúng từng chữ như thế không. Nhưng tôi nhớ cách đây ít năm, trong  ngày lễ vàng mừng chúc Giáo lý viên ở Rô-ma vào đầu thiên niên kỷ, Đức Hồng Y có đề cập chuyện này, đại ý như sau:

‘…Xin cho tôi được phép có nhận xét chung về Phụng vụ. Cách thức ta cử hành nghi tiết phụng vụ thường hơi quá duy lý. Phụng vụ trở thành bài dạy, mà tiêu chuẩn là để cho ta làm cho nhiệm tích này trở thành việc thông thường. Cho, lời lẽ của ta trở nên phổ biến, và việc lặp đi lặp lại các câu nói phụng thờ là để cho mọi người nhớ để dạ và vui thích hơn.

 

Nhưng đây không chỉ là sai sót có tính thần học, mà là một lầm lẫn mang tính tâm lý và mục vụ. Làn sóng chủ thuyết huyền bí, quảng bá phương pháp thư giãn, tự trống rỗng của người Á Đông chứng tỏ rằng có điều gì đó còn thiếu xót  trong phụng vụ của chúng ta. Có điều là, thế giới của ta hôm nay cho thấy ta cần sự lặng thinh – im ắng. Cần nhiệm tích mang tính siêu-cá thể. Cần chân-thiện-mỹ.

 

Phụng vụ không là sáng kiến của vị linh mục đang cử hành nghi lễ hoặc sáng chế của một nhóm chuyên gia; mà phụng vụ (“nghi tiết”) đến với mọi người đang ngang qua một tiến trình cơ bản xảy ra từ nhiều thế hệ.

 

Dù trong trường hợp người tham dự có thể không hiểu đến một lời, nhưng họ vẫn nhận chân ý nghĩa đậm sâu ở trong đó. Nhận chân, và hiểu rằng sự có mặt của nhiệm tích này, nhiệm tích nhằm thăng hoa mọi ngôn từ. Vị cử hành nghi tiết phụng tự không đứng trước mọi người mà mang danh nghĩa của riêng vị ấy  -bởi, vị ấy không tự mình nói lên; hoặc, nói cho mình, nhưng ở “trong cương vị của chính Đức Kitô”. Thành thử, ta không tính khả năng của chính vị chủ trì buổi lễ, mà chỉ tính niềm tin của ngài, mà qua ngài, Đức Kitô trở nên trong sáng. Như thánh Gio-an từng diễn tả: “Người phải nổi bật lên, còn thầy phải lu mờ đi.” (Ga 3: 30)

 

Điều mà Đức Hồng Y của chúng ta lúc ấy muốn nói, là: chất lượng của Phụng vụ, tự thân, không tuỳ thuộc tài cáng của vị linh mục. Điều này quả là rất đúng. Tuy nhiên, trên bình diện con người, việc tham gia nghi tiết phụng vụ được đặt nặng đề cao nếu như vị linh mục mang đến cho buổi cử hành phụng vụ ấy, phẩm chất rất “người” về sự thông đạt và hiện diện vốn không đi sai trệch tầm quan trọng của những gì đang diễn tiến.

(Lm Brian Lucas, trích tuần bào the Catholic Weekly 2001)

 

            Sở dĩ bần đạo cứ phải trích dẫn văn bản cũng như giải đáp của bậc trưởng thượng, vào những năm về trước, là để cho thấy ý nghĩa trước-sau-như-một, trong phụng vụ. Ý nghĩa được nhấn mạnh, cốt là để ta tham dự mọi nghi tiết phụng vụ, chí ít là thánh lễ, với phong thái đầy thuyết phục.

            Thuyết phục trong vui thích, chứ đâu như nghệ sĩ nhà họ Nguyễn, cứ than và cứ vãn mãi một lời:

 

            “Vì tôi là linh mục

            chưa rửa tội bao giờ

            nên âm thầm qua đời

            tội ác còn trong tôi…”

(Nguyễn Đức Quang – bđd)

 

            Và nếu, cứ than và cứ vãn, mà chẳng tham dự trong vui thích, hẳn là tội ác không chỉ “còn trong (mỗi mình) tôi”. Mà, còn ở khắp nơi. Cả nhà Đạo, lẫn ngoài đời.

 

            Trần Ngọc Mười Hai

            vẫn cứ cầu mong 

            cho tội ác

không còn ở trong ai.

 

 

“Tôi đi giữa hoàng hôn”

khi ánh chiều buông, khi nắng còn vương

một mình tôi ngắm cánh chim lạc loài

mà lòng mình thấy u hoài.

(Văn Phụng – Tôi đi giữa hoàng hôn)

(Mc 9: 34)

            Hoàng hôn cuộc đời, hay hôn hoàng buổi chiều tím, vẫn là những ngày tháng bần đạo luôn thương nhớ. Nhớ rất nhiều, nhớ cả những tháng ngày lặng lẽ sống trong bốn bức tường tu viện, mà hồn vẫn tản mạn, ở đâu đâu.

            Có lẽ đây là cái cố tật của bần đạo, mà người nhà Phật gọi là “nghiệp” chăng? Cái nghiệp của tôi, chứ không phải của bạn, là cứ lẩn quẩn, với âm nhạc, rồi lại đến thơ văn. Lẩn quẩn, đến độ rất lẩn thẩn. Khiến bạn bè cứ bảo: anh bạn lại “phiếm” nữa rồi.

            Số là, trong lúc vui câu chuyện với bạn bè ngày họp mặt rất lưa thưa, bần đạo còn cái cố tật, là cứ hay thả những con vịt cồ, làm tin tức. Chẳng hạn, có lần: người bạn trẻ của bọn chúng tôi đang ung dung sống đời nhàn hạ ở thôn làng nhỏ bé xứ Sydney, có tên là Bonnyrigg; thế mà, tự nhiên bần đạo dám loan tin là anh có ý định bán căn nhà cổ lỗ ấy đi, để cùng vợ xây dựng “lâu đài tình ái”. Ai cũng bảo, đó là tin vịt… cồ. Nhưng 3 năm sau, tin con vịt cồ đã trở thành tin rất thực. Và nay, đã hơn một năm, gia đình anh chị đã đề huề về ở khu hạng sang trên đồi, có tên thánh Cecilia, dùng làm tên gọi: Cecil Hills. Nguy nga. Hoành tráng. Thoáng thấy, đã thấm mệt.

            Dài dòng văn tự như thế, là để nói lên một điều: nghiệp làm báo, chí ít là báo Đạo chứ không phải báo…đời, có là nghiệp của ngôn sứ, chăng? Hỏi “có là”, tức: đã trả lời. Và trả lời, nay sẽ thế này:

 

            “Tôi thương nhớ ngày qua, trên bến hoàng hoa

            hay những đưòng xa…” (Văn Phụng – bđd) 

 

Nhớ ngày qua, còn là nhớ:

 

            “Từng, bước từng bước thầm

            hoa, vòng rừng tuyết trắng

            rặng, thông già lặng câm

            em yêu, vì xa vắng?

            cho trời mây, ướp buồn…

(Y Vân – Những bước chân âm thầm)

            Hỏi đi hỏi lại, vẫn là hỏi thêm: những ngày qua có là ngày “xa vắng”, “trời mây ướp buồn”. Hỏi ở đây, phải trả lời ngay, kẻo có ngộ nhận. Những ngày qua, nhiều người/nhiều vị giống như bần đạo, đã từng bước những bước, rất âm thầm. Nơi phố vắng. Hoặc, trong tu viện lặng câm, nhưng không câm không lặng. Và, nhất là không buồn. 

            Buồn sao được, khi ngày ngày vẫn nghe văng vẳng lời động viên thúc đẩy, như sau:

 

            “Một đêm, Chúa bảo ông Phao-lô trong một thị kiến:

"Đừng sợ!

Cứ nói đi, đừng làm thinh,   

(Cv 18: 9)

 

            Thành ra, nghiệp viết và lách, ở báo đời hay báo Đạo, là “cứ nói đi! Đừng làm thinh”. Nhưng vấn đề: nói là nói những gì? Nói bằng lời, hay nói bằng hành động? Nói, có hơn là làm thinh? Và ở đây, hỏi có phải là đã trả lời, rồi không? Để trả lời, có lẽ cũng nên nghe thêm một lời trong Kinh Sách:

 

            Các ông làm thinh,

vì khi đi đường,

các ông đã cãi nhau

xem ai là người lớn hơn cả.

            (Mc 9: 34)

 

            Và ở đây nữa, trên đường đời hoàng hôn, chốn hôn hoàng rất lẹ, có những lời nói vẫn chỉ bao gồm ý nghĩa, rất lặng thinh. Vì “khi đi (trên) đường đời, họ (vẫn) cãi nhau xem ai lớn,” tức ai sang trọng, ai giàu có. Làm lớn. Đấng bậc. Vị vọng…? Chẳng thế mà, trong thăng trầm cuộc đời, vẫn còn những:          

 

            “Từng bước từng bước thầm

            mưa, giữa mùa tháng năm

            tay, đan sầu kỷ niệm

            gió rét về lạnh căm

            từng bước chân âm thầm…” ( Y Vân – bđd)

 

            Đó là “bước chân âm thầm”, của ngày xưa. Của hồi thập niên ’50, ’60, khi nghệ sĩ Y Vân và một số văn nghệ sĩ nghe quen khác, vẫn quan niệm:

 

            “Tình đời nhiều lúc mỉa mai,

            cuộc đời nhiều đắng cay,

vui đó sầu đây. “ (Y Vân – 20-40)

           

“Vui đó sầu đây”, là chuyện bình thường. Ở huyện. Các huyện, có những chuyện vui đấy rồi cũng lại sầu đấy. Vui rồi sầu, là bởi người người không còn nhớ rằng: cách đây hơn hai ngàn năm có lẻ, Đức Chúa Nhân Hiền từng gọi đó là “hạnh phúc”. Hạnh Phúc, cho người ưu phiền. Hạnh Phúc, cho kẻ đói khát công chính (Mt 5: 5-6). Hạnh phúc, rõ như ban ngày. Ban mặt.

            Hôm nay, trong những tháng ngày bày tỏ rằng cộng đoàn mình là “những kẻ đói khát công chính”, một người anh em trong gia đình dân con của Đức Chúa, cũng có những điều tự hỏi, như sau:

“Cho nên, cứ mỗi một năm đến Lễ Thánh Mátthêu, đôi khi tôi lại tự hỏi mình: "Ông Mátthêu từ ngày ngồi ở bàn thu thuế cho tới ngày trở thành Mátthêu Thánh Sử đã đi qua nhiều chặng đường, đi qua nhiều giai đoạn, còn tôi mỗi một năm mừng lễ Thánh Mátthêu thì đã đi qua những giai đoạn gì?" (Lm Vũ Khởi Phụng CssR, trích bài giảng lễ thánh Mátthêu 22-9-2008)

 

            Người anh em trong cộng đoàn, đã thay cho bầu bạn khắp năm châu, tự hỏi lòng mình trước khi hỏi bạn. Hỏi người. Nên đã biến lời hỏi đó, thành chất xúc tác, cho nhiều đòi hỏi. Đòi và hỏi, vẫn có từ xưa. Nhưng, nay lại thấy thiếu. Đòi và hỏi, là đòi hỏi như thế này:

            “Hạnh Phúc cho anh em

khi vì Con Người

mà bị người ta oán ghét,

khai trừ, sỉ vả và bị xoá tên như đồ xấu xa.

Ngày đó, anh em hãy vui mừng nhảy múa,

vì này đây phần thưởng dành cho anh em ở trên trời

thật lớn lao.

Bởi lẽ các ngôn sứ cũng đã từng bị cha ông họ

đối xử như thế.”          (Lc 6: 22-23)

           

Ngày “N” ấy, nay đã đến. Có chứng cứ rặt ròi. Hẳn hòi:

Món quà thứ hai nữa, là mình cứ nghĩ như: với bấy nhiêu đau khổ, rồi là những sự đánh đấm, rồi là những cái chiến dịch lăng mạ trên báo trên đài suốt cả tháng như thế, thì chắc là mình hỏng bét mất rồi, tan tác mất rồi. Thế mà Chúa lại cho chứng kiến một cảnh tượng rất là bất ngờ.

Chính vào lúc mà mình được mọi người ca tụng, cái lúc mà mình được người ta nói những lời hoa hòe hoa sói, cho mình là thế này thế kia, thì người đến lại không đông. Nhưng, bắt đầu từ lúc mình bị đả kích, bắt đầu từ lúc mình bị bêu xấu, thì không biết người ở đâu, từ những rừng những núi nào, từ miền Nam, miền Trung, miền Bắc vào, từ trên Tuyên Quang xuống, từ trong Nghệ An ra, từ tận Kontum ra, không biết người ở đâu mà về đây, đông thế ?

Hóa ra, tôi nhận thấy một điều: anh em chị em Giáo Dân, mà không phải chỉ Giáo Dân đâu, kể cả người bên lương nữa, đã tìm đến với mình. Có nhiều người bên lương gặp tôi, từ ngày đọc báo, nghe đài, đâm ra đồng cảm với bạn bè ở Thái Hà trong công cuộc đi tìm Công Lý và họ cầu chúc các bạn Thái Hà thành công. Rất nhiều anh em chị em bên lương, nhất là những người tương đối có trình độ, tương đối nghe tin trên đài mà biết phân tích, biết nhận định, biết phê bình. Rất nhiều người, vì những mảnh giấy nói về Thái Hà mà đâm ra có cảm tình với Thái Hà. Và, tôi nhận được những chứng từ của những người đó, những người bên lương đó. (Lm Vũ Khởi Phụng CssR, bài giảng đã dẫn)

 

            Và, một nhận định cụ thể hơn về niềm vui có thực, là nhận định về “sức mạnh của sự liên kết trong nguyện cầu”, như sau:

 

“Tự nhiên, chiến dịch vừa rồi, nó làm cho mọi người nhích lại gần nhau, mọi người xúm lại đây với nhau, mà cầu nguyện.

Chưa bao giờ mình nhận thấy: chúng ta chung một niềm tin. Chung một phép rửa. Chung một Thiên Chúa là Cha. Như những ngày vừa qua. Người Nam kẻ Bắc, người Đông kẻ Tây, tự nhiên gặp nhau trong cùng một niềm tin. Cùng nhau cầu nguyện. Cùng nhận nhau là anh em. Cái ơn đó là ơn họa hiếm lắm đấy. Không dễ gì tìm được. Vậy mà, Chúa lại ban cho chúng ta, trong năm nay.

Và không những ta chỉ gặp nhau. Không những ta chỉ vui với nhau. Không những chỉ thắt chặt tình đoàn kết, mà nhất là còn có sự cầu nguyện. Cầu nguyện dâng lên, như một dòng nước thủy triều to lớn, tràn ngập hết. Và cái biển cầu nguyện ấy, làm cho tôi nghĩ rằng: mảnh đất này, từ ngàn xưa đã được cung hiến để mang ơn kêu gọi nguyện cầu. Và, sau một thời gian, nó phần nào như ngủ đông, bây giờ đến lúc ơn gọi cung hiến cho sự cầu nguyện chìm sâu trong lòng mảnh đất này, nó thức dậy. Và, lời cầu nguyện ấy tràn bờ! (Lm Vũ Khởi Phụng, bđd)    

 

            Cái hay của người anh em mình, là: dù bị đánh đập, xỉ vả trên báo/đài, bị nhổ nưóc miếng vào mặt, vẫn coi đó là niềm vui ân huệ. Có vui, mới nói được những lời như thế này, đây:

 

Thông tin, là để nói cho nhau nghe sự thật. Thông tin, không phải là cắt đầu cắt đuôi, để bôi nhọ người khác. Thông tin, không phải là cắt đầu cắt đuôi câu nói của người ta, để dìm người ta xuống bùn đen. Để phục vụ, cho không biết những cái quyền lợi bất chính nào.

Chúng ta đi tìm sự thật. Và như lời Thánh Kinh nói: “Sự Thật sẽ giải phóng chúng ta”, còn những lời nói dối, với thời gian, nó sẽ cháy. Chúa cho tôi nhìn thấy một cộng đoàn đang yêu mến Sự Thật, đang đi tìm Sự Thật. Lại một món quà lớn nữa, trong dịp mừng Lễ Thánh Mátthêu này.

Chúa cho tôi nhìn thấy cái gì nữa? Chúa cho tôi nhìn thấy một cộng đoàn yêu mến Công Lý. Một cộng đoàn vô tư. Một cộng đoàn vô vị lợi. Anh chị em Thái Hà đi giữ một mảnh đất, hỏi có ai sau này sẽ bán được tấc đất nào để ăn không? Chả ai, chả anh nào bán được! (Lm Vũ Khởi Phụng, CssR -  bđd)

 

            Thì ra, là như thế. Sở dĩ ta vui, là vì sức mạnh của lời nguyện cầu đã nối kết những người anh em trước đây xa lạ, nay về với nhau. Ở bên nhau. Để nguyện cầu. Và rất vui, vì sự thật nay đã được “loan báo trên mái nhà”. Vui, vì cuối cùng thì Sự Thật ấy, nay thấy được ở khung trời biển Bắc của mình:

 

“Chúa cho tôi nhìn thấy: chúng ta là một cộng đoàn vô vị lợi. Chúng ta là một cộng đoàn đi tìm sự tự do của tâm hồn. Chúng ta là một cộng đoàn đi tìm những giá trị tâm linh. Chúng ta là một cộng đoàn cầu nguyện. Tóm lại, tôi sợ rằng tôi nói chưa hết ý. Nhưng, nghĩ lại thì bên dưới cái vỏ bọc có lẽ là màu tím của Lễ Thánh Mátthêu năm nay, có quá nhiều ơn lành của Chúa. Có quá nhiều món quà, của Chúa.

Từ món quà của Tám Mối Phúc Thật: "Phúc cho những ai vì Thầy mà bị lăng mạ, bị sỉ nhục, bị thiên hạ ghét bỏ, hãy vui mừng vì phần thưởng của anh em trên trời, lớn lao".

Cho đến món quà Cầu Nguyện. Cho đến món quà yêu mến Sự Thật. Cho đến món quà yêu mến Công Lý. Cho đến cái món quà từ tất cả những điều đó, ta đi về; và ta triển khai. Ta chia sẻ. Ta thông tin cho tất cả mọi người chung quanh ta. (Lm Vũ Khởi Phụng – bđd)

 

            Và cũng thế, một người anh em kỳ cựu, trong cộng đoàn “Nước Trời ở trần gian”, cũng đã từng nói lên lời như thế, bằng giòng chảy “Chủ Nhật Hồng Giữa Mùa Tím”, như sau:

 

Thờ phượng, là thờ phượng trong Thần Khí và sự thật” (Ga 4: 5-26). Đức Yêsu đi đến cùng kỳ lý khi ‘Ngài huỷ bỏ lề luật gồm những lệnh truyền và sắc chỉ.(Êp 2: 15), mọi thứ giới luật, có tham vọng định sẵn tất cả hành động con người, bằng mực đen giấy trắng; và, cho phép con người giữ cái nhìn cảnh sát trên tha nhân hay trên chính mình.

Thứ giới luật mực đen giấy trắng như thế, chỉ có thể làm con người tê liệt đi hay là tự mãn nhất thời trong cái dáng phốp pháp phù thủng. Thánh Phao-lô nói thẳng là nó “chỉ giết hại” (2Cr 3: 4).

Đức Yêsu đến thay thế giới luật kia bằng “luật viết trong lòng”(Gr 31: 33) “trên những tấm lòng tấm thịt, chứ không phải trên những tấm đá”(2Cr 3: 3) Ngài không phủ nhận mọi thứ kỷ luật. Không ai bay bổng một mình, trên mây. Chỉ một người con trai một người con gái hẹn hò và cần đúng hẹn, đã là một hình thức kỷ luật. Nhưng mọi hình thức kỷ luật đều là phụ, là thứ yếu đối với khuynh hướng tự trong lòng và đều không thể là tất cả đòi hỏi của tình yêu thương. Người con trai, người con gái đúng hẹn, chỉ là giả dối nếu lòng dạ đã vĩnh viễn cách biệt nhau. Hay đúng hẹn để làm gì, khi đã gặp nhau ngay trên con đường đi đến chỗ hẹn, hay ở một ngả đường nào khác.” (Nguyễn Ngọc Lan – sđd tr. 67-68)

 

            Xem thế, điều mà mọi người chúng ta vẫn bận tâm/ưu tư, là: tôn trọng sự thật. Là, thực hiện Công Lý và Hoà Bình, ở khắp chốn. Có tôn trọng và thực hiện như thế, mình mới hát được như nghệ sĩ khi xưa:

 

            “Dù cho mưa gió,

bên mái tranh nghèo

            dù cho nắng, dù cho sương khói mịt mù

            niềm thương yêu hằng xin mãi mãi

            không hề phai…”   (Văn Phụng – bđd)

           

Niềm thương yêu hằng xin mãi mãi, ở đây cần được hỗ trợ. Hôm nay. Và mai ngày. Hỗ trợ ấy, sẽ là niềm yêu thương của con người. Những người con, của Đức Chúa. Những người, đang phấn đấu rất nhiều, để sống cho ra người. Như một người con. Những người chú trọng nhiều, đến thương yêu. Chứ không phải, chỉ “luôn cãi nhau, dọc đường đời”, để xem ai lớn hơn ai. Ai nhiều đất/nhiều của cải, hơn ai.

Bởi có tranh giành ảnh hưởng, cãi vã nhau cho lắm, cuối cùng cũng không hơn gì nhau. Chi bằng, ta bắt chước ai đó, vừa gửi đi một điện thư ngắn ngủi, đến với mọi người. Những bạn đời, chưa từng quen biết. Hoặc đã quen, nhưng chưa gặp mặt, đến một lần. Bằng lời lẽ của điện thư, như sau:

 

“Sáng nay, bỗng dưng tôi muốn nói “Cảm ơn đời!”.

-Cảm ơn, vì tất cả những gì đời đã ban cho tôi thật nhiều thứ, rất dồi dào. Dồi dào sức khoẻ. Dồi dào hạnh phúc, rất phồn vinh.

-Cảm ơn, vì những bài học cam go; và nhờ đó, tôi hiểu rõ mình hơn. Hiểu được tha nhân, nhiều hơn.

-Cảm ơn đời, vì những thất bại tôi từng kinh nghiệm. Từng trải qua, mà nhờ đó tôi học được tính khiêm hạ. Ý thức được, rằng: mình không được ngủ say trên chiến thắng. Và cũng hiểu được, rằng: những người khác, khi thất bại, họ cũng cần được tiếp tay nâng đỡ.

-Cảm ơn, vì có những cơ hội để vun trồng tính nhẫn nại. Lòng bao dung. Và, niềm hy vọng.

-Cảm ơn đời, vì bao nhiêu khám phá về thực tại. Về Công lý. Hoà bình, đều rất quý.        

-Cảm ơn, vì những vận may tôi gặp. Những rủi ro, tôi cố tránh. Những giải pháp, tôi tìm ra. Những tài năng, tôi phát triển. Những thành công, tôi từng đạt. Những ngày đẹp, tôi đã từng trải. Đã sống qua.

-Cảm ơn đời, vì nhờ cha mẹ mà tôi có. Nhờ bạn bè, tôi gặp. Nhờ bậc thầy cô, tôi được học. Nhờ những cuốn sách, mà tôi đọc. Những chuyến đi, mà tôi thực hiện. Những bữa ăn, tôi đã dùng… Và, nhờ nhiều thứ nữa…

 

            Cảm tạ như thế, không chỉ nên nói vào “ngày biết ơn”, như thói quen vẫn làm, vào độ tháng Mười Một, ở Hoa Kỳ. Nhưng, những cảm ơn ấy, nhất định phải là lời biết ơn thật thân thương. Sẽ nói hoài. Nói mãi. Không chán. Nói ở công đường. Ở Nhà thờ lớn. Phố Nhà Chung. Ở chốn hôn hoàng, tôi vẫn đi giữa. Nói vào buổi, có những bước chân rất âm thầm. Vững chắc. Không hãi sợ. Chẳng sờn lòng. Vẫn quyết tâm làm đến cùng. Quyết, để Sự Thật được xuất đầu lộ diện. Công lý, được trinh trong. Hoà bình, được đến nơi.

 

            Trần Ngọc Mười Hai

            Vẫn muốn thấy

Sự thật,Công lý Hoà bình

sẽ xảy đến.

            Rất an lòng.

 

 

 

 

“Nếu, ngày mai lỡ chúng mình xa nhau,

Anh xin muôn kiếp yêu em mà thôi.”

(Nguyễn Vũ)

(Giáo luật số 1125)   

Lời ca trên, người nghệ sĩ lâu nay vẫn hát lên, một lời hứa. Và đôi khi, còn là lời thề. Thề hay hứa, vẫn là lời của những đường - mật, rất ngọt ngào. Ngọt như mía, không có nghĩa đó là sự thật. Mía lùi như mật, chưa chắc điều đó đã thật tâm.

            Trong hành trình sống Đạo ở đời, và với đời, có những tình huống thoạt nhìn cứ tưởng như mật ngọt, rất êm xuôi. Nhưng xét kỹ, mới thấy lời thề hứa nhiều lúc cũng chẳng êm như nhiều người vẫn tưởng. Nhất thứ, lại là chuyện thề hứa trong Đạo. Và với Đạo.

            Phải thú thật với bầu bạn ngay đây rằng: bần đạo chưa đạt chức năm/chức sáu, cũng chưa lĩnh chức linh mục/thày cả, nhưng dù thế có bạn vẫn chạy đến hỏi han. Hỏi những câu “hóc búa”, mà đến đức thầy/linh mục cũng phải hẹn sẽ trả lời khi đã nghiên cứu thêm, mà thôi.

            Thật ra, người trẻ hôm nay chỉ thắc mắc hỏi han những gì có liên quan đến cuộc sống lứa đôi. Thắc mắc, vì họ vẫn quan tâm đến chuyện Đạo. Hỏi, vì còn muốn làm người công chính, thích hợp với Đạo. Đạo của tình thương. Đạo làm người. Hôm nay, vì thương bạn trẻ có những hỏi han lan man ấy, bần đạo bèn vời đến đức thầy John Flader ở Úc, với câu hỏi như sau:

 

“Trong đám cưới, nếu một bên là người Công giáo chính gốc, đạo giòng. Bên kia, là người ngoại, chẳng bao giờ biết đến lễ lạc, nhà thờ. Vậy xin hỏi: Giáo hội ta có qui định gì cho phép hoặc cấm hai bên ăn đời ở kiếp hát câu “xin muôn kiếp yêu nhau mà thôi”, không?

 

            Theo thói thường, đức thầy John Flader ở Sydney vẫn có câu đáp tỉ mỉ, đúng luật và rất theo ... án lệ. Nên, xin tóm gọn bằng mấy điểm chính như sau:

 

“Như các cuộc hôn nhân giữa người Công giáo và người đi Đạo Chúa mà không phải là Công giáo, hôn nhân này muốn thành, phải có phép “chuẩn”. Phép chuẩn này, Giáo luật số 1125 có liệt kê các điểm chính sau đây:

 

Trước nhất, người theo đạo Công giáo phải cam kết mình đã chuẩn bị để trút bỏ các hiểm nguy khả dĩ ngăn cản gia đình đến với niềm tin. Vì thế, phải quyết hứa làm mọi việc trong quyền hạn của mình cho phép, để khi con cái sinh ra, bảo đảm chúng sẽ chịu phép rửa và được nuôi dưỡng theo truyền thống của Hội thánh Công giáo. Đôi lúc, người chồng lâu nay theo truyền thống văn hoá có xung khắc với truyền thống Đạo Chúa, thì Hội thánh chỉ đòi người phối ngẫu theo Công Giáo, làm hết mình để nuôi dưỡng con sao cho đúng với niềm tin người đi Đạo, là được.

 

Nếu Hội thánh buộc lòng phải từ chối phép “chuẩn” cho người Công Giáo được lấy người ngoài đạo Công giáo, khi biết là con của hai người sẽ không được nuôi dưỡng giáo dục theo truyền thống của người đi Đạo, thì Hội thánh cương quyết hạn chế quyền của người Công giáo, mà thiết lập hôn nhân. Đây là trường hợp xảy đến tại các nước, trong đó số người Công giáo đếm được rất ít. Mà nếu, những người Công giáo này muốn lập gia đình, thì họ chẳng còn chọn lựa cách nào khác ngoài việc cưới/hỏi người ngoài Đạo.       

 

Thứ đến, người phối ngẫu không đi Đạo Công giáo phải được giải thích về lời hứa mà người Công giáo đã tuyên thệ, ngõ hầu đôi bên biết rõ điều mình đã hứa, cũng như am tường các ràng buộc mà người đi Đạo theo đuổi. Khi xưa, cả những người phối ngẫu nào không đi Công giáo cũng phải hứa sẽ nuôi dưỡng con cái mình về sau, hứa cùng một kiểu như người đi Đạo. Tuy nhiên, khi đó điều này bị nhiều người coi như vi phạm quyền tự do tín ngưỡng của người trong cuộc, nên Hội thánh không còn đòi họ phải làm thế, nữa.   

 

Cuối cùng, hai bên phối ngẫu phải được giảng giải về mục đích và đặc điểm cần thiết của hôn nhân. Điều này, cả hai người đều không được phép loại bỏ các yếu tố ấy.

 

Thêm nữa, và đây là chuyện thường tình: nếu một trong hai người phối ngẫu loại bỏ các đặc điểm/đặc trưng cần thiết –như: đức tính ăn ở với nhau bền đỗ đến cùng, không muốn có sự đổ vỡ ly tan, biết cởi mở với đời sống chung và có sự thuỷ chung lâu dài -  nếu không như thế thì hôn nhân ấy sẽ không thành.

 

Một khi, ba điều kiện kể trên được nhận biết rõ và chấp thuận, thì lúc ấy Hội thánh sẽ cho phép hai bên tiến đến hôn nhân.

 

Về hôn lễ, trường hợp người Công giáo lấy người cùng Đạo Chúa nhưng không thuộc Công giáo La Mã, lại đã rửa tội rồi, thì Nghi thức Phụng vụ đề nghị là hôn lễ phải được cử hành bên ngoài nhà thờ. Tuy nhiên, nếu tình hình cho phép và được Đức Giám Mục sở tại ban phép chuẩn, thì đôi bên có thể được tổ chức thánh lễ hôn phối. Luật “chữ đỏ” phụng vụ còn nhắc nhớ, là: người ngoài Đạo Chúa sẽ không được rước phép Mình Thánh, vì luật Giáo hội không chấp thuận làm thế.

(x. Nghi thức Hôn nhân số 8)

 

Nếu người Công giáo kết hôn với một người không chịu rửa tội theo Đạo Chúa, thì đám cưới phải được tổ chức ngoài thánh lễ. (John Flader, the Catholic Weekly 27/4/2008)      

 

Đúng như bần đạo vừa nói, trong sống Đạo ở đời và với đời, có những lời thề và hứa khó đi vào hiện thực. Bởi, ngay lúc thề nguyền, người tuyên thệ nào đâu đã biết hư/thực, đời mình. Nên, đôi bạn đời sẽ chẳng thể hát câu “xin muôn kiếp, yêu nhau mà thôi”. Ai có kinh nghiệm từng trải cũng rồi sẽ hiểu. Hiểu, như nhiều người thường bảo: “sống trước đã, triết lý sau”, là thế.

            Thành thử, nếu cả hai người đều thấy khó trong thực hiện lời nguyền, thì càng khó hơn khi họ hát tiếp ý/lời mà ca sĩ Elvis Phương vẫn nghêu ngao thuở trước:

 

Em, anh xin em, một lần cuối.

đừng trách anh, đừng giận anh nhé em.

Em, anh van em, em nói đi

Em nói sẽ, không bao giờ buồn.”

(Nguyễn Vũ – Lời cuối cho em)

 

            Thì ra, đàn ông nào mà chẳng nói “anh đâu muốn người em gái anh yêu, thêm buồn”.  Và bi đát hơn, khi chưa có được lời thề và nguyền, ắt hẳn anh sẽ thêm:

                       

            ”Đừng, đừng  nhìn anh bằng đôi mắt buồn vời vợi

thà em nói, thà em trách rằng anh dối gian thật nhiều…” (Nguyễn Vũ - bđd)

 

            Và, nếu là “người phối ngẫu” chưa đi Đạo, chắc anh sẽ còn hát:

 

            “Con quỳ lạy Chúa trên trời,

sao cho con lấy được người con yêu.

Đời con đau khổ đã nhiều,

từ khi thơ dại đủ điều đắng cay.”

(Phạm Duy – Con quỳ lạy Chúa trên trời).

 

            Giả như, anh/chị ấy đích thị là người có trắc trở, thì cả hai sẽ không còn ca bài “con cá” như thế, mà đã trở về với Thánh Kinh, để nguyện cầu. Nguyện và cầu, rằng anh/chị sẽ bắt gặp Lời Chúa nói trong Kinh, như:

 

            “Quả thế, trong ngày sống lại,

người ta chẳng lấy vợ lấy chồng,

nhưng sẽ giống như các thiên thần trên trời.”

(Mt 22: 30)

 

            Hoặc:

            "Con cái đời này cưới vợ lấy chồng,

chứ những ai được xét là đáng hưởng phúc đời sau

và sống lại từ cõi chết,

thì không cưới vợ cũng chẳng lấy chồng.”

(Lc 20: 34-36)

             

            Vấn đề ở đây - hôm nay, là: trong các trường hợp tương tự, ta sẽ phải sống làm sao? Có yêu nhau mãi, không? Vẫn áp dụng Lời Chúa, mà sống?

Để trả lời, xin mời bầu bạn nghe truyện kể ngắn, áp dụng cho nhiều người. Ở đời.

            Truyện rằng:

 

“Hôm ấy, một buổi sáng trời quang đãng. Rất đẹp. Mọi người trong làng đều dậy sớm, mà chuẩn bị đi nhà thờ/nhà thánh, đủ lệ bộ. Vào lúc thánh lễ chưa bắt đầu, các cụ ông/cụ bà tụm năm tụm ba, ngồi kể cho nhau nghe những chuyện trong đời vợ chồng. Vui có, buồn cũng có. Nhưng chắc, buồn nhiều hơn vui.

 

Bỗng, xuất hiện một thứ người - ngợm, rất Xa-tăng. Mọi người tỏ vẻ hãi sợ, chạy vụt khỏi nhà thờ, tìm nơi lánh. Duy, có lão ông còn nán lại, đương đầu với tay dữ lừng lẫy, rất Xa-tăng. Lão ông biết hắn là quỷ dữ thứ thiệt, nhưng không tỏ dấu sợ sệt. Trùm Xa-tăng thấy lạ, đến gần hỏi:

-Này, đằng ấy biết ta là ai không?

-Ai mà chẳng biết. Nhiều lắm chỉ là đồ đệ của thần dữ, chứ có gì mà khoe!

-Đúng. Thế, ngươi không biết sợ là gì sao?

-Cái đó thì không. Nhất định không. Vì, ta đây đã 25 năm lấy chị của ngươi làm vợ, này còn sợ chi ai.

 

            Trong phiếm luận Đạo-đời, ghi lại giòng chảy ở trên, không có ý để thuyết phục bạn và tôi, ta hãy quyết tâm thề nguyền. Cũng chẳng để thuyết phục mọi người đi vào cuộc đời có đôi có lứa; hoặc, hãy cứ ở vậy, như trẻ nhỏ. Phiếm ở đây, là phiếm cho vui. Cho thư giãn, tháng ngày căng thẳng, những chuyện đời. Để rồi, về “dấu giáo đường”, ta có Đạo. Đạo trong đời. Của một người.     

 

            Trần Ngọc Mười Hai,

            vẫn còn muốn phiếm

            phiếm về Đạo

phiếm cả về đời.

                                                           

         

“Bằng một vòng cánh tay”

Bằng một kề sát vai
Bằng một nhịp bước vui
Dìu dắt nhau về cõi mê say suốt đời.

(Nhạc ngoại quốc – Blue Tango)

(ĐNL 7: 9)

            Có lẽ, trong đời mỗi người, đạo cũng như đời, đều có những nỗi đam mê. Người, thì mê ‘tứ đổ tường’, chính trị, thơ văn. Kẻ, lại mê vườn tược, sách vở, hoặc bút nghiên. Riêng cá nhân bần đạo, cũng phải thú thật với bà con/anh em rằng: bần đạo hồi đó đã biết mê. Thật sự, có mê thì cũng chỉ là mê âm nhạc. Hay, mê nghe nhạc thì đúng hơn. Mê với mẩn, các nhạc bản “Tango xanh”/đỏ, và “Bài Tango cho em”, đến độ cứ mỗi lần thấy nhạc bản Tango nổi lên đâu đó, đã thấy khá bần thần, và rất mê. Chính vì quá mê nghe Tango Á-Căn-Đình, nên bần đạo cứ nghĩ quẩn. Nghĩ rằng, rồi ra Chúa chẳng cho mình bền đỗ, ở lại nhà Chúa, hay sao ấy?

            Mấy ngày qua, trong tiệc đình đám có nhẩy đầm, bần đạo đã thấy “đấng bậc” nọ chẳng phiền hà/nệ cổ, chẳng sợ luật với lệ gì, vẫn cứ  ra sàn làm một bản “múa đôi” rất Tango Xanh, đến là mê. Mê như thế, đâu có chết thằng Tây nào, đâu nhỉ? Vì thế, đôi lúc nhìn lại chuyện đời, bần đạo cũng thấy tiếc nuối một đôi chuyện. Thấy mình lẩn thẩn, đã rất ngu. Ngu và xuẩn, chẳng vì ý/lời nhạc bản Tango, khiến vụng tu. Lẩn thẩn và ngu, vì thấy mình lắm lúc chưa hiểu nhiều về cõi đời tu. Ngu và lẩn thẩn, có lẽ vì xưa nay cứ hiểu sai ý/lời nhạc bản của bạn mình, khó nhận ra, như:   

 

            Thì đừng rời cánh tay,

            thì ghì chặt lấy vai

            sẽ xin tiếng đàn đến nghìn nơi

            Ngàn năm khắc sâu tình ta đẹp ngời.” (Blue Tango – bđd)

 

            Ngàn năm khắc sâu tình ta đẹp ngời, đâu chỉ là tình của hai người. Chí ít, là những người vừa “múa đôi”? Tình người, đã khắc sâu đến nghìn năm, chắc không còn là “tình mình bây giờ”, theo tháng năm. Cho bằng, tình Chúa, tình của người, và tình của anh em vẫn được Chúa bảo ban, như bao giờ:

 

                        “Anh phải biết rằng Đức Chúa,

Thiên Chúa của anh,

thật là Thiên Chúa, là Thiên Chúa trung thành:

cho đến muôn ngàn thế hệ,

Người vẫn giữ giao ước và tình thương đối với những ai yêu mến Người

và giữ các mệnh lệnh của Người.”

                        (ĐNl 7: 9)

 

            Hằng muôn thế hệ, Chúa vẫn giữ giao ước tình người, với ai yêu mến Ngài. Tình người ấy, chắc là tình được nói đến, có “Tango xanh”, rất nhún nhảy. Và có lẽ, Chúa sẽ nhảy lên vì vui mừng sung sướng, nếu người người biết tuân giữ “mệnh lệnh” tình thương của Ngài! Tất cả, là như thế. Tất cả, được diễn tả bằng nhạc bản, hoặc sách thánh, rất Đệ Nhị Luật. Tả cách nào, cũng là diễn và tả. Hát cách nào, cũng là hát và hò. Cũng, bài “Tango xanh/đỏ” hay “Tango cho em”. Và, cũng lại:

 

                        “Bằng điệu nhạc ngất ngây,

                        bằng kỷ niệm khó phai

                        bằng cuộc tình đêm phơi phới

                        chúng ta ghi trong cõi tim này” (Blue Tango – bđd)

 

            Ghi trong tim, hay trên nốt nhạc, cũng vẫn là ghi. Là kỷ niệm khó phai. Là giao ước, tình người đối với những ai mình yêu mến. Mến Ngài. Mến người. Mến hết mọi sự. Rất tình đời.   

            Về ngu và lẩn thẩn, có người đã rất ngu nhưng không si. Người đó là bần đạo. Bởi, đôi khi thấy mình cũng có si, nhưng không ngu. Duy, có người bạn của bần đạo, chẳng ngu cũng chẳng lẩn lẩn, nhưng rất si. Si tình, si mê tình Chúa và tình người. Ấy đó bạn mình, tên họ đầy đủ cả tên thánh lẫn tên tục, rất Giu-se. Đang ở Mỹ. Sở dĩ, nói: anh rất si nhưng không ngu, là vì “nếu một mai, anh có qua .. (rồi)” thì anh cũng lãnh trọn gói có đủ cả bảy bí tích, trong đó không thiếu bí tích thày cả và cả bí tích rất hôn rồi lại phối, tức hôn phối.

            Nếu bảo rằng, Giu-se Trần Văn Quý đã từng “si mà không ngu” là nói trại. Anh cũng từng một lần có cuộc đời rất tu. Rất, tu Dòng là đằng khác. Xong, anh lại có một đời lòng thòng những “tu ra”. Ra, về lấy vợ. Và, có đến 3 con, rất đề huề. Nay, anh quay về cõi đời cũng rất tu. Nhưng không là tu Dòng, mà lại tu triều, làm cha xứ. Ở giáo phận rất “Los”. Thật ra như thế, anh cầm chắc bảy phép bí tích, rất lành và rất thánh. Chẳng thiếu chi. Khi sinh thì.

            Để qua một bên những chuyện bên lề, dài dòng kể lể, nay ta về “phiếm” chuyện khác, lác đác đôi ba giòng chảy những phiếm. Phiếm, chuyện thường ngày ở huyện. Vẫn hay gặp. Chẳng khi nào thiếu. Đó, là chuyện yêu đương. Và, đương yêu. Yêu đương hay đương yêu, là nhận rằng: con người ở đời, có cấm cản hoặc đánh chết cũng vẫn yêu. Vẫn cứ yêu đương và đương yêu, như từ bao giờ. Nói thế, vì rõ ràng ta được dạy:

 

            “Còn hễ ai giữ lời Người dạy,

nơi kẻ ấy

tình yêu Thiên Chúa đã thực sự nên hoàn hảo.

Căn cứ vào đó,

chúng ta biết được mình đang ở trong Thiên Chúa.”    

            (1 Yn 2: 5)  

 

            Hỡi bạn và tôi, ta hãy thử bày trò “tam đoạn luận” nho nhỏ rất ngắn gọn, rằng: Thiên Chúa là Tình yêu, mà mình “đương ở trong Thiên Chúa”, tức: mình đương yêu. Một thứ yêu đương, rất đích thực. Một tình rất thực, trải dài nhiều tháng năm.

            Hay, bạn và tôi, ta cứ áp dụng “tam đoạn luận” khác dài dòng hơn, sẽ thấy như sau:

 

            “Còn chúng ta,

chúng ta đã biết tình yêu của Thiên Chúa nơi chúng ta,

và đã tin vào tình yêu đó.

Thiên Chúa là tình yêu:

ai ở lại trong tình yêu thì ở lại trong Thiên Chúa,

và Thiên Chúa ở lại trong người ấy.”  

            (1Yn 4: 16)

 

Về, yêu đương và đương yêu. Nếu diễn tả bằng lời lẽ thánh thiêng, thì như thế. Không gì đẹp hơn. Giả như, bạn và tôi, ta có tâm hồn thi-ca âm-nhạc đầy mình, cộng thêm chút tưởng tượng du-dương/tình-tứ trữ tình hơn, hẳn bạn và tôi, ta sẽ cùng người nghệ sĩ, lại hát thêm:

 

“Bằng một nghìn cái hôn

vào một làn tóc thơm

lắng nghe tiếng đàn réo tình hoan

đàn như nói cho ta lời nói du dương

cuộc tình mênh mang.” (Blue tango – bđd)

 

            Tóm lại, du dương - yêu đương – tình mênh mang, hay gì gì đi nữa, chẳng qua vẫn là: “ta biết mình đang ở trong Thiên Chúa”, và: “Thiên Chúa đang ở lại trong người ấy”, tức những người đương yêu. Đương có thứ yêu thương, tình nồng thắm. Rất trọn hảo. Lành thánh. Và vì thế, bần đạo còn nói: bạn Quý Trần của bần đạo, vốn không ngu nhưng vẫn si, là như thế. Đâu có sai.

            Để quyết đoán điều vừa nói, là: “không sai”, xin ghi lại đây đôi giòng truyện kể về một thứ tình. Tình đời. Tình của người đời. Thứ tình, có giòng chảy như sau:

 

“Chuyện xảy ra ở trời Tây, có anh thanh niên nọ cùng cô bạn gái mình đã quyết định tiến tới hôn nhân. Rất long trọng. Bạn bè, người thân đến dự lễ chúc mừng, kéo dài nhiều tiếng, rất hân hoan. Cô dâu xinh đẹp ăn vận toàn mầu trắng trinh trong. Chú rể xúng xính trong bộ đồ lễ tân, rất “tuxêđô”. Ai cũng bảo: hai người đẹp đôi. Tình của hai người thật thắm thiết. Rất tuyệt.

Ít tháng sau, người vợ chạy đến đưa ra một đề nghị, thử thách chồng mình: “Em vừa đọc thấy trên báo nọ, họ chỉ cách giúp ta giữ gìn hôn nhân, cho dài lâu. Đơn giản chỉ thế này: Anh và em, hai ta thử kê ra một danh sách, dài ngắn còn tuỳ, kể lại những gì rất dễ làm phiền lòng nhau, thử xem cho biết. Sau đó, ta cùng nhau bàn chuyện điều chỉnh mọi trục trặc đã có, ngõ hầu cuộc sống và tình yêu của đôi ta, sẽ tốt hơn.”

Người chồng nghe vậy, bèn đồng ý ngay không chậm trễ. Thế nên, cả hai vào phòng riêng, suy nghĩ về nhiều thứ để tìm xem có thứ nào mà người kia có thể đã làm phiền lòng mình. Cứ thế, suốt buổi chiều, hai người suy nghĩ lung lắm, suy xong, lại ngồi viết xuống những điều mà người yêu từng làm mình phật lòng. 

Sáng hôm sau, vào giờ điểm tâm, cả hai quyết định mở danh sách đã ghi xuống ra xem có gì cần trao đổi, hay không. Người vợ rất nhanh nhẩu, đòi nói trước. Cô ta mang danh sách mình kê, có ghi cặn kẽ những điều cả hai từng trải. Chỉ nhìn qua, đã thấy dài những 3 trang. Chỉ đọc hai ba hàng chữ đầu, đã thấy mắt mũi người chồng, đầy những nước, cô bèn hỏi:

-Có gì mà anh buồn khóc dữ thế, hỡi cưng?

-Có gì đâu. Anh nhớ mẹ, chỉ có thế. Thôi, em đọc tiếp đi.

Người vợ tiếp tục đọc bản liệt kê danh sách những chuyện không vui mà người chồng đã từng gây ra cho mình, đến 3 trang. Xong xuôi, cô đặt lên bàn xếp lại rồi ngó chừng, và nói:

-Giờ tới lượt anh, rồi đó. Đọc phần của anh xong, ta sẽ vào chuyện sửa lỗi.

-Anh chẳng viết được điều nào em ạ. Và trang giấy của anh vẫn trinh trong mầu trắng. Anh vẫn nghĩ, em là người vợ tuyệt vời. Anh thật lòng chẳng muốn em thay đổi điều gì trong quan hệ với anh, hết. Em là người vợ hiền và là người yêu tuyệt diệu, anh gặp được. Thật tình, chẳng có gì cần phải đổi thay, đâu em ạ!

Người vợ trẻ, cảm động trước nghĩa cử của chồng mình. Cô rất xúc động thấy tình yêu mà chàng dành cho mình, bấy lâu nay. Anh vẫn chấp nhận mình, dù mình đầy những: tham sân si, như tiền kiếp. Quay sang một bên, cô vội lau nhẹ giọt nước mắt ngà, vừa lăn xuống.”

 

            Truyện tình người, chỉ như thế. Không dài dòng. Chẳng lê thê. Nhưng, mang nặng một ý nghĩa sâu lắng. Ý nghĩa của tình yêu trong đời. Tình đời, có lúc ta cảm thấy ê chề, thất vọng và bực tức. Nhưng người đời vẫn luôn có nét đẹp tuyệt vời của tình yêu. Có, ánh sáng và lời hứa, rất trinh trong. Và sáng lạn, như tình của con người, lúc ban đầu.

            Và, người kể hôm nay, lại đã thêm một câu hỏi: sao ta cứ phải tìm kiếm những xấu xa của người khác. Kiếm tìm, những gì làm ta ưu uất phiền lòng, và thất vọng nơi người yêu. Thay vào đó, sao không để ý đến những gì tuyệt vời, đẹp đẽ. Bởi, đời chỉ đẹp đẽ, nếu ta biết quên đi những gì xấu xa, phiền toái. Bởi, tình chỉ tươi và đẹp, khi ta biết khen ngợi và đề cao. Biết nâng đỡ nhau. Chấp nhận nhau. Đó, mới là tình yêu. Đó, mới là tình người. Tình của đời.                  

            Trong vui tươi ca ngợi tình của đời, bạn hãy cùng tôi, cất lên câu hát của kết đoạn:

 

            “Bằng một vòng cánh tay

            bằng một kề sát vai

            bằng một nhịp rất vui

            dìu dắt nhau về cõi mê say, suốt đời.” (Blue Tango – bđd)

 

            Có vui hát như trên, ta mới thấy đời mình đáng mê. Đáng say. Suốt tháng ngày.

 

            Trần Ngọc Mười Hai

            Cũng từng mê và say

            Nhiều tháng ngày

            có tình yêu thương đằm thắm.

Suốt đời.

 

 

 

 

 

 

                       

        

                       

 

 

 

 

 

“Này em con chim lười

Nhiều năm chim đau phổi
Buổi sáng vắng tiếng chim cười vui

(Phạm Duy – Bình ca)

 

Lc 18: 22

            Thời buổi này, lười biếng hay siêng chăm, luôn là vấn đề thời thượng. Vấn đề tuy không gai góc, như chuyện kinh tế/chính trị, ở nhiều nơi. Nhưng, vẫn thành chuyện. Chí ít, là chuyện “buổi sáng, vắng tiếng chim cười vui”. Chim cười vui mỗi buổi, còn là vấn đề của riêng tôi, và của bạn nữa, những người đang sống ở nơi thị thành hoặc miền quê xa xôi ấy, thấy nhiều ấm ức. Sầu buồn. Thở than. 

            Thở và than, với chú trâu già, từng vất vả nhiều năm, nay biết buồn:

 

            “Này em, con trâu già,

            nhiều năm trâu vất vả,

            cùng với bác xã nơi đồng quê.

            Này em, con trâu già

            Nằm chơi trâu nhai cỏ

            Nhìn những chiếc máy đang, cầy bừa.

            Trâu đừng buồn vì máy cầy ghê. (Phạm Duy – bđd)

 

            Lười biếng hay siêng chăm, thường dẫn đến cảnh buồn/vui, vui/buồn lẫn lộn. Một cảnh tình diễn ra thường ngày. Với mọi loài. Về sầu buồn, Kinh Sách có đoạn cũng nói đến lý do khiến người thanh niên giàu có đã thấy buồn. Vì anh chỉ giàu có chứ không giàu lòng:

 

"Anh chỉ còn thiếu có một điều,

là hãy bán tất cả những gì anh có

mà phân phát cho người nghèo,

và anh sẽ được một kho tàng trên trời.

Rồi hãy đến theo tôi."

Nghe vậy, anh buồn lắm, vì anh rất giàu. 

(Lc 18: 22)

           

Theo Kinh thánh, chìa khoá gây cảnh sầu buồn trong đời vui, là: “vì anh rất giàu”, lại chẳng có được tinh thần của người nghèo khó. Cho nên, mới hụt hẫng mất lời vui chúc phúc, ở mọi thời:

            “Phúc cho những ai

có tinh thần nghèo khó.”

(Mt 5: 3).

           

Những ngày trước, nhân đọc lời bàn niệm suy Lời Chúa của một linh mục nọ trên trang mạng, bần đạo thấy nói: tinh thần nghèo khó, là tinh thần “không còn lo lắng cho chính mình, mà chỉ lo cho người khác. Những người thiếu thốn, nhiều nhu cầu hơn.” Và, đây là một ý kiến rất hay. Còn nhớ, có linh mục khác, cũng cắt nghĩa: tinh thần nghèo khó là tinh thần biết mình không là gì cả, chỉ thuộc giai cấp thấp hèn, chỉ là tôi tá Chúa, nên đặt hết hy vọng vào Thiên Chúa. Chứ không ỷ vào sức của mình.

            Ở đây, tinh thần nghèo, có nghĩa không lười trong việc quan tâm đến người khác trong cộng đồng nhân loại mình chung sống. Cộng đồng ấy, vẫn thấy “nhiều năm chim đau phổi”, vẫn thấy “vắng tiếng chim cười vui”. Và hôm nay, tinh thần nghèo, là tinh thần đem của cải mình có, mà đi phân phát cho những người nghèo hơn mình, để họ tìm ra kho tàng Nước Trời. Trong cùng một đời người. 

            Hôm nay, bần đạo hân hạnh mời bạn bè/người thân, ta thử đi một vòng luận bàn bỏ túi hoặc phiếm cho vui, về cuộc đời đi Đạo. Một đời có cả niềm vui, lẫn nỗi buồn. Không giống như “này em, con chim lười”, chẳng bao giờ bị “đau phổi”. Chỉ mỗi tội, như “trâu già”, “nằm chơi trâu nhai cỏ”, nhìn người khác vẫn cứ cày và bừa quanh năm suốt tháng, nhưng không buồn. Vậy nên, ta cứ phiếm:

            Về chuyện không siêng chăm, Kinh Sách có nói:

 

            “Hỡi tôi tớ bất hảo và lười biếng!”

(Mt 25: 26)

           

Và, thánh Phao-lô cũng có khuyên:

 

            “Anh em đừng nên uể oải/biếng nhác,

nhưng hãy bắt chước những người

nhờ có đức tin và lòng kiên nhẫn

mà được thừa hưởng các lời hứa.

            (Hp 6: 12)

            Thế đó, tâm trạng của người xưa. Vẫn, hay làm biếng bắt chước gương lành từ những người có đức tin và lòng kiên nhẫn. Với nhà Đạo hôm nay, chuyện lười và biếng còn nghiêm trọng hơn. Ngày nay, nhiều người tuy vẫn tin; và vẫn đầy lòng kiên nhẫn đấy, nhưng vẫn lười. Bệnh “lười” thời đại, nay trải dàn ra ở nhiều địa hạt. Địa hạt nào cũng “lươi huyền, lười”. Lười đọc kinh. Lười đi lễ. Lười xưng tội, rước lễ. Lười, cả chuyện học hỏi giáo lý, với Phúc Âm. Quả, là nghiêm trọng. Đáng sợ.

            Cách đây không lâu, những người sống ở Anh và xứ Wales, đã quan ngại về tình hình sống Đạo của tín hữu ở nước này, bèn làm cuộc khảo sát gửi đến 1,500 giáo hữu thuộc đủ mọi thành phần, trên toàn quốc, để tìm xem người ngoan Đạo ở đây, nay sống và nghĩ thế nào. Kết quả, không tươi sáng, cho lắm. Cũng “hơi” báo động.

            Có người nói: Giáo hội Công giáo ở Anh và xứ Wales, là Giáo hội đang trong thời kỳ tàn tạ. Đa phần, đều “thôi không giữ Đạo” khi rời trường hoặc bỏ gia đình, ở riêng. Một số khác, chỉ thấy hy vọng nơi di dân sắc tộc, đến từ các nước siêng chăm/“Đạo gốc” như Ba-Lan, Ba-Tây,vv...

Kết quả khảo sát cho thấy khuynh hướng đại trà người nước này, không còn giữ Đạo như hồi thời tiền nhân, ông bà. Tức, họ không thấy ràng buộc nhiều trong việc đi lễ, mỗi tuần. Nhiều người, nay vẫn đều đặn đi lễ hàng tuần. Vẫn rước Mình Thánh Chúa, nhưng không mấy bận tâm đến chuyện xưng tội hoặc chay kiêng, vào trước lễ. Nói chung, Bí tích Hoà Giải chỉ còn chỗ đứng rất nhỏ, trong sống Đạo hôm nay.

Về hôn nhân người đồng Đạo, người Công giáo ở Anh thành thân với người phối ngẫu cùng là Công giáo, hơn. Như thế, đỡ vất vả. Có thể nói, 70% người Công giáo ở Anh có người phối ngẫu hoặc đối tác cũng là người Công giáo. Với người sắc tộc, thì người Công giáo lấy người Công giáo vẫn thoải mái, thích thú hơn. Trong số người trả lời khảo sát, 85% người gốc Đông Nam Á Châu thích lấy vợ lấy chồng cùng tín ngưỡng. Trong khi đó, với người gốc Ái Nhĩ Lan và Châu Phi sống ở Anh, thì tỷ lệ này chỉ đếm được có 77%. Và, với người Công giáo gốc Anh, chỉ đếm được có: 64%, thôi.

Về tỷ lệ người tín hữu ở Anh vốn dĩ “lười đi lễ”, khảo sát cho thấy: số tuổi người đi lễ mỗi tuần, thì: với hạn tuổi 18-35 có 62% người; hạn tuổi 36-45 có 67%; hạn tuổi 46-55 có 84%; và, tuổi trên 65, vẫn còn khoảng 92% đi thường xuyên hơn.

Về đi lễ ở đâu và tại sao đi lễ, 64% số người trả lời, nói: sở dĩ họ đi lễ là vì có quyết tâm với Chúa. 55% số người nói: đi lễ mới thấy mình được thêm sức mạnh cho cuộc sống hằng ngày. 62% nói: vì đó là truyền thống gia đình. 48% nói: lĩnh nhận Bí tích Thánh Thể như của ăn nuôi sống trong đời. 44% nói: đi lễ để cầu nguyện cho người thân vừa mới mất. 37% nói: để đền bù các tội mình mắc phải. 36% nói: để cầu được nhiều thứ cần thiết trong đời. Có mỗi 36% số người nói: vì thấy mình là thành viên của cộng đoàn.

Về siêng chăm rước Mình Chúa, 89% số người nói mỗi lần đi lễ đều rước Mình Thánh, hết. Chỉ đếm có 3% số người nói: rước lễ sau khi đã xưng tội. Trong khi đó 3% nói: chả bao giờ xưng tội, hết đó. Trả lời câu hỏi: đâu là phần quan trọng trong thánh lễ? 75% trả lời: là Rước Mình Thánh Chúa. 68% thấy có Chúa hiện diện. 61% trả lời: đó là phần cầu nguyện và suy niệm Lời Chúa. 46% thấy quan trọng trong việc “bắt tay chúc hoà bình”. 42% cho đó là việc giảng giải Lời Chúa. 43% cho phần đọc Sách Thánh là phần quan trọng. 29% nói: ca hát và âm nhạc.

Về chuyện lười xưng tội, 47% số người được hỏi đã đồng ý với câu “Mình có thể là người Công giáo đúng nghĩa mà không cần Bí tích Hoà Giải. 34% số người được hỏi, đều nói: không đồng ý với câu đó. Phần còn lại, không có ý kiến.

Về chuyện lười đọc kinh/cầu nguyện, 66% số người hồi đáp khảo sát, nói vẫn đọc kinh mỗi ngày. 22% nói: mỗi tuần đọc vài lần. 6% số người nói: chỉ đọc kinh vào lúc gặp khủng hoảng. Về siêng chăm đọc kinh/cầu nguyện tính theo sắc tộc, thì người gốc Đông Nam Châu Á có 85% số người vẫn đọc kinh, người gốc Châu Phi, chỉ đếm có 79%. Người gốc Ái Nhĩ lan có đến 78% và người gốc rặt Ănglô saxon chỉ đếm được 59%, thôi.

Các hồi đáp cho câu hỏi về khía cạnh của niềm tin yêu và tín ngưỡng nói chung, người Công giáo ở Anh hôm nay đặt nặng lên Tiệc Thánh Thể và tình thương của Chúa nhiều hơn tội lỗi và sám hối. Họ cũng tin vào Thiên Đàng nhiều hơn hoả ngục. Tuy nhiên có điều lạ, là: nhiều người cũng tin vào việc tái sinh làm người, dù đây không nằm trong giáo lý của Hội thánh Công giáo. Nói chung, 83% số người tin có sự sống sau khi chết. 63% người tin có ác thần/quỷ dữ. 60% tin có hoả ngục. 91% tin có thiên đàng. 70% tin về tội trọng. 80% tin vào sự sống lại. 38% tin vào việc tái sinh làm người. 81% tin Đức Mẹ Đồng trinh. 76% tin vào Phán xét ngày mình chết. 79% tin vào ơn cứu rỗi khỏi tội lỗi.

Về nhận thức có Công Đồng Chung Vatican II, thì 18% số người trẻ từ 18-35 nói: không biết gì về chuyện này. 18% số người tuổi từ 36-45 nói như thế. Riêng lớp tuổi trên 65, chỉ có 38% là biết đến Công Đồng này.

Về hiến chế “Humanae Vitae”, chỉ có 16% số người được hỏi, nói là có nghe nói đến giáo huấn của Hội thánh về các vấn đề dục tính, 37% nói cũng nghe loáng thoáng, nhưng 47% trả lời: chẳng bao giờ biết đến.(trích bản Khảo sát do viện Von Hugel, Đại Học Cambridge thực hiện- 7/2008)

Nói cho cùng, khảo sát với hỏi han, chỉ như thế. Như thế có nghĩa, là người được hỏi ý kiến từng có thói quen phát biểu, không sượng sùng. Phát biểu, như người lâu nay sống ở xã hội tự do. Rất thoải mái. Rất thật tình. Tuy nhiên, có một điều trong bản khảo sát, đã cho thấy: tỷ lệ nào thấy khá cao ở câu đáp, là do những người sắc tộc sống từng trải ở các nước có nhà cầm quyền vẫn o ép về chuyện Đạo.

Vấn đề là, khi tín ngưỡng không còn bị hạn chế, tự do không còn bị o ép, thì sự thể sẽ khác chăng? Và, niềm tin của người đi Đạo, có còn là những điều đáng lo nữa hay không? Hoặc, người đi Đạo có còn lo cho mình? Lo cho người khác nữa hay chăng? Hoặc, vẫn cứ như bài hát của Phạm Duy, có câu nhắn: “này em, con chim lười”? Hoặc, chim con vẫn cứ “bình chân như vại”, giống hệt như người đứng ở ngoài. Ngoài Đạo. Ngoài cuộc. Như truyện kể, để minh hoạ, ở bên dưới:

 

“Chú chuột nhắt để mắt nhìn qua đường lỗ nơi tường kho của trang trại, bất chợt nhận ra trang chủ và vợ hiền đang mở nắp. Chuột ta tự hỏi không biết trong đó có gì để ăn, hay không? Kịp hú hồn, khi khám phá ra trong đó, là chiếc bẫy. Chạy vội về hang ở, chuột ta bèn bắn đi mọi nơi nhiều tín hiệu khẩn báo:

-Nhà trại có bẫy chuột! nhà trại có bẫy chuột!

Gà nòi nghe thấy, cũng chỉ lắc đầu nguầy nguậy, bảo: Này anh chuột nhắt, bẫy chuột chứ có phải là bẫy gà đâu, có liên can gì đến tôi đâu mà nhắng lên thế!” Chuột ta bèn chạy đến anh lợn nọc, và hét to cho anh nghe rõ:

-Nhà trại mình có bẫy! nhà trại mình có bẫy!

Heo ta, tuy thông cảm với bạn chuột, cũng ỉn ỉn chỉ vài câu:

-Xin lỗi bạn nhé, tớ đây chỉ thông cảm/biết mỗi nguyện cầu. Sẽ cầu, cho bạn đừng mắc bẫy, có thế thôi! Yên chí đi bạn ạ, tớ mà cầu nguyện, là thế nào Bề Trên cũng nhậm lời, thôi.”

Chuột lại chạy đến với chị bò nặng nề lề mề bầu sữa, và kêu lên:

-Nhà trại mình có bẫy! nhà trại mình có bẫy!

Nghe xong, bò ta chỉ biết an ủi:

-Chà, chuột nhắt bạn ơi! Ta xin bạn thứ lỗi, chứ ta thấy bẫy này chẳng nhằm nhò gì với lớp da khá dầy, của ta.

Quá chán nản, chuột trở về nơi chốn cũ, nằm bịch. Rất cám cảnh. Một mình một chợ, lo chống đỡ mối hiểm nguy đang trờ tới. Với bẫy sâu. Đêm đến, có tiếng chân chạy ồn ào, chừng như nhà trại vừa phát hiện có gia súc gia cầm nào đó vừa sập bẫy. Náo loạn cả một không gian. Người vợ trang chủ chạy đến xem có gì bị mắc bẫy. Trong bóng đêm, bà chẳng nhìn thấy gì, hình như chú rắn độc vừa bị sập bẫy, vẫy vùng đứt mất đuôi.

Nổi nóng vì bị đứt đuôi, rắn độc quay lại cắn vào chân vợ trang chủ. Khiến người chồng phải vội đưa vào bệnh viện gần đó, chữa trị. Gặp lúc nhà thương thiếu thuốc trị nọc rắn, đã về lại chịu con sốt, lên cao độ. Để trị sốt, trại chủ bèn bắt gà cho vào nồi nấu cháo, chữa cho vợ. Nhưng chữa mẹo bằng cháo, nào công nghiệm. Người vợ cứ sốt đều, khiến bạn bè người thân đến gần hầu giúp đỡ, ủi an.

Để tiếp đón bà con đến thăm nom, bụng đói cào, trại chủ, lại bắt heo làm thịt, mà thết đãi. Vợ ông vẫn không bớt bịnh, đã lìa trần ít ngày sau đó. Đám tang tổ chức tươm tất, rất đông người. Trại chủ bèn hạ bò để thù tiếp, mới đủ thức ăn cho mọi người. Nhìn qua khe tường, chuột nhắt ta thấy hết mọi chuyện, tuần tự diễn tiến, lòng buồn rầu, khôn tả. Buồn cho số phận của bầu bạn loài thú, chẳng cảm thông. Chuột tuy nhỏ, nhưng vẫn thầm nhủ: phải chi bạn hữu đừng lười. Cứ ra tay hộ giúp, với đỡ đần, biết đâu sự thể sẽ không tồi tệ đến như thế.

Tất cả cũng chỉ do mình lười. Tất cả chỉ vì, cứ quan niệm “sống chết mặc bay”, ta đây đâu cần biết. Chính đó mới là: đầu mối tội đầu. Mọi sự xấu. Từ truyện “cái bẫy chột”, người nghe bèn rút ra được bài học, để đời. Học rằng, trong sống cùng và sống chung, cũng nên để mắt đến người ở gần bên, xem họ có vấn đề gì cần mình giúp đỡ. Bởi, tất cả sẽ thành chuyện, nếu mình không ra tay giúp đỡ. Hết mọi người. Bởi, chuyện riêng một người, vẫn có thể là mấu chốt quan trọng trong toàn bức thảm đời người, luôn đan kết với nhau. Cần đến nhau. Đừng lười.

 

            Và, đây cũng là ý tưởng của người nghệ sĩ vẫn hát vui, nhưng đã biết buồn. Hát, là hát những giòng nhạc lê thê như thế này:

 

            “Này em, anh đã già

            tuổi cao thiếu sức khoẻ

            dù sống với trái tim cằn khô

            Này em, anh đã về

            Thì xin nghe anh kể

            Chuyện mới/cũ, khóc vui tràn trề.

            Những chuyện hoà bình có người nghe…”

            (Phạm Duy – Bình Ca)

 

            Chuyện hoà bình anh kể, có chăng nay người nghe? Hay em hay anh vẫn cứ bảo: chuyện phiếm Đạo - đời, nào mấy thích. Chẳng thích nghe. Cũng chẳng thích đọc, đây vẫn cứ lười. Lười việc Đạo. Lười cả việc đời, nay chán hết. Chán hay không chán, đừng chán chuyện hoà bình, tình thương Chúa vẫn nói, nhé em. Nhé anh. Nhé mọi người.

 

            Trần Ngọc Mười Hai

            Tuy rất lười

            Nhưng chưa biết chán.

            Chí ít, là chuyện sống Đạo

Trong đời..   

   

 

 

 

“Anh sẽ vì em làm thơ tình ái”


Anh sẽ gom mây kết hình lâu đài.

(Trần Thiện Thanh – Lâu Đài Tình Ái)

 

(Mt 2: 13/ 2:19)

            Từ ngày qua Úc, bần đạo có nhiều dịp ghé nhà hàng dự tiệc mời, khá nhiều. Đa phần là tiệc cưới. Mỗi lần dự, bần đạo nghe các “hát sĩ” thuộc loại cây-nhà-lá-vườn cứ ỉ ê bài “tình ca”, rất du dương. Khá ái tình. Đại để, muốn gom kết mây xanh, thành lâu đài. Lâu đài nhiều tầng mây, trông rất đẹp. Đẹp như một bài thơ, rất tình. Có trăng. Có sao. Có giới cao sang, quyền quý. Có, quân vương/hoàng hậu, trôi theo cùng giòng chảy. Giòng ấy, chảy như sau:

 

“Em ơi, lâu đài tình ái đó,

chắc không có trên trần gian,

anh đưa em vào, bằng tiếng hát

chắp đôi cánh nhung, thiên thần.”

(Trần Thiện Thanh – bđd)

 

            Lâu đài tình ái, nghệ sĩ hát khá nhiều. Nhưng, sao bảo là không có? Lại còn nhắc đến “cánh nhung thiên thần”. Bần đạo nghe rồi tự hỏi: thiên thần sao có cánh nhung? Nếu có chăng, chỉ là cánh nhung bọc vải trời, đã là may rồi. Và, thiên thần cánh nhung hôm nay, có vui vầy ngày Vua Tình Ái xuống giáng trần? Vua Tình Ái, có thiên thần giang cánh, hát tung tăng. Câu hát, nay văng vẳng từ đâu đó:

 

            “Đêm thanh nghe tiếng hát của thiên thần,

            chung vui hoà vang, tiếng hát nỉ non…” 

 

            Hoặc, một hoà vang. Chúc mừng:

 

            “Giữa muôn ngàn hào quang,

            với muôn ngàn hương ngát, lừng

            bao thiên thần hoà vang

            cất bao lời cung chúc, mừng.”

(Vinh Phúc/Nguyễn Đức – Kìa Trông Huy Hoàng) 

 

            Vâng. Đêm thanh, tiếng hát của thiên thần, lời cung chúc, vẫn từ các vị không mang cánh, rất khác người. Dù, có cánh hay không, ta vẫn gọi các đấng bậc thiên thần, ở trần gian. Những, tổng lãnh thần thiêng, là thần sứ. Lớn nhỏ. Ở đâu đó. Như thắc mắc ưu tư nhiều người, vẫn còn tin. Tin vào bậc lành thánh rất “có cánh”. Bởi thế nên, vừa rồi, có vị đã thư về gặn hỏi đấng bậc linh mục chủ trì mục hỏi đáp, rất thân quen, như sau:

 

“Tôi là độc giả của tờ The Catholic Weekly ở Sydney, vẫn thường xuyên theo dõi mục hỏi-đáp, về Đạo. Nay, hỏi cho biết: có khác biệt chăng giữa danh xưng “thiên thần” và “tổng lãnh thiên thần”? Và, Kinh Thánh có chỗ nào đề cập, nói về các Tổng Lãnh Thiên thần, không?”

 

Gặn hỏi là vừa hỏi và vừa gặn, nhưng không đính kèm một chữ ký nào ở bên dưới. Dù vậy, đấng bậc linh mục phụ trách hỏi-đáp, vẫn rất vui, mà trả lời:

 

“Trước hết, xin được bắt đầu bằng danh xưng “thiên thần”. Cụm từ này, bắt nguồn từ chữ “aggelos” bên tiếng Hy Lạp, có nghĩa là “sứ giả”. Vì thế, danh xưng này được dùng để chỉ vai trò của các thiên sứ. Đúng hơn, là chỉ về bản chất của các đấng ấy.

Thiên thần, với tư cách là sứ giả của Đức Chúa, đã thấy xuất hiện nhiều lần trong Kinh Thánh. Có thiên thần từng hiện ra với ông Gia-cóp, để khuyên ông hãy quay về nơi cha sinh mẹ đẻ của mình, cho an toàn dân con (x.Kn 31: 11-13). Ở nơi khác, là đoạn nói về vị thiên sứ hiện đến với bà Ma-nô-a, để báo tin cho biết, là: bà sẽ sinh hạ một người con. Và, người con của bà phải được đặt tên là Samson (x.Tp 13: 3).

Về sau, cũng có đoạn Tin Mừng kể về chuyện sứ thần của Thiên Chúa hiện đến với ông Giu-se báo mộng cho ông biết là: Hài Nhi Rất Thánh mà Đức Maria đang mang thai, chính là do Thánh Thần Chúa, tác tạo (Mt 1: 20). Tương tự như thế, ta còn đếm được thêm hai lần khác ở Tin Mừng thánh Mát-thêu. Một, ở đoạn 2 câu 13; và, một, ở đoạn 2 câu 19. Nơi đây, cũng thấy nói đến thần sứ Ga-bi-ri-e hiện đến với ông Za-ka-ri-a báo cho ông biết về việc bà nhà Ê-li-za-bét sẽ sinh hạ người con, và ông sẽ đặt tên cho con ông là: Gio-an (Lc 1: 11). Sau đó, là đoạn sứ thần hiện đến với Đức Maria, loan báo với Mẹ chuyện Đức Giê-su sẽ hạ sinh từ cung lòng Mẹ (Lc 1: 26-31).

Trong khi, chỉ một ít thiên sứ hành động theo tư cách của các sứ giả, là: thông chuyển ý định của Đức Chúa với trần gian; hoặc, xuất hiện để tháp tùng các thánh qua tư cách của đấng bảo hộ, như trường hợp Tổng lãnh Thiên thần Ga-bi-ri-e hiện đến với người trẻ tên Tô-bi-a, ở Cựu Ước (Tb 3. 17). Trên thực tế, thần linh thiên sứ đều xuất hiện với chốn gian trần, luôn ở tư thế đang chiêm ngưỡng Chúa, nơi cao ấy (Mt 18: 10). Từ nơi cao, các thần sứ vẫn kính thờ Chúa trong phong cách oai phong, diễm lệ.

Về bản chất, thần sứ trên thiên toà là đấng thần linh tinh khiết, rất thông minh. Rất dĩnh ngộ. Và, tự do. Là vì, các ngài do Thiên Chúa tạo nên, từ buổi đầu. Sách Giáo lý Hội Thánh Công Giáo mô tả các ngài, là: “tạo vật thiêng liêng, bất tử. Rất trọn hảo. Các đấng vượt lên trên mọi tạo vật mà ta có thể nhìn thấy, là vì nét vinh quang lộng lẫy Chúa ban cho các đấng, để làm chứng cho Quyền uy của Ngài.” (x. Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo #330).“ Sự hiện hữu của thần linh thiên sứ, không mang hình hài xác thể nào hết, nhưng Kinh Thánh vẫn gọi các ngài là ‘các thánh thiên thần’, vì đó là sự thật của lòng tin. Lời chứng của Kinh Thánh đã thấy nơi sự hài hoà của Truyền Thống.” (x. GLHTCG #328).

Từ buổi đầu tạo dựng, mọi thần linh/thiên sứ dù được ban ơn thánh hoá, nhưng vẫn phải trải qua một thời kỳ thử thách, để xem các ngài có xứng đáng được gia nhập đạo binh Thiên quốc, không. Có vị, bị Chúa khước từ quyền năng, nên đã trở thành “thiên thần gẫy cánh” hoặc tà thần/ác quỷ. Về việc này, thánh Phê-rô cũng có thư dài giải thích: “Vì nếu Thiên Chúa đã không dung thứ cho thần sứ mắc tội, nên mới tống họ vào chốn hố sâu địa ngục tăm tối, giam họ ở đó chờ đến kỳ phán xét, mới thôi…” (2P 2: 4).

 

            Cũng nên mở ngoặc ở đây để gọi là có chút lời bàn, có thể nói: chắc cũng vì lý do này, mà người nghệ sĩ chốn gian trần, đã có lời thơ/ý nhạc rất trùng hạp:

“Em ơi, lâu đài tình ái đó,

sáng trong ánh tinh cầu xa

cho nên, cho dù nghìn năm qua

còn vấn vương đôi hồn hoa. “ (Trần Thiên Thanh – bđd)

 

            Thật sự thì, lâu đài tình ái ấy, có hay không có trên trần gian; hoặc thần linh thiên sứ ở trần gian sao không giống như được tả nơi Kinh sách? hay gì đi nữa, cũng chớ lo. Và, cũng đừng sợ. Bởi, Cựu Ước đã từng căn dặn:

 

            “Đừng lo lắng,

đừng sợ gì cho chúng, em ạ!

Vì sẽ có thiên thần bản mệnh cùng đi với con,

thì cuộc hành trình của nó sẽ thành công,

và nó sẽ trở về mạnh khoẻ!”

(Tb 5: 22)

 

            Đã có thiên thần ở gần, tức không còn gì để sợ, nữa. Vì, thiên thần ấy, dù có người còn gọi là “bậc tiên, bậc thánh”, cũng được thánh Phao-lô khi xưa dặn dò:

 

            “Vì khi hiệu lệnh ban ra,

khi tiếng tổng lãnh thiên thần

và tiếng kèn của Thiên Chúa vang lên,

thì chính Chúa sẽ từ trời ngự xuống,

và những người đã chết trong Đức Ki-tô

sẽ sống lại trước tiên.”

(1Th 4: 16)

 

            Ở đây nữa, thánh Phao-lô cũng nói đến vai trò của Tổng lãnh Thiên thần. Vậy, Tổng lãnh Thiên thần, ngài là ai? Quyền phép thế nào? Và, lời giải thích xin dành cho đấng linh mục vị vọng, ở Sydney:

 

“Một số các thiên thần được gọi là Tổng lãnh Thiên thần. Danh xưng này, mang ý  nghĩa: đây là thiên thần “ở nơi cao nhất” hoặc, nói theo ngôn từ ngày nay, là “thủ trưởng” các đấng thần linh thiên sứ. Các vị ấy, được nhắc đến, hai lần trong Kinh Thánh. Một, là ở sách Giu-đi-ta đoạn 1 câu 9. Và một, là ở thư thánh Phao-lô gửi giáo đoàn Thét-xa-lô-ni-kê. Riêng tác giả Cựu Ước cũng nhắc đến Tổng lãnh Thiên thần Mi-ca-e, dũng mãnh. Và, thánh Phao-lô lại đề cập đến việc Đức Kitô đến lần thứ hai, với sự có mặt của vị “sứ giả” này.

Kinh Thánh, thỉnh thoảng cũng nhắc đến các danh xưng/tên gọi, vốn áp đặt cho các thiên thần. Và, cũng mô tả phẩm trật trên dưới có lớp lang trong hàng ngũ các vị ấy. Tỉ như, thánh Phao-lô nói đến “thiên toà hay thiên chủ, thiên phủ hay uy linh” (Cl 1: 16); hoặc: “trên mọi cấp bậc chốn hoằng thiên: thiên phủ, uy linh và quyền năng, thiên chủ” (Êp 1: 21). Và, nhất là đoạn nói đến: “các đấng uy linh, chốn hoằng thiên” (Êp 3: 10).

Các tác giả thời về sau, cũng triển khai ý tưởng nói đến triều thần thánh thiên thần, chín phẩm; hoặc bầu đoàn thần thiêng, trên thiên quốc. Trong số đó, cũng nên kể đến các vị có tên tuổi: thánh Am-brô-si-ô, thánh Xi-rin ở Giê-ru-sa-lem, thánh Gio-an Kri-zốt-tô-ni-mô ở thế kỷ thứ IV, và một vị tên là Đi-ô-ni-sô Giả ở thế kỷ thứ V; và, thánh Tô-ma A-ki-nô ở vào thế kỷ thứ XIII.

Danh tánh các thiên thần mà các tác giả kinh sách xếp loại vào trong danh sách các phẩm trật được kê thành ba nhóm, mỗi nhóm gồm ba đoàn. Trong đó, có thể kể ra ở đây, như: bầu đoàn thiên thần sốt mến Sê-ra-phim, Thiên thần Kê-ru-bim (còn gọi là Minh thần); rồi đến các Thiên phủ, Thiên chủ, Uy linh, Đấng quyền năng, chốn Thiên hoằng, vv… Nói chung, cũng không nên hiểu đây là giáo huấn chính thống của Hội thánh. (John Flader, The Catholic Weekly ngày 28/9/2008, tr.10)

 

            Dầu gì đi nữa, là thiên thần hay đấng bậc thần thiêng, vẫn là các vị thiêng liêng sáng láng, mà người trần mắt thịt chúng ta chẳng hề trông thấy. Nhưng, ta vẫn tin các vị này rất ư là hiền từ, tử tế. Chỉ chuyên làm việc thiện. Chỉ hộ phù, giúp đỡ đám dân đen phàm hèn, trên dương thế.

            Còn nhớ, bầu bạn nhiều nơi vẫn có thói quen tôn sùng vị Tổng lãnh Thiên thần Mi-ca-e hoặc Ra-pha-e, đến độ coi các vị này như cánh tay mặt quyền uy của Đức Chúa. Các Vị, luôn đóng vai đấng bậc bảo vệ, và phụ giúp mỗi khi ta gặp nạn, hoặc khi ta cần đến các ngài. Khỏi cần tranh luận, là chuyện ấy có thật hay không, về các đấng bậc thần linh thiên sứ, tốt hơn hết, hãy cứ muờng tượng và tin tưởng, là: người công chính và kẻ hiền lành, trước sau gì cũng sẽ được các đấng/các vị này bảo trợ, hộ phù. Quyết chẳng sai.

            Để minh hoạ cho lập trường ở trên, cũng nên kể lại nơi đây câu truyện kể, để thư giãn, như bên dưới. Truyện rằng:

“Đêm hôm đó, tôi mơ thấy thần linh thiên sứ hiện đến với tôi. Vừa gặp ngài, đã nói:

-Vào đây đi, nào. Chắc anh bạn muốn phỏng vấn ta, chứ gì?

-Dạ. Nếu ngài có đôi ba giây phút rảnh rỗi.

-Thì giờ của ta kéo dài đến vĩnh cửu. Chắc vừa đủ để làm mọi chuyện trên đời. Thế anh bạn có điều gì để hỏi, đây?

-Vâng. Con muốn hỏi: trên đời này, có gì làm ngài ngạc nhiên về con người, không?

Thiên sứ trả lời:

-Có chứ. Đó chính:

 *là, khi thấy mọi người hay chán ngán, chẳng còn muốn làm con trẻ. Vẫn cứ  mong lớn cho mau cho lẹ. Làm người lớn rồi, lại mong trẻ trung, như tuổi nhỏ.

 *là, thấy người người cứ vung tiền tiêu phí, làm mất đi sức khoẻ; để rồi, lại mất tiền toi, hòng tạo lại sức khoẻ, đã để mất.

 *là, khi lo lắng quá sức về tương lai mai ngày, khiến quên mất đi hiện tại mình đang sống, để rồi không còn sống cho hiện tại, lẫn tương lai.

 *là, thấy người người cứ sống như thể không bao giờ sẽ phải chết đi, và chết đi như thể chưa bao giờ từng sinh sống.

Tiếp đến, thần linh thánh ái nắm tay tôi hồi lâu. Hai tôi cùng thinh lặng. Chợt phút chốc, tôi lại hỏi:

-làm bậc cha mẹ, ngài thử nghĩ xem: đâu là bài học sống động, trẻ cần học?

Thần sứ trả lời:          

-Điều chúng cần học,

 *là: mình không thể khiến bắt mọi người yêu mình, nhưng cứ tự để mọi người tìm đến mình mà yêu thương.

 *người giàu không là người có nhiều thứ nhất, nhưng là người có ít nhu cầu nhất. 

 *là, chỉ cần mất vài giây để mở rộng vết thương lòng của người mà ta yêu, nhưng phải mất rất nhiều năm mới chữa lành được vết thương ấy.

 *là, có nhiều người yêu mình thật sự, nhưng họ không biết cách tỏ bày tình thương hoặc diễn tả cảm giác của họ với mình, thôi.

 *là, hai người có thể cùng trông nhìn vào một vật, nhưng lại thấy khác nhau

 *là, tha thứ hoặc được người khác thứ tha, vẫn chưa đủ, mà còn phải tự tha thứ chính mình nữa.

Nghe rồi, tôi cứ ngồi đó vui hưởng khoảnh khắc êm ả ấy. Tôi cũng nói lên lời cảm tạ thần linh thánh ái về thơi gian ngài bỏ ra, để ở với tôi. Cảm tạ về tất cả những gì ngài đã làm cho tôi và gia đình. Nghe thế, ngài bèn nói:

-Không sao đâu, anh bạn ạ. Ta đây luôn sẵn sàng, 24 trên 24. Anh chỉ cần để lại lời nhắn, Ta sẽ tới ngay.

 

            Thần linh thiên sứ, tuy nhắn và nhủ, chỉ như thế. Nhưng, khổ nỗi con người và người con của ngài, lại cứ quên. Quên cả những gì bạn vừa làm cho họ. Nhưng có một điều, mà không một ai có thể quên được, đó là cảm giác mà bạn tạo được cho ai đó. Khó khăn, hay dễ làm. Cũng vẫn gọi là “lâu đài tình ái”, không phải để hát ở tiệc cưới. Nhưng là để:

 

            “Anh kết lầu hoa bằng thơ tình ái,

            cho mắt em xanh đến tận muôn đời.

            chuyện tình mình chưa nghe lừa dối,

            lời hẹn đầu chưa đi vào tối,

            thì lâu đài mang tên Tình Ái

            đón hai đứa chúng ta mà thôi.(Trần Thiện Thanh – bđd)

 

            Hôm nay đây, ngồi nhớ nhạc bản này, bần đạo chỉ muốn nói lên rằng: lâu đài rất tình và rất ái ấy, không chỉ để cho hai đứa xây. Hoặc, xây cho hai đứa, thôi. Mà, ta cùng xây. Xây, cho tất cả. Xây, cho mọi người. Bởi, lâu đài Tình Ái mà bạn và tôi, ta dựng xây, là chính triều thần thiên sứ. Là, chốn Chúa ngự, ở nơi đây. Nước Trời này.

 

            Trần Ngọc Mười Hai

            Vẫn cứ hy vọng

            lâu đài rất tình và rất ái hôm nay

            là Nước Trời. Của mọi người.

       

 

“Không phải là lúc ta ngồi mà

đặt vấn đề nữa rồi”

mà phải cùng nhau ta làm cho tươi mới

hàng chục năm qua, ta ngồi ngó nhau

nghi ngờ nhau, khích bác nhau

cho cay cho sâu, cho thật đau.”

(Nguyễn Đức Quang – Không Phải Là Lúc)

 

(GLHTCG # 948, 953/ Rm 6: 4)

            Có bạn thân, thường hay viết điện thư hỏi thăm bần đạo, sao cứ thích trích dẫn nhạc bản của Nguyễn Đức Quang, nhiều như thế. Anh còn nói, đâu có gì thơ/văn nơi người nghệ sĩ du ca, rất sôi sục, nhạc tranh đấu. Theo thông lệ, khi được hỏi những câu xoáy vào tim gan như thế, bần đạo thường hay có thói quen không trả lời ngay vào vấn nạn. Mà chỉ, nhè nhẹ hát tiếp những nhạc thơ.

            Nhạc thơ hôm nay, là bản du ca rất nổi tiếng với sinh hoạt nguồn sống, rất hăng say. Nhạc thơ say hăng đời sinh hoạt trên, đã đem đến cho bần đạo khí thế tâm tình của một thời, đầy nhung nhớ. Nhớ tháng ngày, say mê dựng lều tre phên vách ở Cam Lộ, Đồng Bò… vào một-chín-sáu-bẩy, sáu- tám. Những tháng ngày, chỉ lao động và lao động, không “ngồi đó nghi ngờ, khích bác, và ngó nhau”.

            Nói về chuyện ngồi đó, thì mới đây, bần đạo may mắn nhận được những lời lẽ thân thương từ một bạn vàng khác –nay đã đấng bậc Bề Trên, rất Huế mình. Anh vẫn “cứ thế… mà Cứu Thế”, ở miệt Huế. Lời lẽ hôm ấy, anh còn kèm theo bằng những ảnh hình có-bên-nhau trong tư thế đứng ngồi xen kẽ, giữa thân tăng nhà Phật, lật đật mấy ông thầy Dòng. Ảnh, là ảnh kỷ niệm về một giao tế có tình thân thày chùa ở chốn Cây Số 3 - Đa Thành, Đà lạt.

            Ảnh năm ấy, cũng chẳng nói lên được điều gì thật ghê và gớm, ngoài những tình tự chung sống rất ư hoà bình của những người anh em tuy khác đạo, khác niềm tin, nhưng cùng tâm tình. Khác phong cách. Khác cả lý tưởng để sống. Và, bạn bè lúc ấy, người tăng ni đại đức, Khất Sĩ. Kẻ, chân nâng, mới chỉ là thày Dòng rắp ranh, nơi học viện. Cũng áo đen, cũng cổ trắng. Rất thong dong.

            Vì thong dong, những học hành và học sống, nên bần đạo rất thích chí khi nghe lại lời nhạc:

 

            “Làm việc đi không lo khen chê

            làm việc đi hãy say và mê

            cứ bắt tay từ từ chúng ta giải quyết…

(Nguyễn Đức Quang – bđd)

 

            Thú thật, khi ấy bầu bạn của bần đạo cũng đã “làm-việc-không lo-khen-chê dữ ghê lắm. Làm cả trí óc, làm luôn chân tay. Cũng vì làm dữ lắm, nên “bạn bè bần đạo” vẫn đón nhận được các giòng chảy, từ nhiều phía. Cả từ những phía lạ lùng mới quen. Cả từ phía chính mạch, như Kinh Sách. Những Kinh và Sách phản ánh căn bản niềm tin, có những lời lẽ rất đáng kính như trong một tuyên ngôn của đức tin, mà nhà Đạo ta vẫn gọi là kinh “Tin Kính”. Trong kinh Tin, có câu/đoạn nói rất rõ: “Tôi tin có Hội thánh thông công”. Nói nôm na, tức là: tin vào “sự hiệp thông của các thánh”.

            Hiệp thông các thánh, có thể hiểu theo hai nghĩa: một, là hiệp thông anh em giữa các đấng bậc hiển thánh. Đây, là lối hiểu biết thông thường, rất từng chữ. Thế nhưng, lời Kinh rất thánh ở trên, có thể được hiểu, là: qui chiếu về một hiệp thông giữa những sự việc thánh thiện. Và đây, là điều được ghi rõ trong Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo, như sau:

 

“Cụm từ “Các thánh thông công” có hai nghĩa chữ nối kết nhau thật chặt chẽ: một là hiệp thông ‘nơi các sự vật thánh thiêng’ và thông hiệp ‘giữa các đấng thánh’ (sđd, đoạn #948).

Diễn nghĩa xong, Sách Giáo Lý còn ghi chép các lời lẽ đã gặp trong một số nghi tiết phụng vụ ở Giáo hội Đông Phương. Tức, Giáo hội có liên quan đến phẩm vật thánh thiêng được tặng ban cho mọi người, là Mình Thánh Chúa gửi đến với các thánh đang lên nhận.

Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo còn ghi: “Việc tuyên tín vào quà tặng rất thánh Chúa ban cho các vi hiển thánh” được các linh mục chủ tể theo nghi thức Đông Phương khi các vị này giơ cao Bánh thánh cho mọi người thấy, trước khi ban phát bánh thánh, cho họ. Giáo dân, là những người được nuôi dưỡng bằng Mình và Máu Thánh của Đức Kitô, để được lớn lên trong sự hiệp thông với Đức Chúa Thánh Thần và chuyển đến với thế giới.” (sđd #948)

 

Sự hiệp thông giữa các thánh, là hiệp thông nơi bí tích. Sách Giáo Lý do Công đồng Triđentinô ban hành vào năm 1566, đã có lời giải thích rằng các phép Bí tích, đặc biệt là Bí Tích Thanh Tẩy và Bí Tích Thánh Thể, là sự nối kết thánh thiêng kết hợp các kẻ tin vào với nhau. Và, với Đức Chúa.

Cũng nên thông cảm về các đoạn trích dẫn ở trên, rút từ Sách Giáo Lý, là có ý muốn nói rằng: “hiệp thông các thánh” (mà người xưa có thói quen gọi là “các thánh thông công”) chính là “sự kết hiệp” với các đấng thánh, còn sống hoặc đã qua đời. Xem thế, thì “hiệp thông các thánh” không chỉ giới hạn cho những ai đang còn sống, ở thế trần mà thôi. Nhưng, còn là nối kết mọi người trong ta, để ta kết hiệp cả với các vị đã ra đi trước ta, nữa.

Trước khi chết, thánh Đa Minh có nói với những người anh em lành thánh cùng Dòng, đang quây quần chung quanh ngài, để trấn an rằng: tình thương yêu ràng buộc mọi người, vẫn còn kéo dài cả sau khi ta chết. Và, thánh nhân xác nhận, là: ngài sẽ ra tay giúp đỡ/hộ phù cho mọi người, khi thánh nhân đạt quê Trời.

Cũng trong tầm nhìn như thế, ta nhận ra thêm được chỗ đứng đặc biệt của Đức Mẹ trong “hiệp thông các thánh”. Cụ thể là, năm 1974, Đức Giáo Hoàng Phaolô Đệ Lục đã có tông thư nói rõ về sự hiệp thông giữa Đức Mẹ và con cái Mẹ, trong vui buồn. Mẹ sẽ nguyện cầu phù trợ cho tất cả chúng ta, đặc biệt những người đang có khó khăn. Và, đau khổ. Khi ấy, Mẹ sẽ thông chuyển ân huệ lành thánh là sự bình an thân thương đến với các con của Mẹ, khi đau buồn. (x. thông điệp Marialis Cultus, #57)

Về với tín điều “Hiệp thông các thánh”, (hoặc “các thánh thông công”) được ghi lại trong Kinh Tin Kính, các thánh cũng nói đến ơn tha thứ mọi tội lỗi. Kinh Tin Kính, là kinh do Công Đồng Chung Constantinople sáng tác và ban hành cho mọi con dân nhà Đạo được sử dụng trong thánh lễ ngày Chúa Nhật. Thật sự, lời kinh đã nối kết việc “tha thứ mọi lỗi lầm” ta mắc phạm với bí tích thanh tẩy, nữa (x Rm 6: 4; và GLHTCG #977). 

Đọc kinh, trong tinh thần hiệp thông với các thánh, ta lại nhớ đến lời của Chúa, như sau:

 

“Anh em được hiệp thông

những đau khổ của Đức Ki-tô bao nhiêu,

anh em hãy vui mừng bấy nhiêu,

để khi vinh quang Người tỏ hiện,

anh em cùng được vui mừng hoan hỷ.”

(1P 4: 13)

           

            Và, ở đoạn Kinh Sách khác, cũng nói rõ:

 

            “Nhờ vinh quang và sức mạnh,

Thiên Chúa đã ban tặng chúng ta

những gì rất quý báu và trọng đại Người đã hứa,

để nhờ đó, anh em được thông phần bản tính Thiên Chúa, sau khi đã thoát khỏi cảnh hư đốn do dục vọng gây ra trong trần gian.”

(2P 1: 4)

 

            Xem thế thì, hiệp thông với các thánh là thông phần với bản tính Thiên Chúa, để được cứu thoát. Được cứu thoát, là được thứ tha mọi sơ hở, lỗi phạm ta đã mắc phải. Đây chính là điều mà sách giáo Lý Hội Thánh từng khẳng định, như sau:

 

“Không có lỗi phạm nào, dù nghiêm trọng cách mấy, mà Hội thánh lại không thể thứ tha. Không một ai, dù tội lỗi cách mấy đi nữa, mà lại không nắm chắc phần hy vọng được Chúa tha thứ, miễn là họ thật lòng biết sám hối. Chúa Kitô, Ngài đã chết cho mọi người, thì Ngài cũng mong ước rằng trong Hội thánh của Ngài, mọi cánh cửa của tha thứ vẫn luôn mở ra cho hết mọi người, từng quay lưng lại với tội lỗi, mình mắc phạm.” (x. GLHTCG #982).

 

            Và một khi, bầu bạn lẫn anh em mình đã như người nghệ sĩ từng đề nghị “hãy cùng nhau ta làm cho tươi mới”. Tươi mới cuộc đời. Tươi mới tình hiệp thông, thì cứ vui vẻ mà hát thêm”

 

            “Không phải là lúc ta ngồi mà cãi suông

Không tin nơi nhau thế ta định nhờ ai dẫn đầu

Thế giới ngày nay không còn ma quái

Thần tượng tàn rồi, còn anh với tôi

chúng ta đi tới bằng cái tầm thường thôi.”

(Nguyễn Đức Quang – bđd)

 

            Cứ ca, cứ hát cho tươi đời. Một đời có những thứ tha, mà không cãi. Những cãi suông. Một đời, thấy “thần tượng đã tàn, chỉ còn anh với tôi”. Anh với tôi, ta ngồi, mà chung sống. Sống thoải mái. Ngồi, kể cho nhau nghe câu chuyện đời. Chuyện của người và của mình. Kể cho mình, như sau:

 

“Cách đây ít lâu, ông bố nọ quyết rầy mắng sửa phạt cô con gái mới lên 6, đã biết phung phí tiền bạc, chẳng để tâm. Nhắc nhở nhiều lần, mà cô bé cứ vào phòng làm việc của bố, thấy có cuộn giấy kim tuyến đắt tiền, óng ánh những vàng là vàng,để gói quà.

Ông gọi con lại, bảo cho biết thời buổi gạo châu củi quế, không nên phung phí lấy giấy gói đắt tiền của bố, chỉ để gói những hộp, những thứ thật vớ vẩn, chẳng giá trị. Ông bố còn giận hơn, khi cô con gái đã không biết nghe lời ông thì chớ, lại cứ lấy giấy đẹp ra, mà gói cái hộp bằng bìa các-tông đã vuông vức, đầy hoa hoè hoa sói, rồi đặt dưới cây Noẽl.

Sáng hôm sau, mới vừa thức giấc, ông bố đã thấy cô con gái ngoắc ông lại, thầm thì đôi câu nói:

-Bố! Bố lại đây con nói, này nghe. Con biếu bố món quà này đó.

-Sao chưa đến lễ đến lạy mà con đã tặng quà, làm gì sớm vậy con?

-Quà này, con riêng tặng bố đấy. Quà vượt thời gian, không kể ngày kể tháng.

-Cảm ơn con. Bố vốn rất thích quà….

Mở quà ra xem ngay lúc được tặng, là thói quen ông vẫn làm. Lần này thấy lạ, ông gọi giật con gái lại, vừa nói vừa la mắng:

-Con à! Bình thường người ta tặng quà cho ai, bao giờ cũng phải biết chắc có gì quý báu ở trong đó mới đi tặng, chứ sao con lại tặng bố cái hộp không chẳng có gì cả? 

Cô bé nghe vậy, nhìn bố trong phút chốc, bỗng tự nhiên 2 giọt nước mắt lăn ròng xuống đôi má vẫn ửng hồng. Rồi, bé nói:

-Hộp quà con tặng đâu có trông trơn, đâu bố! Con đã thổi vào đó nhiều nụ hôn con trân trọng, nay rất đầy!

Nghe con gái nói có lý, ông bố vội vàng quỳ xuống đỡ lấy con gái, ôm chặt vào lòng, vừa khóc vừa xin lỗi người con yêu. Ông hối hận, vì đã quá bốc, đến tức giận. Ít lâu sau, có bé gái bị tai nạn xe, chết bất đắc kỳ tử. Cô không kịp giã từ người cha, hay nổi cáu. Hơi hà tiện.

Từ ngày con gái ra đi quá đột ngột, người cha đã sực tỉnh, quyết đem hộp quà rỗng đặt ở đầu giường, để nhớ đời. Nhớ rằng, trong giao tiếp với vợ, với con, hay bạn bè/người dưng, cả vào lúc khó khăn, căng thẳng dễ gắt gỏng, hãy nhớ mở hộp quà rỗng ra, mà đón nhận. Đón nhận, những nụ hôn nồng thắm, mà người thân hay các con mình đổ đầy, trong đó. Đổ đầy, là đổ toàn tình thương yêu đắt giá, mà cô con gái bé bỏng, đã trân trọng.

 

            Truyện kể, gọn nhẹ chỉ có thế. Và, người kể hôm nay muốn đính kèm thêm một đề nghị. Đề nghị, khi hiệp thông các thánh, dù vị này còn sống hay đã khuất, hãy luôn ghi nhớ và trân trọng những ý hướng tốt lành, của người khác. Ý hướng ấy, có thể vì một lý do nào đó, như bẽn lẽn không quen làm. Có thể, chỉ là giây phút quý báu, ta chợt có. Những nụ hôn thân thương/nồng thắm, ta không ngờ. Nhưng vẫn có. Có đó, như món quà tặng riêng tây. Ân cần. Trìu mến.

 

            Trần Ngọc Mười Hai

            Đôi lúc vẫn muốn nhủ mình

và nhắn bạn

            nhè nhẹ những điều như thế.

            Dù khó nhắn và nhủ.

               

       

 

 

“Cho tôi được một lần nhìn trăng soi trọn tối”

Một lần nhìn mây ngủ quên trôi
Một lần trót thương yêu ngàn lối
Niềm tin xa về tới
Ngời sáng trên lưng đồi.”

(Bảo Thu – Cho tôi được một lần)

(ĐNL 8: 18)  

            Có một lần, bần đạo được mời tham dự tiệc sinh nhật con của một thành viên ca đoàn nhà thờ, ở tỉnh lẻ. Tiệc nào, bao giờ cũng có ca, có hát. Có, đủ chuyện vui. Nhưng tiệc hốm ấy, mọi người đến chung vui bằng những bài ca rất “cây nhà lá vườn”. Cây gì lá gì, thì cứ có tiệc là có vui. Vui lần này, là người bạn ca viên hôm ấy đã dùng máy vi âm, hát lời ca trên bằng những câu thơ dí dỏm, đã được sửa:

 

            “Cho tôi mượn một ngàn,

            ngày mai đưa ngàn mốt,

            một ngàn, ngày mốt sẽ đưa thêm.

            Một ngàn, ngày kia đưa ngàn sáu,

            Rồi nâng thêm ngàn tám

            Ngày cuối, lên hai ngàn…”

 

            Thật sự, ở đời làm gì có ma nào dám trả lời/trả lãi hậu hĩ, đến như thế. Anh ta hát, là hát để mua vui chế nhạo người vay kẻ mượn, thích lấy lời. Thích làm giàu, mà thôi. Thật tình, vấn đề đặt ra hôm nay, là: làm giàu làm khó, có nhiều tiền của, phải chăng là điều tốt, khiến ta vui? Và, anh bạn nói ở trên đã cố hát chỉ để nhắn nhủ người thích chơi lôtô/số đề, những xổ số, rằng: trúng số - số đề - độc đắc, như thế có vui không? Tiền có, để làm gì? Vui tươi cuộc đời, cần chăng nhiều đến thế? Nhiều tiền. Nhiều của. Nhiều đa đoan?!?

            Sống giàu, sống dư dật vẫn đem đến cho ta, nhiều vấn đề. Vấn đề thấy rõ nhất, là lời nhắc trong Kinh Sách:

 

            “Anh chị em hãy nhớ Đức Chúa,

Thiên Chúa của anh chị em,

vì Người ban cho anh chị em năng lực

tạo sự giàu có,

để Người giữ vững giao ước

đã thề với cha ông anh chị em,

như anh chị em thấy hôm nay.

            (ĐNL 8: 18)  

 

            Thấy, thì có lẽ ai cũng đều đã thấy. Duy có điều, là ít ai chịu hiểu và nhớ điều mình thấy. Và, cả điều mình được nhắc nhở, để dễ thấy. Phần đông những người ăn nên làm ra, thường hay nghĩ: chỉ nhờ tài năng mình sẵn có, nên mới có. Mới giàu. Và, một khi mình đã có, hà tất khó mà nghèo. Dù, nghèo đó là nghèo gì, kiểu gì đi nữa.

            Mặt khác, sống giàu có hoặc của dư của để, còn tạo nên một số chuyện thật nhiêu khê. Khó nhiều bề. Nhiêu khê, là tạo nhiều khúc mắc cho xã hội, môi trường. Cho cuộc sống, của chính mình. Sống giàu có, còn kéo theo cả một vấn đề dễ bề thấy, nhất là: người người vẫn hay tự hỏi về lối sống của chính mình. Sống, cho ra sống. Sống tốt lành. Công bằng. Có gây ảnh hưởng gì đến người khác? Nhất là, người nhà Đạo?

            Với nhà Đạo, là những người vốn từng nghe và thấy Thày Chí Ái chỉ quan tâm đến người thiếu thốn, nghèo hèn cả về của cải lẫn tinh thần. Không biết đến ngày mai. Thày Chí Ái, vẫn bận tâm chữa lành những người đui mù, què quặt. Và phong hủi. Ngài quan tâm, để con dân của Ngài nhìn đó mà bắt chước. Bắt chước Ngài, trong giùm giúp người cận lân, lẫn cận thân. Giùm giúp hết mọi người. Mọi sự.

            Những ai nghe biết Chúa quan tâm nhiều đến loài người, sẽ nhận ra được chuyện thiết yếu, cho đời mình. Cần, đem niềm an vui đến với người khác. Không phải, chỉ mỗi nỗi niềm an vui có nhiều tiền, nhiều của. Dư dật. Mà, là an vui trong yêu thương. Trong ân cần, giùm giúp những ai đang có nhu cầu cấp bách, rất tuyệt vọng. Và, trở ngại lớn, đối với người nhiều tiền/nhiều của, là: họ khó mà thương yêu người nào khác, ngoài chính mình. Bởi, khi đã có quá nhiều tiền/nhiều của, thì khó mà đặt mình vào địa vị của người túng bấn, thiếu thốn. Khó, mà có được sự cảm thông. Vì cứ mải những thu và nhập. Thu nhập nhiều, mà chẳng muốn cho đi. Dù, điều mình cho, cũng chẳng làm giảm sút số lượng của cải mình dư dật.

Hôm nay, vẫn còn đó, nỗi niềm thôi thúc của lời Kinh Thư rất thánh, như:

 

            “Người giàu có

khó mà vào được Nước Trời”

            (Mc 10: 1/ Mt 19: 23/ Lc 18: 24 -27)

 

            Nhận định này, Chúa muốn nhắn nhủ người nghe, rằng: sống giàu có/dư dật, có thể làm cho ta quên đi nhiều vấn nạn gửi đến với đời mình. Những vấn nạn, như: cuộc sống của người giàu đưa dẫn họ đi về đâu? Khi giàu, ta còn chú ý đến các sự kiện xảy đến trong đời mình? Sống giàu, sống sang vẫn làm cho người nhiều tiền của, càng phải nghĩ cách để sẽ không mất đi, dù một đồng. Một lối sống, tương tự truyện vui, ở bên dưới:

 

“Một thanh niên thuộc tầm cỡ “đại gia” bên nhà, bước vào ngân hàng nọ ở Nữu Ước. Anh yêu cầu được tiếp chuyện với nhân viên phụ trách mục vay mượn. Thoạt khi gặp, anh cho nhân viên biết: anh có việc phải đi xa chừng 2 tuần, cần vay một ít, chừng 5 ngàn đô. Không nhiều. Nhân viên nghe được, bèn ứng đáp:

-Thưa quý khách, chính sách của ngân hàng chúng tôi là: vay tiền, phải cầm thế bằng vật dụng trị giá tương đương hoặc gần bằng tiền mình vay.

-Tôi sẽ đưa anh xâu chìa khoá chiếc Ferrari tôi đang sử dụng, thế được không? 

-Dạ bấy nhiêu là đủ. Bởi, xe này chúng tôi đánh giá ít nhất chừng $250,000 đô.

Đồng nghiệp ngồi cạnh, nghe chuyện thế chấp chiếc Farrari chỉ để vay mượn có $5000, thật rất lạ. Bèn cười mỉm. Cười chưa kịp, đã thấy nhân viên hỏi khách chỗ để xe:

-Thế xe của quý khách ở đâu, để tôi cho người đem cất giữ, như đồ thế chấp?

Hai người làm thủ tục nhanh gọn, rồi theo nhau đi lấy xe, đem cất giữ.

Hai tuần sau, “đại gia” trẻ quay trở lại ngân hàng để nhận xe. Mọi thủ tục đều nhanh lẹ. Tiền lãi cho vay, mất có $15 đô, rất rẻ. Nhậm lẹ. Rất chuyên nghiệp. Tuy nhiên, một đồng nghiệp trong ngân hàng bỗng thấy thắc mắc, bèn đến hỏi khách:

-Thưa ông, chúng tôi rất vui vì được phục vụ khách quý. Trong thời gian khách đi xa, chúng tôi kiểm tra thấy khách là “đại gia” thứ thiệt, vốn cả bạc triệu. Nhưng xin hỏi, sao khách lại chỉ mượn có $5000 và chịu thế chấp giá cả gấp 50 lần cao như thế?

-Chuyện nhỏ, cô ơi. Ngược lại, tôi xin hỏi: ở cái thành phố

lớn như Nữu Ước này, có chỗ nào đậu xe trị giá cả trăm ngàn, vừa an toàn lại rẻ đến như thế, cơ chứ? Để rồi khi về lại, biết chắc là xe của mình vẫn nguyên vẹn, chẳng hư hao? Con người ta hơn nhau chỉ một cái đầu, thôi cô!

 

            Sống và xử sự, theo kiểu “đại gia”/nhà giàu, kéo theo nhiều thứ so và sánh. So, với cuộc sống của người ở nước đang mở mang. Sánh, với những “vị” nhiều tiền/nhiều của, hơn cả mình. So và sánh, sẽ thấy nhiều bức xúc, rất hỏi han. Hỏi là hỏi, rằng: công bình chăng, khi người thì dư thừa, đồ tiêu dùng không hết, còn vứt bỏ. Kẻ, thì thiếu thốn, chỉ mỗi bát cơm đạm bạc, đã thấy khó.

            Ở trời Tây, chỉ cần dạo quanh sông lạch/cận duyên, ai cũng thấy bồng bềnh đủ mọi thứ, do con người vứt bỏ. Đồ vứt bỏ, có thể nuôi sống đoàn quân nghèo, cả tuần lễ. Ở trời Tây, bây giờ, lại đang có thêm nhiều mối ưu tư về “khí hậu đổi thay”. Ưu tư, mà các “đại gia” nhà ta, ít đặt thành vấn đề. Vẫn cứ lê thê đua đòi sắm sửa, đủ mọi thứ vật dụng rất đắt tiền. Những là, truyền hình “plasma”, “di động” đắt giá. Tất cả, đều đã ảnh hưởng lên nguồn năng lượng, hâm nóng môi trường sống, cả địa cầu.

            Nguy hơn cả, vẫn là chuyện: ngày hôm nay, người người không còn bức xúc/lo âu về những gì Chúa đã nói. Chúa nói, trong Thánh Kinh. Chúa nói, qua cuộc sống. Nơi mọi người. Chí ít, là lối sống của người giàu sang, hay hèn kém. Và điều Chúa muốn nói, là: khi sống dư dả và thừa mứa, ta ra như chẳng còn để tâm đến những gì xảy đến, với mọi người. Chẳng đoái hoài, người quanh ta. Cũng cần sống. 

            Kinh Sách kể lại, truyện người giàu lo chất chứa gạo thóc, bạc tiền vào kho lẫm. Họ hoạch định,   để nhỡ về sau, nhằm khi đói kém còn biết mà xoay sở. Nhưng, cái dở của người nhà giầu, là quên rằng: ngay hôm ấy, họ có thể ra đi bất cứ lúc nào, mà chẳng đem theo được gì về thế giới bên kia.

            Trong Kinh thánh, những người sống bên lề xã hội thường đề cao cảnh giác, biết vâng nghe điều Chúa dạy. Họ cởi mở, đón nhận tình thương của Đức Chúa. Họ vốn đã nghèo,đâu còn gì để lo mất. Họ, là những người biết nghe theo Lời. Đem bán đi tất cả để theo Chúa. Trên mọi nẻo đường, gần xa. Và bởi, không còn gì để có thể chất chứa vào kho lẫm, nên họ đã tùy thuộc vào Đức Chúa, nhiều hơn. Những người như thế, thấy rằng mình nên để tâm đến sự sống, và nỗi chết. Và từ đó, dễ nhận đón tình yêu Chúa, hiến tặng họ. Dễ thích nghi với cách sống rất mới, họ thật sự được Chúa dẫn dắt.

            Cùng với thánh Phao-lô, các nhà thuyết giảng mọi thời vẫn khuyên nhủ người có của ăn/của để, hãy thân tặng vài phần trăm thặng dư ấy, cho người nghèo. Là, những người đang thật sự cần đến. Giờ đây, người ta không còn coi chuyện thiếu thốn nghèo hèn như hiện tượng tự nhiên xảy đến. Mà là, do con nguời ích kỷ, mà ra. Do những người như “đại gia” chỉ biết ăn chơi phè phỡn. Chỉ nghĩ đến mình mình. Sống chết mặc bay. Tiền thày bỏ túi. Mà, túi của họ là túi ba gang, không bao giờ cạn.

            Hệt như thế, người giàu có/dư dật, cũng chẳng nhưng không, trời đem đến. Ở Cựu Ước, các tiên tri đã nói thay cho Chúa. Các ngài hứa, Thiên Chúa sẽ đổ đầy những sữa và mật ong. Nhưng, đổ là đổ, cho hết mọi người, chứ không chỉ rơi chảy vào túi ”ba gang” của đại gia/nhà giàu. Xem như thế, người giàu cũng như người thường bậc trung, ta vẫn có thể hợp tác để làm sao cho hết mọi người đều có của ăn/cái mặc, cùng đồng bàn. Không còn đói. Không lạnh căm, những rét mướt.

            Hôm nay đây, ta có thể cùng với Hội thánh, làm công việc thiện nguyện để người người hưởng mọi ân sủng, những sữa và mật ong, do các đại gia/người công chính, đến trao tặng. Cả đến, người giàu có/dư dả, những Bill và Melinda Gates, đã biết tìm biết giúp những người giàu có/dư dả và nghèo hèn, biết nhìn vào chính mình. Nhìn về thế giới chung quanh. Để nhận ra, người nghèo khó tuyệt vọng, và tất cả sẽ hợp quần thay đổi cuộc sống. Môi trường sống. Thay đổi, để: người người sẽ không còn ham chuộng hàng hiệu, xe mới. Sẽ không chỉ lo nghỉ ngơi hưởng thụ, nữa. Nhưng, đã tìm đến những gì sâu sắc. Giá trị. Để rồi, cả và thế giới sẽ sống trong vui tươi. Vui rồi sẽ hát những câu ca, khá giá trị:

 

            “Cho tôi được một lần

nhìn quê hương đợi sáng

            Một lần, nhân nghĩa sống lên ngôi

            Người người, cùng chung vui một lối

            Đời thôi không lừa dối

Vì đã yêu thương rồi.” (Bảo Thu – bđd)

 

            Yêu thương và giùm giúp, như Lời Thày vẫn bảo ban:

 

            “Hãy về mà bán đi mọi của cải

            rồi đến theo Tôi.”

                                    (Mt 19: 21)

 

            Theo tôi hay theo Ngài, là theo một đường lối rất êm ả. Không còn những ưu tu, u uất. Nhưng, vẫn thoải mái. Nhẹ nhàng - an hạ, như lời minh hoạ, ở bên dưới:

 

“Một người giàu,đang ở vào phần cuối cuộc đời, rất đau yếu. Ông lo ngại, về những gì sắp xảy tới. Về cõi đời, sau khi chết, bèn gạn hỏi vị thày thuốc lo cho ông:

-Thưa bác sĩ, tôi thật tình lo ngại về những tháng ngày sau khi chết. Xin cho biết, có những gì, ở bên kia?

-Quả thật, tôi chẳng biết!

-Người có Đạo như ông mà cũng nói là không biết những gì xảy ra bên kia thế giới nữa sao?

Vị bác sĩ, cầm quả nắm cánh cửa ra vào, phía bên kia khung cửa, có tiếng loạng xoạng như cào gãi, có tiếng rú. Một lúc sau, khi cánh cửa vừa mở, có chú chó con chồm tới nhảy vào lòng vị bác sĩ ra điều thú vị, hạnh phúc lắm. Quay về phía bệnh nhân, bác sĩ hỏi:

-Ông có nhận xét về con chó của tôi không? Nó chưa vào phòng này bao giờ cả. Nó chẳng hề biết có gì ở bên trong, sau cánh cửa. Nó chẳng biết có gì, ngoài chuyện biết chắc rằng chủ của nó đang có mặt ở đây, ở đó. Và khi cảnh cửa mở vào thế giới bên trong, hoặc bên ngoài, là nó nhảy xổ vào người chủ, chẳng hãi sợ. Tôi biết rất ít những gì xảy đến sau khi chết. Nhưng tôi biết chắc một điều… là: Chủ Thày của tôi đang ở đó. Như thế cũng đủ.”

 

            Vâng. Như thế cũng đủ. Quá đủ, là đằng khác. Bởi chỉ mỗi niềm tin, đã quá đủ  cho ta. Cho mọi người. Chẳng cần hát thêm câu:

 

            “Xin cho tôi được một lần

            nhìn đàn chim trắng bay

            dập dìu qua đó đây

            ngày đó được nghe súng im hơi

            đời thôi oán thôi hờn

            mến thương cùng kiếp người.” (Bảo Thu – bđd)

 

            Thật ra thì súng đã im hơi, từ lâu. Nhưng, đời thôi oán thôi hờn, vẫn chưa thấy. Chưa thấy được, là bởi tôi và bạn, có thể là ta còn quá nhiều ưu tư, với bận rộn. Bận và ưu, về những tham sân si, mà chưa mở lòng ra đủ để tìm đến nơi Thày Chí Thánh, Đấng ủi an.

 

            Trần Ngọc Mười Hai

            Vẫn muốn mình

            Và bạn mình

            Thôi không còn ưu tư.

            Buồn chán.    

 

 

 

 

    

                                   

               


                         

          

“Mẹ ngồi trăm năm như thân tượng buồn để lại quê hương”

(Ga 19: 27)

                       

            Có thể bảo: Mẹ vẫn ngồi đó, nỗi buồn. Mẹ đây, bạn chắc sẽ hiểu là Mẹ Việt Nam hiền, rất đáng yêu. Còn tôi, tôi chắc sẽ nghĩ: là Đức Maria, Mẹ của Chúa. Mẹ Việt Nam hay Mẹ Đức Chúa cũng vẫn còn đó, nỗi buồn. Nỗi buồn trăm năm. Nỗi buồn ngàn năm. Như nhiều người nhận định.

            Nỗi buồn nơi Mẹ Việt Nam hay Mẹ của Chúa vẫn là nỗi buồn muôn thuở. Mẹ buồn chẳng phải vì mẹ nói mà đàn con chẳng buồn nghe. Mẹ buồn, có lẽ, vì Mẹ vẫn muốn nghe, mà đàn con chẳng buồn nói. Chẳng biết nói. Dù, lời nói ấy có là lời kinh chiều hôm, ban sớm. Hay, chỉ là lời than vãn, với thở than.

            Than thở hay than vãn, vẫn là chuyện của đàn con nhớ mẹ. Thương Mẹ. Vì thương Mẹ, nên mới than. Vì nhớ Mẹ, nên mới nói. Nói, hệt như kể lể. Kể lể, cũng hệt như nói chuyện. Những chuyện kể lể, như câu truyện “chiếc ghế trống của Mẹ”, ngay bên dưới:

 

“Bữa nọ, người con độc nhất trong nhà vừa phát hiện ra chuyện khó hiểu xảy đến với mẹ mình. Cô bèn ra nhà thờ, vời một thừa tác viên đến gần nhờ đến xem mẹ mình có khùng điên, hay không. Thừa tác viên nhận lời. Đến nhà, thấy mẹ của cô cứ gục đầu vào gối, chẳng nói lấy một câu. Nhưng, có chiếc ghé bành đong đưa, ở cạnh giường. Thừa tác viên lên tiếng hỏi:

-Chào bác, có phải bác đang chờ con đến thăm, không?

-Không. Tôi chẳng chờ ai hết. Mà, anh là ai cơ chứ?

-Con làm việc ở nhà thờ, hôm nay thấy bác không được khoẻ, nên mới đến thăm. Thế, bác để chiếc ghế ở cạnh đây là có ý chờ ai vậy?

Ghế ấy hả? Có chờ ai đâu! Này, cậu xem con gái tôi có ở quanh đây không? Nếu không, phiền cậu đóng cửa lại, tôi kể cậu nghe câu chuyện bí mật tôi chưa nói với ai hết. Con  tôi, cũng không.

Thú thật với cậu, là: suốt đời, tôi chẳng biết cầu nguyện sao cho đúng cách, hết đó. Hồi xưa, tôi đều đi lễ mỗi tuần, vẫn nghe ông cha già giảng giải, nhưng nghe tại này lọt tai kia, lễ xong là quên tiệt. Bởi thế, tôi đành bỏ, không tìm cách cầu nguyện sao cho hay cho dễ, nữa. Nhưng, cách đây bốn năm vào ngày đẹp trời, người bạn rất thân thuộc giới tu xuất biết tánh tôi, mới đến bày cho tôi biết cách cầu nguyện theo kiểu tân kỳ. Cô ta nói: “Cầu nguyện đơn giản lắm, bồ ạ. Cũng giống như mình đang tiếp chuyện với người nào đó, thôi.” Thế là, cô ta bảo tôi đi lấy cái ghế để trống, thành ghế quay về phía mình, như có người bạn đang ngồi nghe mình kể chuyện. Và, cô bảo: “Bồ cứ dùng đức tin mà tưởng tượng là có Chúa ngồi ở đó –mà cũng đúng thôi, vì Chúa vẫn nói: Thầy ở với các con mọi ngày cho đến tận thế, mà! Nhớ nhé. Hãy cứ tìm lúc nào nhà không có người, là bồ quay về phía ghế trông mà nói chuyện như đang hầu chuyện với Chúa.Đó là cầu nguyện cách hay nhất…” Thế là, tôi áp dụng ngay. Mỗi ngày làm thế chừng một hai tiếng. Tôi cũng khôn, không bao giờ để cho con gái biết, kẻo nó tưởng tôi khùng đem gửi về nông trại của cô em, thì có mà chết.

Thừa tác viên nghe chuyện, rất cảm động. Ngồi lại, cầu nguyện như thế với bà một hồi. Rồi, bôi dầu vào đầu bà và trở về cất đồ ở nhà thờ, hẹn sẽ trở lại. Hai đêm sau, cô con gái gọi điện cho thừa tác viên, cho biết mẹ mình đã về nhà Cha, ngay hồi chiều. Nghe gọi, thừa tác viên bèn hỏi:

-Cụ Bà ra đi nhẹ nhàng và tốt lành chứ?                 

-Vâng. Nhưng trước đó hai tiếng, tôi sắp đi, thì bà gọi phắt lại, ôm và hôn tôi vào cổ, còn nói: Mẹ thương con lắm. Mẹ sẽ trông chừng cho con…  Và, trên đường về từ buổi chợ chiều, tôi vào phòng thấy cụ đã đi. Nhưng có điều lạ, là: cụ đi êm ả trong tư thế đầu gục vào thành ghế để ở cạnh giường. Nét mặt rất tươi… Hôm rồi, có chuyện gì xảy ra giữa bác và mẹ tôi không, thế?

Thừa tác viên vội chùi giọt nước mắt ngà đang lăn trên má, vội bảo:

-Bác nghĩ mai kia có ra đi, bác cũng chỉ mong được đi nhẹ nhàng như thế…

 

            Câu chuyện “Mẹ vẫn ngồi đó, nỗi buồn”, ở đây nghe qua cứ tưởng chỉ là truyện kể, thời xa xưa. Không mấy xác thực. Vâng. Cũng có thể, là như thế. Nhưng, đã là “còn đó nỗi buồn của Mẹ”, thì có lẽ câu truyện dưới đây sẽ xác đáng và đích thực hơn chăng? Cũng là hỏi – đáp, khá xác thực. Ở đời thường. Đời thường nhật trên báo chí, rất nhật trình:

 

“Là cựu nữ tu chuyên chân chất nguyện cầu với Đức Mẹ, nhiều lúc tôi vẫn thấy khó khi lần chuỗi Mân Côi. Đặc biệt, là lúc suy ngắm các mầu nhiệm Vui, Thương, Mừng, Sáng vào nhiều buổi. Mới đây, đọc hạnh thánh Tê-rê-xa hài Đồng, thấy Chị công nhận là ngắm tràng hạt Mân Côi còn khó hơn mặc áo nhặm, hành tội. Vì như Chị nói: mỗi lần suy ngắm các mầu nhiệm khi lần chuỗi, Chị cầm lòng trí không đặng…

Xin linh mục ban cho lời khuyên giúp ích cho bản thân và nhiều ngưòi đang thắc mắc.

Ký: Một người ẩn danh.        

 

            “Nỗi buồn còn đó” ở trên, đã được gửi đến tuần báo Công Giáo ở Sydney hôm 09/03/2008, và được đáp ứng bằng lời giải mã như sau:

           

“Thắc mắc của chị về những khó khăn khi suy ngắm về chuỗi Mân Côi, có lẽ cũng là nỗi ưu tư của nhiều ngưòi trong nhóm “Đọc kinh Tôn Vương” hoặc như vị tiến sĩ của Hội thánh là thánh Tê-re-xa Hài Đồng, từng gặp.Âu đó là kinh nghiệm của nhiều ngưòi.

Thật ra, chúng ta đều có vấn đề khi tập trung đầu óc vào việc nguyện cầu. Lo ra – chia trí, là mẫu số chung ta vẫn gặp trong hành trình cầu nguyện. Sử hạnh các thánh có kể câu truyện thánh Bê-na-đô một ngày kia cưỡi ngựa bay về thăm một nông trại nhỏ. Thánh nhân đến để bàn luận với người bạn đang làm trại chủ, vể chuyện nguyện cầu sao cho tốt. Người bạn trại chủ mới nói với thánh nhân, là anh chẳng bao giờ bị phân tâm hay chia trí, lúc nguyện cầu. Thánh nhân rất đỗi ngạc nhiên, bèn đề nghị đánh cuộc vời người bạn nhà nông, rằng: nếu anh ta đọc chỉ một Kinh Lạy Cha thôi, mà không bị lo ra – chia trí, thánh nhân sẽ tặng ngay ngựa con đang cỡi. Anh bạn nông gia nhận lời ngay tức khắc, vào cuộc bằng một khởi xướng, rất oang oang. Nhưng chỉ vài câu sau đó, anh đã quay về phía người bạn thánh, hỏi vặn: “Bạn có ý định cho tớ cả bộ yên cương và giây đai, nữa chứ hả?”…

Ở đây, có lẽ cũng nên nhắc lời của thánh An Phong, vị thánh được Giáo hội tăng phong tước hiệu “tiến sĩ của nguyện cầu”, đã bình luận về chuyện lo ra – chia trí, trong sách thánh nhân viết có tựa đề “Luận thuyết về Nguyện cầu”, như sau:  “Nếu quý vị thấy lo ra chia trí khi nguyện cầu, ngay lời cầu ấy sẽ làm cho ác thần/sự dữ phải điên tiết lên ghê lắm.”

Thánh Louis thành Monfort, trong cuốn “Bí Mật Chuỗi Mân Côi”,cũng căn dặn ta đừng quá câu chấp về chuyện chia trí hoặc có được sự ủi an linh đạo, như sau: “Mọi người chớ nên nhìn vào lòng sùng kính bén nhạy và sự ủi an thiêng liêng linh đạo khi đọc kinh lần chuỗi Mân Côi; cũng đừng bỏ mất thói quen tốt lành này chỉ vì đầu óc ngập tràn những lo ra và chia trí đếm không xuể; hoặc, hễ thấy có cảm giác chán ngấy nơi tâm hồn cùng những mệt mỏi liên tu bất tận dồn cục nơi thân xác. Tất cả những kinh nghiệm ấy, kể cả tâm tình được ủi an, luống những thở dài ngao ngán, về di chuyển khó khăn và cả đến không tập trung tư tưởng như phải có, chỉ cần niềm tin và lòng muốn tốt lành là đủ. “Chỉ mỗi niềm tin tưởng là cốt thiết, mà thôi.”

Tôi thiểt nghĩ, Chúa không nhìn vào tâm trạng hài lòng ta cảm thấy nhưng đúng hơn, Ngài chỉ quan tâm đến cố gắng ta khắc phục và đưa vào nguyện cầu , cả khi ta chẳng thấy có điều gì ích lợi tìm được từ những cố gắng quyết cầu nguyện, đi nữa. Bằng vào cố gắng phấn đấu tiếp tục nguyện cầu thôi cũng đã xứng đáng được tuyên dương rồi. Ngay cả khi ta thấy mệt mỏi hoặc lo ra chia trí mà vẫn cố gắng còn tốt hơn là thấy mình cầu nguyện quá dễ dàng cũng như đã thấy hài lòng khích lệ về mặt thiêng liêng sùng kính.

Để có được phương cách cụ thể và đặc biệt khi suy gẫm các mầu nhiệm lúc lần chuỗi Mân Côi, thiết tưởng cũng nên để tâm đến các đề nghị thiết thực của thánh Josemaria Escriva trong cuốn sách thánh nhân viết về Lần Chuỗi Thánh, như sau: “Hãy tạm nghỉ một chốc chừng vài giây – 3 hay 4 giây là được- để suy tưởng trong thinh lặng về mỗi mầu nhiệm của chuỗi Mân Côi trước khi ta đọc kinh Lạy Cha và các kinh Kính Mừng trong chục kinh ấy. Tôi dám chắc lối thực hành này sẽ làm gia tăng lviệc suy tư và tạo hoa quả cho công việc nguyện cầu của người đọc kinh.”

 

Càng có lợi hơn nữa, trong giây phút ngừng đọc này, ta chú tâm đến một vài khía cạnh của mầu nhiệm mà ta muốn cầu, ngõ hầu lời cầu của ta sẽ đặc biệt, rất thực tiễn.

Tỉ như: khi suy gẫm về mầu nhiệm thứ nhất trong Năm Sự Vui, nơi trình thuật có đoạn thiên thần loan báo tin vui cho Đức Mẹ, ta có thể suy nghĩ về lòng hăng say tận tâm tận tình của thánh thiên thần , hoặc tính ngoan hiền chiều theo thánh ý của Thiên Chúa, hoặc đặc tính khiết tịnh, hoặc tính Vô Nhiễm nơi Đức Maria… Tất cả các mẩu suy tư ấy đều qui về cảnh trí diễn ra sự kiện Loan báo Tin Vui và tâm tình Mẹ đáp ứng lại lời thông chuyển của thiên thần Chúa.

Nên nhớ rằng, suy gẫm về các mầu nhiệm diễn ra nơi chuỗi Mân Côi không chỉ là phương cách độc nhất giúp ta làm việc này, nhưng ta cũng có thể suy về những lời lẽ trong câu kinh, nữa. Chẳng hạn, trong kinh Kính Mừng ta có thể tập trung vào cụm từ “Đầy ơn phúc”, hoặc “Bà có phúc hơn mọi người nữ”,hoặc  Giê-su con lòng Bà”, hoặc “ Thánh Ma-ri-a, Đức Mẹ Đức Chúa trời”, hoặc cả đến câu “Cầu cho chúng tôi là kẻ có tội”, vv.

Thay vì đọc nhiều kinh, ta có thể đọc một đoạn ngắn trong Tin Mừng có liên quan đến mỗi mầu nhiệm và suy niệm về ý nghĩa của đoạn Sách Thánh vừa đọc, cũng tốt. Hoặc giả, ta cũng có thể cầu nguyện về các dự tính ta sắp thực hiện khi liên tưởng đến mầu nhiệm vừa đọc. Nói tóm, có nhiều cách giúp ta lần chuỗi Mân Côi, chứ không chỉ đọc và đọc.

Điều quan trọng hơn cả, là đừng bỏ cuộc không suy niệm nữa chỉ vì ta bị lo ra chia trí khi đọc kinh. Hết như Chân Phước Giáo Hoàng Gio-an XXIII đã có lần nói: Điều tệ hại về chuỗi Mân Côi là không ai còn lần chuỗi này nữa.” (Lm John Flader, the Catholic Weekly)

 

 

            Vâng. Đúng thế. Cũng có thể nói theo và nói dựa với lời của Đức Giáo Hoàng, Mẹ “ngồi trăm năm như thân tượng buồn”, chẳng thấy ai về cùng Mẹ thân thương mà thưa gửi. Mẹ thân thương buồn, chẳng phải vì Mẹ đã thành “tượng trăm năm” ngồi đó, nỗi buồn. Nhưng, buồn một nỗi, còn đó tâm tình và tư duy của đám con gần xa, mải phân tâm chia trí, chỉ lo chuyện một năm. Chuyện một ngày. Và một giây. Những giây phút như tượng, có tâm phân buồn. Những chia trí, lo ra/lo vào chuyện trần tục. rất nhân gian.

 

 

            Trần Ngọc Mười Hai

không ngại nguyện cầu

những sự mân Côi

mà chỉ ngại Mẹ buồn

thành tượng trăm năm.  

 

 

 

                                                               

                       



               

              

            

                                        

         


”Em ơi nhớ thương, thương nhớ cả đêm”

Làm sao quên được phút giây êm đềm
Chờ mong sao cho trời sáng
Đúng giờ mình hẹn hò
Là đời quên hết sầu lo

(Lam Phương – Em là tất cả)

 

            Trong quan hệ đời thường, có nhiều lúc bần đạo mắc phải cái cố tật, là: vẫn muốn nhắn bạn bè/người dưng: hãy cứ cầu và cứ mong. Cầu mong cho mình/cho người được nhiều ân huệ lành thánh, từ nơi Chúa. Cầu mong sao, mau qua mọi nỗi đau/niềm nhớ, rất khó quên.

            Như câu hát ở trên, cầu và mong ở đời thường, còn là:

                                   

            “Vì lời giã từ lúc anh ra về

            Rằng mai đây anh lại thăm

            Ước nguyện trọn một đời

            Là mình luôn luôn có đôi.” (Lam Phương – bđd)

 

Thế nhưng, cầu và mong ở một số người nhà Đạo, thường mang ý nghĩa như thế này:

 

-Cầu mong bạn tìm được sự thanh thản và bình yên trong thế giới có nhiều điều bạn chưa hiểu được…

-Cầu mong cho nỗi đau bạn chịu, cũng như xung đột bạn từng trải, sẽ cho bạn sức mạnh để vươn lên mà giáp mặt thử thách với lòng dũng cảm, lạc quan.

-Cầu mong bạn luôn biết rằng có ai đó vẫn hiểu và yêu bạn. Và, người ấy luôn ở cạnh bạn cả vào lúc bạn thấy cô đơn nhất.

-Cầu mong bạn khám phá ra sự sâu sắc và sự tốt bụng của người khác để tin vào cuộc sống bình yên. Một cử chỉ làm yên lòng, một nụ cười nồng ấm đem cho bạn, mỗi ngày. Hãy nhớ: mặt trời luôn chiếu sáng muôn vật, dù cho cơn bão có kéo dài đến tận nơi đâu.

-Cầu mong bạn tin tưởng rằng: người thật lòng yêu bạn là người không ở gần, nhưng bạn vẫn cảm nhận được lòng thương yêu và sự quan tâm từ nơi họ.

-Cầu mong bạn vẫn nhớ: trong cuộc sống đời thường, có va chạm và khổ đau bạn đã gặp, vẫn ít hơn so với mơ ước và nỗi niềm hạnh phúc, bạn đang có.

-Cầu mong những gì bạn thấy có thiếu sót trong hiện tại, sẽ trở thành thế mạnh của bạn, trong tương lai.

-Cầu mong cho bạn nhìn thấy tương lai của mình tràn đầy nhiều hứa hẹn và có khả năng trở thành hiện thực.

-Cầu mong bạn có sức để tự quyết định cho mình trong hoàn cảnh gặp chuyện xấu xa tệ hại mà không bị ai phê phán về kết quả, đã diễn ra.

-Cầu mong bạn luôn trao cho người khác món quà bạn nhận được từ ai đó, như chứng tích của lòng thân thương, người người gửi đến.

Và cuối hết, cũng cầu mong cho bạn thấy mình luôn được mọi người thương yêu.

 

            Thật ra, theo triết lý/thần học nhà Đạo, mọi thứ trên đời ta đều đã và đang có như lời cầu và mong ở trên. Đây, ta có tình yêu thương cứu độ rất sung mãn. Vì, Đức Kitô đã chết và sống lại, để cứu ta. Ngài cứu, cho  ta ra khỏi mọi tình huống đầy tội vạ. Ngài cứu, để ta được sống trong hy vọng. Bởi, sự thường thì chỉ cần cầu và mong, điều gì lâu nay ta chưa có, mà thôi. Đằng này, ta đã có đủ mọi thứ nơi gian trần. Có sự sống. Có tương lai rực sáng, chốn Nước Trời.

            Đi vào vườn hoa Kinh Thánh, ta nhận ra được: điều này quả có thật. Này, Chúa há chẳng bảo:

 

            “Vì tất cả những thứ đó,

dân ngoại trên thế gian vẫn tìm kiếm;

nhưng Cha của anh em

thừa biết anh em cần những thứ đó.”

(Lc 12: 30)

           

            Rõ ràng là như thế. Dân con nhà Đạo chúng ta có được niềm xác tín, tin chắc:

                                   

            Thiên Chúa yêu thế gian

đến nỗi đã ban Con Một,

để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết,

nhưng được sống muôn đời.

            (Ga 3 : 16)

            Sống muôn đời, là cuộc sống có tất cả. Sống trọn vẹn. Sống, không cần có thêm gì nữa. Tức, sống không chỉ để những cầu và mong, nên chắc bạn và tôi không có những tê tái, với phân trần:

  

            Sao em ngồi lặng lẽ ..

để lòng anh tái tê

Hãy trả lời anh đi

Nghĩ gì mà đợi chờ

Nhiều lần chung ước mơ

Bên nhau ta cùng hứa ... quên đi chuyện năm xưa

Em biết cho chăng em thương em, nhớ em. Tất cả là em!

(Lam Phương – bđd)

 

            Thay vào đó, hãy tâm niệm như lời thơ thương mến, của ngôn sứ:

 

Đây là lời ĐỨC CHÚA loan truyền cho khắp cùng cõi đất:

Hãy nói với thiếu nữ Xi-on: Kìa ơn cứu độ ngươi đang tới.

Kìa phần thưởng của Người theo sát một bên,

và thành tích đi ngay trước mặt.

(Is 62: 11)

 

            Nói cho cùng, có cầu và mong, thì cũng chỉ là trông mong nguyện cầu Chúa Cứu Độ sẽ quang lâm, như Phao-lô thánh nhân hơn một lần xác định:

 

Sở dĩ như vậy,

là vì chúng ta trông chờ ngày hồng phúc

vẫn hằng mong,

ngày Đức Ki-tô Giê-su là Thiên Chúa vĩ đại

và là Đấng cứu độ chúng ta,

hiện đến trong vinh quang.

(Tt 2: 13)

 

            Thành thử, ngay đến nhà nghệ sĩ cũng từng quan niệm:

 

            Còn gì đẹp bằng

lúc ta xum vầy

cầu mong sao duyên đẹp đôi

ước nguyện cả cuộc đời
là được mãi mãi gần em !

(Lam Phương – bđd)

 

            Và niềm vui mừng đích thực, như Thầy nói:

 

Anh em cũng vậy,

bây giờ anh em lo buồn,

nhưng Thầy sẽ gặp lại anh em,

lòng anh em sẽ vui mừng;

và niềm vui của anh em,

không ai lấy mất được.                      

            (Ga 16: 22)

 

Cuối cùng, cầu mong hay lo buồn, không chỉ là tâm tình của dân thường ở huyện. Dù huyện đó, có là huyện nhân gian hay trần thế, ta vẫn cứ mong và cầu cho niềm vui “không ai lấy mất”, được Đức Chúa quả quyết, vẫn từ lâu.

Quả quyết Chúa đưa ra, là lời đanh thép ta gặp ở nhiều chỗ. Như trong câu truyện bên dưới do danh hài George Carlin viết hồi thập niên ’70, ’80 chợt vào lúc bà vợ ông vừa thất lộc:

 

“Đời sống hôm nay, có những nghịch thường trong cầu và mong, như sau:

Cuộc sống con người, nay nhiều dinh thự/cao ốc thật, nhưng tâm tánh vẫn cứ thấp. Xa lộ thì chằng chịt những tuyến và đường, nhưng ý kiến vẫn hẹp hòi, tỏng teo. Chi tiêu thì hào sảng, mà sở hữu thực sự chẳng có là bao. Mua, thì mong mua được nhiều, nhưng vui hưởng của mình mua, đếm rất ít. Tậu nhà, ta mong nhà cao cửa rộng, trong khi gia đình/tổ ấm cơ ngơi cứ thế dần teo. Tiện nghi, ta mong thật nhiều nhưng thời giờ vun đắp, quả hiếm hoi.   

Ta mong có nhiều bằng cấp ngút trời, nhưng khả năng hiện thực ngày một ít. Kiến thức mong có khá, mà phán đoán sự việc ngày càng giảm. Chuyên gia/chất lượng trong mọi việc ta mong có. Nhưng vấn đề cần giải quyết càng nhiều thêm. Nhiều thuốc men, nhiều cơ hội vui hưởng cuộc sống, nhưng cuộc đời lành mạnh cứ giảm thưa.

Cầu và mong thật nhiều, nhưng khi đã mãn nguyện lại sinh ra chè chén nghiện ngập. Cuộc vui lành mạnh vẫn cứ thiếu vắng, ở nhiều nơi. Lái xe đi đứng, chỉ mong cho mau cho chóng để đến nơi. Đến được rồi, lại cứ hờn giận, nổi nóng, và quậy phá. Cuộc sống bon chen nhiều, mà thoải mái thư giãn, vui hưởng cứ chậm chạp đến rất thưa. Hết thức khuya làm cố, rồi dậy sớm đến mệt nhoài. Đọc sách thì ít, nhưng hay xem phim ảnh - truyền hình, cả những vụn phim trên màn ảnh vi tính. Và, cầu nguyện suy gẫm, rất ít khi.

Có người chỉ cầu và mong nhân rộng tài sản, đất đai sở hữu cho thật nhiều, nhưng giá trị con người bản thân cứ là giảm sút. Nói thì nhiều. Yêu thương ít đi. Ghét ghen, tranh chấp ngày càng nhiều thêm.

Người người vẫn cầu mong học được thật nhiều. Học kế sinh nhai, cải thiện cuộc sống. Học cách kéo dài đời người.Thậm chí còn tìm thêm đất sống trên hoả tinh/nguyệt cầu,nữa. Nhưng vẫn thấy khó khăn khi chỉ cần băng qua con lộ nhỏ để gặp hàng xóm - láng giềng, mà chuyện trò hoặc giúp đỡ. Ta chinh phục được cả không gian địa cầu, nhưng chưa thuyết phục nổi chính không gian nhỏ bé bên trong lòng mình. Hoàn thành nhiều việc to lớn, nhưng vẫn chưa làm đẹp nhân tâm. Có cố gắng làm sạch sẽ không gian địa cầu để sống dai sống thọ, nhưng lại hay ô nhiễm linh hồn. Chinh phục được nguyên tử/hạt nhân, nhưng chưa triệt hạ được thành kiến, và kỳ thị.               

Ta viết cho đời thật nhiều, nhưng học hỏi từ người lại quá ít. Hoạch định nhiều dự án, nhưng hoàn thành lại ít oi. Ta học cách gia tăng vận tốc, cứ lăn xả vào mọi chuyện, nhưng chưa học cách chờ mong. Lập thật nhiều văn bản máy tính đa năng đa dụng, lưu trữ được thật nhiều thông tin/dữ kiện, sản xuất quá nhiều sao bản, nhưng giao lưu/trao đổi trong hiền hoà, ngày càng ít thấy…

 

            Và, danh hài George Carlin đi đến đề nghị:

 

“Hãy nhớ để thì giờ mà gần gũi người mình thương mến. Bởi, người ấy sẽ không còn gần gũi được bao lâu. Hãy nói lời hiền hoà với những người tìm đến với ta. Tìm đến trong tâm tình lo sợ, hoảng hốt. Vì, người hèn kém/bé nhỏ kia sẽ lớn dần. Và, họ sẽ xa vời đời mình, một ngày không xa. 

Hãy nhớ mà ôm chặt vòng tay hiền ấm với người ở cạnh bên mình, vì đó là cách thức hay nhất để cầu được ước

thấy, chẳng tốn đến một xu. Cũng hãy nói lời yêu đương với người phối ngẫu thân thương/bè bạn. Nhưng, lời nói phải đượm ý nghĩa đích thật. Hãy ôm hôn người mình thương mến cho thật nhiều. Vì, việc ấy sẽ gắn hàn niềm đau và nỗi nhớ, nếu phát xuất từ phần thâm sâu con người mình.

Hãy cầm giữ mà trân trọng giây phút gần gũi người thân yêu, vì một ngày rất gần, người mình thân thương sẽ không còn đó, để được yêu. Và, cũng hãy bỏ thì giờ để ra mà yêu thương, cho trọn. Hãy tìm giờ mà san sẻ, chuyện trò cùng người thân. San sẻ các tư tưởng cùng tâm tình hiếm quý, nơi tâm tưởng.

Cầu và mong là chuyện cần thiết, nhưng cũng nên ghi nhớ: cuộc đời của ta không đếm bằng hơi thở ta thường hít; mà, bằng khoảnh khắc rất ít oi khi hơi thở dần dà bị lấy đi.

 

            Quả thật rất đúng, là như thế. Nhưng đúng hơn, phải nói: đời người nếu cần hai chữ cầu – mong, có lẽ cũng nên liên tưởng đến chuyện “mong” và “cầu”, mà bậc đàn anh/trưởng thượng vẫn đề cập. Về chữ “cầu”, đàn anh/trưởng thượng là cố giáo sư kinh thánh Nguyễn Thế Thuấn đã trích dẫn lời Kinh trong Tin Mừng thánh Mátthêu, từng ghi:

 

            “Cầu nguyện,

            thì các ngươi chớ lải nhải

            như người ngoại…”

            (Mt 6: 7)

 

            Và, đàn anh/trưởng thượng đã chú giải:

 

            “Ngay việc cầu nguyện,

cũng có thể biến thành một việc phô trương.

Kiểu phô trương trong hội đường (Lc 18: 11),

hoặc ngoài đường xá…

Còn, “môn đồ nguyện cầu, thì hãy tìm nơi kín ẩn”

(Mt 6: 6), ý nói: liên lạc giữa

Thiên Chúa và người ta thực hiện trong thinh lặng,

âm thầm, loại hẳn đi những gì là phô trương, hư danh -cho dẫu là nêu gương.”

(Lm Nguyễn Thế Thuấn CSsR, Sách thánh và mặc khải cứu rỗi, giáo án nội bộ tr.99)

 

            Còn về “mong” hay “đợi, đàn anh/trưởng thượng khác, cũng lên tiếng:

 

“Đợi chờ là tưởng niệm niềm trông mong Đấng Cứu Thế ngày xưa đánh dấu tất cả lịch sử các tổ phụ và Israel, dân Chúa. Đợi chờ, cũng là nỗ lực để làm mới, tăng lên lòng khao khát của chính chúng ta hôm nay đối với Chúa Kitô đang đến trong Hội thánh nhờ các bí tích hay qua khuôn mặt tha nhân.”

(Gs Nguyễn Ngọc Lan, Chủ Nhật Hồng Giữa Mùa Tím, Cơ sở Hy vọng 2002, tr. 7)

 

            Xem như thế, có “cầu” và “mong” nhiều đi chăng nữa, ta vẫn cứ thật tình mà vui sống. Sống cho trung thực. Sống tươi vui, như chỉ còn sống một ngày hôm nay nữa mà thôi. Vì, rất nhiều điều ta mong và cầu, vẫn có sẵn ở nơi ta. Vấn đề chỉ là ít/nhiều, nhanh/chậm tuỳ nhận định của mỗi người. Tuỳ niềm tin của ta. Tin rằng, mình đã có tất cả mọi thứ mình ao ước. Ở đây. Và bây giờ. Thôi nhé em.         

 

            Trần Ngọc Mười Hai

            Cũng có lúc

            rất cầu và rất mong.

            Nhưng không nhiều.

 

                                     

 

“Ôi.. vai kề vai! Và tay nắm tay, rồi!”

Đời, thôi vắng tanh, lẻ loi kết đôi rồi!

Từ, nay nồng ấm, đời thôi hết u hoài.

Ave Maria.

(Phạm Duy – Oui devant Dieu, devant les hommes)

 

(Lc 23: 54/Yn 19: 42))

            Kể ra thật cũng kỳ, chữ nghĩa rõ mồn một như thế, toàn những “Xin Vâng!” “Xin vâng”. “Xin vâng, trước Chúa!”, “xin vâng trước mặt mọi người!”, thế mà nghệ-sĩ-già nhà ta, lại cứ dịch hết là: “Ngày tân hôn”, rồi lại:

 

“Ôi! tình chăn gối …bao la

sẽ, mang về mãi …tận cõi già.” (Phạm Duy – bđd)

 

            “Tận cõi già”, “tình chăn gối”, có là ý tưởng chủ chốt của Maurice Tézé hay không, bần đạo chẳng dám đoán. Nên, sẽ không có lời phản đối, với càm ràm. Càm ràm, mà làm gì, nhỉ? Nhưng, mỗi khi nghĩ về chuyện ngôn ngữ với phát âm, bần đạo có một kinh nghiệm vừa xảy đến, nay nhắc lại thấy cũng buồn cười. Buồn, mà không cười. Hoặc, cười, mà không buồn, là tâm trạng của bần đạo. Rất hôm nay.

Số là, vừa rồi đây, có bạn hữu vừa quen, mới từ chốn xa xôi nay tìm đến. Bạn đến, hỏi bần đạo đôi câu rất “Huế mình”. Rất giống bà con, chốn Đông Hà/Quảng Trị, hồi thời trước: “phải anh May Tã đây, không?” Rất chưng hửng. Chết lặng. Chết, những 30 giây. Sau đó, bần đạo mới định thần, lấy thăng bằng, bèn trả lời bằng âm giọng cũng rất “nẫu”, rằng: “Dạ, tên cúng cơm của em được bạn bè đặt cho là Me …Té (ấy chết, Mai Tá), và Mười Hơ (tức 12), chứ không có “may tã” hay “may quần lót” gì hết, trơn, ạ”. Thế là, cả bạn và em đều cười trừ, rất sảng khoái. Đề huề. Huề cả làng.

Phiếm lai rai như thế, là để xin thưa với bạn và với tôi, rằng: tiếng Việt mình rất ư là phong phú. Muốn tán tỉnh người nào, thì bạn và tôi, ta cũng nên cẩn thận. Rất cẩn thận, kẻo gây hiểu lầm, nhé. Như, một chuyện vui về “vụ”: ta phải cẩn thận mà phát âm, mỗi khi đọc lời Chúa, nếu gặp đoạn nào có ghi rõ mồn một: “Các tông đồ bước đến hỏi Chúa, Chúa bèn “đáp”…cũng nên đọc theo kiểu Bắc kỳ di cư hay Bắc kỳ mới mới hoặc giọng Nam kỳ cho chuẩn, chứ đừng theo giọng “Huế miềng”, thì hỏng to. Chắc chắn sẽ có màn hiểu “nhầm”, ngay thôi. Bởi, đã hỏi thì Chúa chỉ “đáp”, chứ Ngài có “đạp”, đâu bao giờ!

Cũng thế, về những sai sót với lẫn lộn, có nhiều vị phó-thường-dân ngoan đạo, thường có thói quen hay lẫn lộn và quên sót, không rõ ngày nào là ngày của Chúa (chứ không phải của “chùa”, hoặc “của chua”), để đi lễ. Vì thế, các cụ cứ hết chạy đến linh mục này, rồi lại tìm thày sáu kia, mà hỏi với han. Hỏi, là hỏi những câu thật ưu tư, như:

 

“Xin cha bác giải thích cho đàn em hiểu thêm, lý lẽ cũng như điều kiện, để bà con khỏi ưu tư thắc mắc. Đại khái, là khi mừng kính lễ lạy vào buổi xế bóng chiều hôm, ngày trước đó (tức: vào chiều thứ Bẩy), ta có cần, hoặc có bắt buộc, phải đi thêm một lễ nữa, vào Chúa Nhật hôm sau, không? Ví dụ, nếu chiều Thứ Bẩy trước đó, bà con đã dự lễ hỏi và cưới rồi, có còn buộc phải đi thêm một lễ nữa vào ngày Chúa Nhật hôm sau, không?

 

Cứ thường tình, đấng bậc vị vọng rất “đức thầy”, là ngài Lm John Flader, vẫn có lập trường rất “chính mạch”, nên câu đáp nào của đức ngài cũng thường rất ư là “hiệu ứng”, khiến yên tâm. Hôm nay, đức ngài chạy khỏi “mạch chính” rất cứng ngắc, để có một lời đáp giải tương đối dễ thở, như sau:

           

“Từ ngày phụ trách mục hỏi đáp trên báo/trên mạng rất nhiều năm, tôi thấy có khá nhiều bà con chạy đến hỏi những câu tương tự. Bởi thế, nay cũng nên tạo dịp để ta đưa ra tình tiết chuẩn mực, về chuyện tương tự.

Lý lẽ giúp ta tuân giữ các lễ vọng chiều hôm trước, đã có nguồn gốc rất cổ xưa. Người Do Thái, vẫn coi mỗi ngày ta sống, bắt đầu và kết thúc, vào khi mặt trời mọc và vào lúc chiều tà. Chứ không phải nửa đêm. Chính vì thế, dâng lễ ngày Sa-bát chỉ bắt đầu vào chiều thứ Sáu, mà người xưa còn gọi là ngày Dọn lễ, thôi.

Cũng vì lý do ấy, nên khi Đức Giêsu chấp nhận chịu chết trên thập giá ngày thứ Sáu, thì ông Giuse xứ Arimathêa và các thánh đã hối hả chôn xác Ngài, ngay sau đó. Bởi, như thánh sử Luca và Gio-an có ghi chép: “vì đó là ngày Dọn Lễ của người Do Thái, và đã rạng sáng ngày Hưu Lễ” (Lc 23: 54/Yn 19: 42)

Cho đến nay, người Do Thái vẫn chủ trương tập tục, là: ta chỉ bắt đầu mừng kính ngày Hưu Lễ (tức Sabát) từ chiều Thứ Sáu đến chiều Thứ Bẩy, mà thôi.

Cũng giống thế, Phụng Vụ và Nghi Tiết Các Giờ Kinh cho linh mục, tu sĩ hoặc giáo dân cử hành, cũng như Phụng Vụ Ngày Lễ Lớn như các Lễ Trọng và Chủ Nhật, từ lâu, thường bắt đầu bằng giờ Kinh Chiều buổi xế, diễn tiến vào ngày hôm trước.      

Trên cơ sở đó, Hội thánh Chúa sau Công Đồng Chung Vatican II, đã đưa vào hiện thực với khẳng định rằng: ta có thể cử hành thánh lễ Chúa Nhật, và các ngày nghỉ có lễ buộc (!), chiều hôm trước.

Lý do Hội thánh đưa ra, được ghi rõ ở tông thư Eucharisticum Mysterium (Nhiệm Tích Thánh Thể) phổ biến vào ngày 25/5/1967, có đoạn nói: “Làm thế, là để giúp các Kitô-hữu hôm nay dễ cử hành phụng vụ ngày Chúa Phục Sinh.” (x. Chương II, đoạn II C)

Ở tông thư, không thấy nói đến giờ giấc ấn định, để cử hành thánh lễ vào buổi xế, ngoại trừ vào Lễ Vọng Phục Sinh. Lễ Vọng này, có thể bắt đầu vào thời gian trước lúc mặt trời lặn (x. sđd). Thông thường, thì lúc mặt trời lặn, là thời điểm để bắt đầu Lễ Vọng, đó là theo thời khoá biểu cổ xưa; nhưng trên thực tế, ta có thể linh động tuỳ mùa, nếu lúc đó là vào mùa Đông hay mùa Hạ, ở nơi nào xa cách đường xích đạo.

Chính vì lý do này, mà Hội thánh chọn thời điểm cử hành Phụng vụ, là: thường vào giờ giấc nào đó, trong ngày. Chọn như thế, không nhất thiết bảo rằng: mặt trời sẽ lặn vào giờ nào, phút nào. Giáo phận La Mã và ở nơi khác, Hội thánh thường cử hành Lễ Vọng vào sau 5 giờ chiều. Lễ Vọng chiều thứ Bẩy, cũng sẽ gồm các bài đọc và Phúc Âm hệt như ngày Chủ nhật; tức: cũng gồm bấy nhiêu kinh. Cũng, các bài đọc, bài chia sẻ. Cũng đọc hoặc hát Kinh Tin Kính. Có Lời nguyện Giáo dân... Có xin tiền, như các Chúa Nhật!

Nên biết, ta có thể cử hành thánh lễ Chúa Nhật vào buổi xế ngày thứ Bẩy. Nhưng, điều đó không bắt buộc. Thành thử, gặp trường hợp các cộng đoàn nhỏ như cộng đoàn tu hội/dòng tu là cộng đoàn vẫn đều có thánh lễ hằng ngày, ta vẫn có thể cử hành phụng vụ vào buổi xế ngày Thứ Bẩy, như thường.

Nếu, ở nơi nào có cử hành lễ cưới vào chiều Thứ Bẩy, thì cũng nên theo luật phụng vụ lễ Chúa Nhật. Lý tưởng ra, là có hai bài đọc trước lúc đọc Phúc Âm và có Lời Nguyện Giáo Dân, như thường. Một số mùa, như mùa Vọng và mùa Chay chẳng hạn, thánh lễ và các bài đọc, sẽ là bài đọc của các Chúa Nhật. Ngoại trừ độc nhất có một bài, có thể dùng một trong các bài nhà chủ chọn, cho lễ cưới.(x. Nghi thức hôn phối, số 11)

Các phần khác của phụng vụ lễ cưới, như: trao đổi lời thề, làm phép nhẫn, ban phép lành đôi tân hôn, vv.. sẽ theo phụng vụ, của lễ cưới.

Chúa Nhật Giáng Sinh và Chúa Nhật mùa thường Niên, thánh lễ hôn phối nào có các kinh và bài đọc dành cho lễ cưới, cũng có thể được cử hành vào các lễ không dành cho giáo dân, đến dự đều đặn. (x. Nghi thức Hôn phối số 11)

Giáo dân dự lễ hôn phối cử hành theo cách này, vào chiều thứ Bẩy, như thế đã là tham dự thánh lễ ngày Chủ nhật, theo luật buộc, rồi. Như đã nói, Hội thánh không ấn định giờ giấc riêng biệt nào cho lễ Vọng. Thế nên, lễ Vọng nếu bắt đầu từ 4 giờ chiều, đều được xem như thánh lễ Chúa Nhật. (x. The Catholic Weekly 7/12/2208, tr.12)

 

            Được đức ngài chỉ dẫn rành mạch như thế, hẳn người phối ngẫu đôi bên sẽ vui vẻ, mà hát:

 

            “Người yêu ơi! Ơi người! Người yêu dấu ơi!

            Cùng bên nhau suốt đời, cùng chia sớt nỗi vui

            Hay nỗi sầu, cùng cho nhau biết bao là yêu,

Ví dầu đời qua mau, với mái đầu, rồi đây sẽ trắng phau”. (Phạm Duy – bđd)

 

            Đầu trắng phau, vẫn cùng bên nhau suốt đời, để rồi đôi bạn lại hát thêm:

 

            “Ta bên mình nhau, rồi đi suốt con đường

            đưa ta suốt đời về nơi xứ Thiên Đường

            về nơi tổ ấm, nhờ ơn Đức cao vời, Ơn Mẹ Mari-a.”

(Phạm Duy – sđd)

 

            Kể cũng lạ, nghệ sĩ già rất bôn ba nhiều cuộc tình, chẳng kinh kệ quỳ gối nơi thánh đường có hôn phối, cũng đã biết: về nơi tổ ấm, xứ Thiên Đường. Lại còn bảo: nhờ “ơn Mẹ Maria”. Thành thử, dù có đi Đạo, hay bôn ba ở ngoài đời, nghệ sĩ già nhà ta, vẫn coi ân huệ “bên nhau suốt đời”, là do Mẹ Maria, ôi thôi! Thế cho nên, mới vào đầu “ngài” nghệ sĩ đã hát chào “Ave Maria”. Chào Chúa hay chào Mẹ, đều được cả. Duy có ân sủng ta nhận lãnh, dứt khoát từ Đức Chúa, Đấng mà nghệ sĩ gọi là “Đức cao vời”, mà thôi.

            Ơn “Đức Cao Vời”, hay ơn “Mẹ Ma-rí-à”, cũng vẫn là ân huệ tặng ban, như thánh Giacôbê nói: 

 

“Ai thiết tha và trung thành tuân giữ luật trọn hảo

-luật mang lại tự do-,

ai thi hành luật Chúa,

chứ không nghe qua rồi bỏ,

thì sẽ tìm được hạnh phúc trong mọi việc mình làm.

            (Yc 1: 25)

 

            Trọn hảo ở đây, không là luật giữ ngày của Chúa: phải đi lễ mỗi tuần mấy lần. Nhưng, là luật tình thương. Luật, đem lại hạnh phúc cho mình. Cho con người. Luật ấy, ai cũng học. Và, đã biết. Biết tường tận, hay biết lờ mờ, còn tuỳ vào trạng thái dấn thân, của mỗi người.   

Thật ra thì, luật ân sủng hay luật hạnh phúc mang đến với cuộc đời, dù có là đời của đôi lứa hay đời lẻ loi/một mình, cũng tuỳ vào thẩm định khác biệt, của mỗi người. Mỗi người, mỗi cách. Mỗi nơi, một kiểu. Như kiểu thẩm định về hạnh phúc, tương tự như lời kể của ai đó, dưới đây:

 

“Ngày xưa, có một bày yêu tinh tập hợp nhau lại để lên kế hoạch làm hại con người. Một con yêu tinh lên tiếng:”Chúng ta nên giấu cái gì quý giá của con người. Nhưng mà cái đó là cái gì?” Một con yêu tinh khác lên tiếng: “Chúng ta nên giấu hạnh phúc của con người. Không có nó, ngày đêm con người sẽ phải khổ sở. Nhưng vấn đề là: chúng ta sẽ giấu hạnh phúc nơi nào mà con người không thể tìm thấy được.”

Một con yêu tinh cho ý kiến: “Chúng ta sẽ quẳng hạnh phúc lên đỉnh núi cao nhất thế giới”. Con yêu tinh khác phản đối: “Con người rất khoẻ mạnh, chuyện trèo lên đỉnh núi đối với họ không có gì là khó khăn.” “Vậy thì chúng ta sẽ đem giấu hạnh phúc xuống đáy biển sâu.” “Không được, con người rất tò mò. Họ sẽ chế tạo ra những con tàu hiện đại để đi xuống tuốt đáy biển. Tất cả mọi người, rồi sẽ biết.” Con tinh trẻ có ý kiến: “Hay, ta đem giấu hạnh phúc ở một hành tinh khác.” Yêu tinh già phản đối: “Không được, con người rất thông minh. Càng ngày họ càng thám hiểm nhiều hành tinh khác đấy thôi.”

Nghĩ hồi lâu, có con yêu tinh già lụ khụ lên tiếng: “Tôi biết nên giấu hạnh phúc của con người ở chỗ nào rồi. Hãy giấu nó ngay chính bên trong con người. Đa số con người đi tìm hạnh phúc ở khắp chốn, khắp nơi. Bao giờ họ cũng thấy người khác hạnh phúc hơn chính mình. Còn, bản thân, họ chẳng bao giờ quan tâm. Giấu ở đó, con người không bao giờ tìm thấy hạnh phúc cả.”

 

            Cũng có lý, đấy chứ! Hạnh phúc, mà con người lùng tìm, không do bởi mình có biết giữ luật của Chúa, từng chấm phết. Như việc, có giữ luật đi lễ ngày Chủ nhật, cho đúng cách, hay không. Mà quên đi, chuyện sống yêu thương hiền hoà và tha thứ, hết mọi người. Cũng chẳng phải, do mình có trung thành/trung tín với lời thề, ngay ngày cưới, mà lãng quên, hết mọi chuyện. Hạnh phúc, là những gì mình hiện có. Những điều mình đang có, là tình Chúa trao ban mọi người, để nhận lãnh. Nhận, một cách nhưng-không. Khó ai bì. Hạnh phúc, chính là hiện tại rất thường, mà ta hay luột mất. Là, những gì mình đang sở hữu. Nhất nhất, tất cả đều là hạnh phúc.

            Và, một trong những hạnh phúc hôm nay, với tôi và với bạn, là mình còn trao được cho nhau những giòng chảy nhè nhẹ. Ngăn ngắn, như thế này. Vậy thì, xin nhắn bạn, nhắn tôi thêm một lời, là: ta hãy cứ thế mà hài lòng. Hài lòng, cả những điều mình vừa mới phiếm. Bởi, còn phiếm, là còn kiếm tìm thứ gì đó. Rất vui. Trong đời. Gọi đó là hạnh phúc, chăng? Cũng đặng. Gọi đó, là niềm vui ư? Hãy cứ thử, và cứ phiếm. Phiếm nhiều. Phiếm mãi, lai rai không ngừng. Ấy nhé, hỡi bạn và tôi, ta cứ phiếm.

 

            Trần ngọc Mười Hai

Vẫn mong được hàn huyên

và phiếm mãi,

Với bầu bạn.                      

                        

“Hãy ngồi xuống đây! Hãy ngồi xuống đây”

xa cơn buồn phiền dẫu biết chia phôi,

nhưng trong cuộc đời, vẫn có đôi ta

(Lê Uyên và Phương – Hãy ngồi xuống đây)

(Mt 7: 12)

Ngồi xuống với nhau, có khi không phải để “xa cơn buồn phiền”, nhưng là để cùng nhau làm một việc gì đó. Hoặc, vui hưởng tình thân thương qua bữa ăn. Hoặc, luận bàn tìm giải pháp cho vấn đề nào đó, vẫn chưa xong. Luận bàn, là bàn về những chuyện đã xảy ra trong quá khứ, nay rút kinh nghiệm. Bàn luận, là để tìm ra phương hướng hoặc cách thức đáp ứng, giao dịch, hành xử… rất tương lai. Ngồi hay đứng không là chuyện quan trọng. Quan trọng hơn cả, là “trong cuộc đời, vẫn có đôi ta”. Rất nhiều cái ta.

Truyện kể rằng, trong chung sống ở đời, có lẽ vì có quá nhiều cái “ta”, nên mới xảy ra kha khá cớ sự. Tương tự như cớ sự lớn bé, ở bên dưới:

 

“Ông chủ công ty lớn nọ cần việc bèn gọi nhân viên dưới trướng lên gặp để giải quyết một số vấn đề nghiêm trọng, khẩn cấp. Vì, truyền thông vi tính của ông bị trục trặc, mà ông lại không biết điều chỉnh, sửa chữa. Ông bèn quay điện thoại gọi về nhà người chuyên gia vi tính, đang nghỉ phép. Thay vì gặp nhân viên mình, ông lại nghe một giọng nói nhỏ nhẹ, rất trẻ ở cuối đường giây. Dường như, đây là giọng của một em bé? Giọng ấy nhỏ nhẹ, chào:

-A-lô?

-Ai thế? Có ba ở nhà không em bé?

-Dạ, có.

-Em bé có thể cho nói chuyện với ba em được không?

-Dạ, không!

-Sao thế! Ba đang bận à? Thế, mẹ có nhà không?

-Dạ, có.

-Vậy cho Bác nói chuyện với mẹ được không?

-Dạ không.

-Thế, có ai ở gần đó không?

-Dạ, có.

-Ai thế?

-Dạ, cảnh sát.

-Vậy thì, cho Bác nói chuyện với nhân viên cảnh sát cũng được.

-Dạ không được. Ông ta đang bận.

-Cảnh sát bận gì thế?

-Bận nói chuyện với Ba mẹ.

-Hình như có tiếng gì ồn như tiếng trực thăng, phải không bé?

-Dạ, đúng là tiếng máy bay trực thăng.

-Có chuyện gì mà trực thăng phải bay đến, thế?

-Trực thăng của cảnh sát đến tìm…

-Họ tìm ai vậy?

-Dạ tìm CON.

 

            Truyện kể chỉ có thế. Cũng chỉ hỏi han, những kiếm và tìm. Tìm đủ thứ. Kiếm đủ mọi cách. Chứ không chỉ tìm mỗi “bé em”, đang đi lạc. Đang chơi trốn/tìm. Cũng chẳng là cách thế, để khống chế lẫn nhau. Nhưng, cốt tìm ra giải pháp cho sự việc xảy đến, rất hôm nay. Tìm đến đám trẻ. Đến với mọi người. Đến, để giải quyết sự việc, về khoa học kỹ thuật, đang ảnh hưởng lên đời sống mỗi người. Từ già đến trẻ. Nhất là trẻ bé. Dễ tổn thương. 

            Trẻ bé dễ bị thương tổn, vẫn ngồi xuống với nhau, như lời người nghệ sĩ cất tiếng hát hôm nào:

 

            “Hãy ngồi xuống đây!

            như loài cỏ tranh chen nhau từng hàng

            xoắt xít bên nhau vui chơi cuộc đời,

có dáng hôm nay.”

(Lê Uyên và Phương – bđd)

 

            Ngồi xuống đây, để giải quyết cho nhau, yêu thương đùm bọc lẫn nhau, như ta được dạy:

 

“Vậy mọi điều các ngươi muốn

người ta làm cho mình,

            thì các ngươi cũng hãy làm

            cho người ta như thế.”

            (Mt 7: 12)

 

            “Làm cho người ta, y như thế”, thông thường là: làm điều tốt đẹp, mang đến cho người khác. Là, thương yêu đùm bọc, giúp hết mọi người. Là, giùm giúp thế hệ trẻ, còn rất bé. Là làm, qua tư cách của người có trách nhiệm. Làm, một cách nghiêm chỉnh. Như vấn đề được đặt ra, hôm nay.

            Một trong các chuyện nghiêm chỉnh đặt ra hôm nay mà ta có thể làm, là việc được Hội đồng Giám Mục Úc vừa qua, đã đề cập vào giữa năm 2008. Trong thư mục vụ có tựa đề “An toàn trên mạng” lần này, ngoài ”thư luân lưu” viết bằng chữ, các Giám mục Úc còn kèm thêm âm thanh và hình ảnh, đưa lên “youTube”, để bà con nguời đọc có thể truy cập, bàn luận. Chẳng khó khăn.

            Bàn về lớp người trẻ từng bỏ trường, là thế hệ đầu đời đã trưởng thành và lớn lên trong Thời Đại Đồ … Lưới. Thời đại mà ở nơi đó, ta sinh hoạt nối kết như lưới nhện, rất chặt chẽ. Rất mạnh bạo. Nhưng chưa chắc đã “an toàn, trên xa lộ”. Thư luân lưu, có đoạn viết:

 

“Thực tại lớp người trẻ lâu nay được hình thành từ các mô thức “nối kết trên mạng” hoặc qua điện thoại di động, mà các thế hệ có trước chúng vẫn còn học hỏi, để am tường. Chung cùng đường hướng với điện thoại di động, Mạng Nối Kết đã cải biến phương cách truyền đạt, hoặc chuyện vãn. Thay đổi cả phương thức duy trì tình bằng hữu, ngõ hầu tìm đến thú vui tiêu khiển và tiếp cận với thông tin.” (x. www.acbc.catholic.org.au, hoặc http://www.youtube.com/ACBCcomms) 

 

            Tuy nhiên, dù ta sử dụng mạng lưới thông tin một cách tốt lành đi nữa, thì các trận mưa thông tin vẫn như ghềnh hào thác đổ, cứ tràn bờ trên Mạng khiến người sử dụng như chúng ta, cần thận trọng. Bởi thế nên, thư luân lưu của hàng Giám Mục Úc, cũng đề cập đến chuyện đề cao cảnh giác, như sau:

 

“Cho đến nay, rất nhiều bậc phụ huynh, nhà giáo, các vị thủ lĩnh cộng đồng tôn giáo, các nhà tâm lý và nhiều người khác nữa, vẫn cho biết là họ đang lấy làm quan ngại về mối hiểm nguy ngày một dâng cao của Mạng Thông Tin, đối với người trẻ, cũng như người cao niên. Từ các ảnh hưởng của mạng, đã thấy có sự phân cách giữa các thế hệ. Phân cách, về khoa học kỹ thuật, khiến các bậc cha mẹ nay thấy mình ngày càng dần xa chiều sâu hiểu biết, mỗi khi giám sát con em mình sử dụng Mạng.

Hôm nay, bằng vào Thư Mục Vụ, chúng tôi tìm cách gợi vấn đề, để chúng ta quan tâm đến bối cảnh niềm tin, khi sử dụng. Trong quá trình nhận dạng, tìm ra đâu là những nguy hiểm của Mạng. Và hàng ngũ Giám mục Úc muốn đem đến cho mọi người một số biện pháp khôn ngoan, ngõ hầu ta có thể gìn giữ đức tin, khi theo đuổi các kỹ thuật cao này. Hy vọng rằng, mọi người sẽ đề cao cảnh giác trước khía cạnh độc hại của Mạng Lưới Nối Kết, ngõ hầu tạo an toàn cho mọi người. Cho phẩm cách con người. Và, cho tương quan giữa mọi người chúng ta, với Chúa.”

 

            Thư luân lưu mục vụ của hàng Giám mục Úc năm nay, có nhiều đoạn nói rằng: việc sử dụng Mạng Nối Kết đang trở thành vấn đề thời thượng. Với một số người, Mạng Lưới Nối Kết có nghĩa như việc lướt sóng kiếm tìm trang chủ. Với nhiều người khác, sử dụng Mạng chỉ là vào đó để nhận thư, hoặc vài hàng thư điện cho đồng nghiệp, cho bạn bè người thân. Thế thôi.

            Hiện tượng mới nhất, nay xảy đến với một số người, được gọi là: hệ truyền thông xã hội. Giới trẻ hôm nay, quá quen với các điạ điểm mạng như Facebook hoặc MySpace. Nó hệt như chuyện buổi tối ra ngoài vui chơi, chuyện trò với chúng bạn. Với họ, việc này đơn giản chỉ là tạo nên hiện trạng nào đó trên một địa điểm. Rồi mời mọi người đến đó, tha hồ mà chia sẻ thông tin, cho nhau. Chia sẻ qua tư cách “bạn bè trên mạng”. Lâu nay, Giáo Hội Úc đang giúp đỡ lớp người trẻ dấn thân với niềm tin, qua phương thức đặt cơ sở trên hệ truyền thông xã hội, qua một số địa điểm tựa như thế, trên mạng.

            Việc sử dụng điện thoại di động, nay còn phổ biến hơn nhiều. Tất cả những gì mọi người muốn tải thông tin mình nhận được, thay vì vào vi tính cá nhân, có thể đưa vào di động. Thông tin tải xuống có thể là bài viết, tin tức hoặc hình ảnh, khúc phim. Di động, khi đó chỉ là bộ phận dung nạp chứa đựng tất cả các dữ liệu mình muốn cất giữ hoặc thưởng lãm. Ngày nay, hầu hết các chính trị gia và cả đến các Giám mục cũng đang sử dụng hệ truyền thông này để chuyển thông điệp Mùa Chay, hay các thư mục vụ, đến giáo dân.

            Trong Thông điệp gửi đến mọi người nhân ngày Truyền Thông Thế Giới vào năm 2002, Đức Cố Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II đã chào đón Mạng Nối Kết như điều mà ngài gọi là “Diễn Đàn rất mới để Rao giảng Tin Mừng của Chúa”.

Mới đây, Đức Giáo Hoàng Bênêđíchtô XVI cũng nói đến nhu cầu giữ gìn lớp người trẻ và gia đình khỏi mọi hiểm hoạ đến từ Mạng Nối Kết. Tông thư của Đức Giáo Hoàng có đoạn viết:

“Không còn ngờ vực gì nữa, một đằng nền văn minh nhân loại hôm nay đang đón nhận nhiều đóng góp lớn lao từ các thành phần khác nhau của nền truyền thông đại chúng. Đằng khác, rõ ràng là: có rất nhiều mặt tiêu cực độc hại đang xâm nhập bằng nhiều hình thức vào cơ ngơi của hàng triệu gia đình trên thế giới.”

 

            Làm bậc cha mẹ, ắt hẳn phụ huynh nào cũng từng biết: một khi con mình đã ngồi trước màn hình vi tính, hay di động để tiếp cận với Mạng thông tin, bao giờ các em cũng đối diện với đủ mọi thứ hiểm nguy, đến từ mọi phía. Có thể là, những ảnh hình dâm ô, khuấy động mắt nai thiên thần, còn trinh trong. Có thể là, những mô hình bạo lực, xúc phạm, đủ mọi kiểu.

            Các bé em, thường vẫn vô tư trong trắng và tình thật. Vẫn cứ tưởng là mình đang ở chốn tư riêng một mình với không gian ảnh ảo của vũ trụ, những cyber. Có đâu ngờ, hiểm nguy đang tung lưới, nên cứ vô tư thả hồn mình chốn hồn hoang, thanh tao. Thoát tục? Ở nơi đó, có những gọi và mời, như:

 

            “Hãy ngồi xuống đây

như trong lần đầu bối rối bên nhau…”

(Lê Uyên và Phương - bđd)

 

            Chính vì “bối rối bên nhau”, trong phòng “chít chát”, nên cha mẹ mới thấy sợ cho con cái mình, sẽ cứ “bối rối bên nhau” với người cùng hành tinh, ở bên phòng “chuyện trò” vùng cyber, nhiều chuyển biến. Và vì thế, các Đấng bậc còn sợ rằng các bé em còn cấp thông tin riêng tư cho người lạ mặt, che đậy lòng thèm muốn ấu dâm, chăng? Còn sợ hơn nữa, khi bé em tưởng rằng người “ngồi xuống đây” ở bên kia đầu giây tinh hà, cũng là bạn đồng trang lứa, chứ có gì đâu!

            Là bậc cha mẹ, có lẽ đã đến lúc phải có thái độ đa nghi của một Tào Tháo thời vi tính, để có biện pháp thích đáng, với con em. Biện pháp trước hết và trên hết, là: nên ngăn cản các em, kẻo các em  cứ phổ biến mọi thông tin về nơi ăn, chốn ở. Nơi học hành, chốn vui chơi. Giờ giấc cũng như thời khắc biểu rảnh rỗi, để hẹn hò.

            Chí ít, là khi đã thấy nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp, tựa như: bắt nạt, hẹn hò, dụ dỗ hoặc quấy nhiễu tình dục, cả trên mạng. Những hình thức xúc phạm rất mới được tung ra xâm nhập phòng tán gẫu, chỉ nhằm lôi cuốn người nhẹ dạ. Trong đó, phải kể đến những màn chọc ghẹo, diễn trò vui tếu, tung lời đồn đại, phổ biến tin vịt cồ, bôi nhọ gây vấy bẩn lên tâm hồn trinh trong, như tờ giấy trắng bị lấm mực.

            Trong không gian chỉ có hai người, thậm chí có cả những âm thanh đầy khích lệ, một hư cấu:

 

            “Hãy ngồi xuống đây hôn nhau lần này

            Hãy ngồi xuống đây cho nhau lần này

Hãy ngồi xuống đây chia tay lần này…” (Lê Uyên và Phương – bđd)

 

            Nói tóm, với nền cách mạng thời vi tính/di động, mọi hình thức mọi cơ hội khiêu gợi lôi cuốn, được tung ra với các kỷ xảo tối tân ở mức thượng thừa. Chưa từng thấy. Vẫn mở ra với các trẻ bé. Rất ngây thơ. Lại còn có cả một chính sách tiếp thị luôn dụ dỗ các trẻ bé lén sử dụng thẻ tín dụng của cha mẹ, hoặc anh chị là người lớn. Bên dưới những trang mạng hấp dẫn, còn có muôn hình vạn trạng “vi khuẩn vi tính lẫn vi trùng, chực chờ xâm nhập đầu óc ngây thơ, của các em.

            Nói thì nói thế, vẫn có thể “lướt mạng” an toàn, nếu cha mẹ phụ huynh chịu chấp hành một số nguyên tắc căn bản, nhưng giản dị. Những nguyên tắc, tựa như phim ảnh, sách hình, trò chơi vào thời trước. Điều quan trọng, là: nên để mắt giám sát mọi sinh hoạt của bé em. Đừng bao giờ cho phép để vi tính ở nơi chốn kín đáo, tư riêng, trong phòng ngủ. Giờ giấc tiếp cận, sử dụng cũng nên điều nghiên cho phép, rất hạn chế. Và, cũng nên cài đặt các bộ phận theo dõi, lọc sàng như vẫn thấy trên mạng điểm NetAlert, tỉ như www.netalert.gov.au.

            Dầu sao trên căn bản, cha mẹ cần giáo dục con em về các mối hiểm nguy dẫy đầy trên Mạng Nối Kết. Quyết làm sao trao quyền cho các em biết quyết định cho đúng. Và tin tưởng vào chúng. Có như thế, lớp người trẻ mới trưởng thành như người sử dụng Mạng Nối Kế có ý thức trách nhiệm. Ở nhà cũng như ở đâu đó, chốn công cộng.

            Nhằm minh hoạ, cho những điều mà hàng giáo phẩm Úc đang quan ngại, cũng thử đi vào với truyện kể bên dưới. Cứ coi đây như một thực trạng xã hội, xảy đến vào Thời Đại …Hậu Lưới:

 

“Bé trai 6 tuổi, từ đâu đó bỗng chạy vội về nhà, gọi cha mình ơi ới, báo cho cha một quyết định có dáng vẻ rất quan trọng, như người lớn. Bé muốn lấy cô bé đồng trang lứa nhà gần bên, làm vợ hiền. Gặp ngay ông bố thuộc loại lão làng, dày kinh nghiệm giáo dục đám trẻ bé, ở trường lớp. Ông bèn giấu nụ cười nhè nhẹ nơi bàn tay xương xẩu, khép không kín. Và hỏi người con lên 6:

-Chà! Quyết định lớn đây! Con suy nghĩ kỹ chưa mà lại có quyết định như thế?        

-Vâng, con đã quyết định là: tuần lễ đầu, hai đứa tá túc ở phòng con. Sau đó, đến lượt con qua nhà “nàng” ở, nguyên một tuần. Cũng không xa, đâu ba. Vào buổi tối, có chuyện gì thì con chỉ chạy có mấy phút, là tới nhà “nàng” ngay thôi.

-Thế còn vấn đề đi lại, và chuyên chở, con tính thế nào?

-Con tính rồi ba. Chuyện đơn giản như đang giỡn, ấy mà. “Nàng” có xe thồ bằng mủ, cả hai tụi con đứa nào cũng có xe đạp ba bốn bánh, lo gì.

-Thế còn… Thế còn chuyện sinh con, đẻ cháu, con tính thế nào?

-Vụ này càng dễ hơn. Tụi con chưa tính có con nít vội. Hễ mỗi lần “nàng” đẻ ra quả trứng nào, to nhỏ, là con sẽ lấy chân đạp cho dẹp, là xong ngay.

 

            Truyện kể ở trên có vẻ dễ bị …xẹp. Xẹp lép và hư cấu, là điều chắc chắn. Không tránh khỏi. nhưng nó cũng phần nào nói lên nhưng điều lạ, mà bậc cha mẹ, tuy tuổi đã cứng, vẫn chưa kịp hoặc chưa chịu nghĩ ra. Cũng có thể, đó chỉ là những hiểm nguy, của “Mạng”. Của “di động”. Hôm nay, là hư cấu. Giả tưởng. Kể cho vui. Nhưng biết đâu, mai ngày cũng có những giả tưởng, cứ tưởng mãi mãi chỉ là giả. Nhưng, phút chốc đã thành mối nguy thực sự. Bởi, như ở bài hát chép trên, còn một câu người viết nhạc, vẫn từng nhắc, đó là:

 

            “Rồi mùa Đông đến,

            Rồi mùa Xuân đến

            Cuộc đời vẫn quay đều”

(Lê Uyên và Phương – bđd)

 

            Đời người, cứ quay đều. Quay mãi, chóng cả mặt. Nhưng bọn trẻ bé, đâu thấy chóng mặt vì bị quay. Chúng đâu nghĩ, có người lớn vẫn bảo:

 

            “Hãy ngồi xuống đây

bên con vực này, ngó xuống thương đau.” (Lê Uyên và Phương – bđd)

           

Bởi, bên ta luôn có con vực. Cứ ngó xuống, đã thấy thương. Và thấy đau. Cho con trẻ.

 

            Trần Ngọc Mười Hai

            Nhiều lúc nghĩ đã thấy sợ.

            đã thấy thương

            và biết đau.

            Cho con trẻ.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

“Không!

Tôi không còn yêu em nữa”

Không! Không! Tôi không còn,

tôi không còn yêu em

Không! Không! Tôi không còn, tôi không còn yêu em nữa, em ơi!

(Nguyễn Ánh 9 – Không)

(Lc 20: 21)

            Nếu chỉ nghe, Elvis Phương hát lời ca trên đây rồi thôi, có lẽ bạn và tôi sẽ nghĩ là: hai người được nói trong bài hát, không còn yêu nhau nữa. Không yêu, có lẽ bởi vì:

 

            “Tình đời thay trắng đổi đen

Tình đời còn lắm bon chen

Tình đời còn lắm đam mê

Nên tình còn lắm ê chề.”

(Nguyễn Ánh 9 – bđd)

 

            Không hẳn là như thế. Bởi, nếu bạn và tôi, có dịp nghe dĩa nhạc DVD “Lặng Lẽ tiếng dương cầm”, thấy chuyên gia Vĩnh Lạc, phân tách ý nhạc/lời thơ của tác giả, mà ông gọi là “Quãng 5 quãng 4 và Nguyễn Ánh 9”, ta sẽ còn mang trong đầu rất nhiều điều, để phân vân. Bàn bạc. Rất nhiều điều, để phiếm. Phiếm chuyện đời. Chuyện cả chuyện Đạo.

            Thật sự, thì tình đời nhiều lúc cũng chẳng “thay trắng đổi đen”, được nhiều thứ. Có thay hoặc có đổi, cũng chỉ vì người đời “còn lắm bon chen”. Còn lắm ”đam mê”. Nên, mới “ê chề”. Chỉ có thế. Dẫu sao, thì bạn và tôi, ta cũng đừng vội theo vết dấu chân người, để nói chữ “Không!” Không yêu. Không tin. Và, không tạo uy tín, với nhà Đạo.  

            Về những uy tín và niềm tin yêu đã ê chề, thì vừa qua ở Hội Thế Vận Bắc Kinh, đã xảy ra một hiện tượng rất ư lạ lùng. Được bật mí, ngay sau buổi lễ khai mạc đầy hoành tráng. Long trọng. Hùng vĩ. Số là, ban tổ chức Bắc Kinh có thói quen coi thường dư luận. Coi thường, cả chữ “tín” và chữ “yêu” của hàng triệu người dự khán. Dám đánh tráo, diện mạo và giọng hát của hai nghệ sĩ tuổi nhỏ, tên là Yang Peiyi và Lin Miaoke. 

            Đánh tráo hoặc tráo trở, chẳng thể nào là đặc điểm của người vốn có chữ “tín”, bấy lâu nay. Nhưng, với một cử toạ đông hàng tỷ người, vừa mới chứng kiến cảnh thề nguyền sẽ tôn trọng tinh thần thượng võ. Sau đó, lại cứ thản nhiên làm công việc đánh tráo hai người trẻ. Rất dễ tin. Thì đây, quả là hiện tượng ít thấy.    

            Có một điều, mà mọi người đều nhận ra, đó là: việc làm tráo trở kia, lại diễn bày ra trước mặt các em bé, rất còn trẻ. Tức, những người trẻ và bé, vẫn còn niềm tin yêu. Còn chữ “tín”. Hiện tượng trên, sẽ chẳng là gì đối với nền kinh tế chính trị, nhiều tráo trở. Chẳng cần ai tin. Nhưng lại rất tệ hại, đối với nền đạo đức - chức năng, của loài người.

            Còn nhớ, có lần Đức Chúa từng khuyên bảo:

 

“Kẻ nào nên cớ vấp phạm cho

một trong những kẻ bé mọn

đang tin Thầy,

thì thà nó bị khoanh cối đá vào cổ

và nhận chìm xuống đáy biển,

còn hơn.”

            (Mt 18: 6)

 

            Đành rằng, đòi hỏi về đạo đức ở trên, là một đòi hỏi rất gay gắt. Không thể bỏ qua, hoặc coi thường. Bởi, nó có tính nghiêm trọng, được coi như gương mẫu cho mọi người, để mà sống. Chí ít, là những gương và mẫu về “chữ tín”. Còn nhớ, các cụ nhà mình khi xưa, vẫn có câu nói để đời, khuyên con cháu dứt quyết một điều: một sự bất tín, vạn sự không tin.

            Không tin, ở đây không phải bởi vì ta chưa nhìn ra được sự thật, Chúa vẫn nói. Không tin và chẳng giữ chữ “tín”, là bởi mọi người quanh ta không muốn bị lừa đảo. Tráo trở. Và, cũng chẳng muốn nên cớ vấp phạm, cho trẻ nhỏ. Nhưng, ở hội thế vận Bắc Kinh năm 2008, người ta đã làm cả hai chuyện đánh tráo và đảo lừa, không nương tay. Chẳng sợ gì.

            Đánh tráo và đảo lừa, đã trở thành chuyện lớn, rất nghiêm trọng vì nên cớ vấp phạm, cho trẻ bé.  Nói nghiêm trọng, là bởi tinh thần của vận hội thế giới xưa nay, vẫn là nguồn hứng khởi cao sang, được đề cao, mang đến với giới trẻ. Nhất là giới trẻ thế giới, mới vừa cùng nhau quây quần, họp mặt. Tuổi trẻ họp mặt, lúc nào cũng đề cao tinh thần thượng võ, không đảo lừa. Chẳng đùa giỡn với niềm tin. Với chữ “tín”. Tức, tính chính trực, trong mọi chuyện.       

            Về tính chính-trực, hẳn ai cũng còn nhớ lời thư tâm tình của thánh Phao-lô gửi đồ đệ Ti-tô:

 

            “Chính anh hãy làm gương

về mặt đức hạnh.

Khi anh giảng dạy,

thì đạo lý phải tinh tuyền,

thái độ phải đàng hoàng,

lời lẽ phải lành mạnh…´

(Ti 2: 7)

 

            Xem thế thì, đức hạnh trong gương mẫu, tinh tuyền trong đạo lý, và đàng hoàng nơi thái độ, nhất nhất đều có thể gọi đó là: chính và trực. Và chính trực, là đức tính cần áp dụng cho hết mọi người. Cả người nhà Đạo, lẫn kẻ lươn lẹo chốn bán buôn. Tuyên truyền.  

            Trong buôn bán, ta vẫn thấy cụm từ “In God we trust” (“ta tin tưởng nơi Đức Chúa”) trên hầu hết các tờ giấy bạc vô tri vô giác của Hiệp Chủng Quốc, nước  Hoa Kỳ. Xem như thế, chữ tín hay đức tính chính trực hay gì gì đi nữa, vẫn cứ là kim chỉ nam, trong sống cùng - sống với, mọi người.

            Bởi lẽ, sống chính trực với hết mọi người, vẫn luôn là mục tiêu của cuộc sống, ở xã hội cổ xưa hoặc đương đại. Tính chính-đại và cương-trực thấy có ở xã hội loài người, vẫn là chuyện ngàn đời. Cần thiết phải được duy trì, gìn giữ. Cho dù, đó là chuyện khó giữ, trong cuộc đời. Một đời, gồm những người chỉ lo toan kiếm tìm giàu có. Tiếng tăm. Quyền bính.

            Với nhà Đạo, sống chính-đại và cương-trực là sống chân phương, biết tôn trọng sự thật, như nhận định ta nghe biết:

    

            "Thưa Thầy,chúng tôi biết

Thầy là người chân thật.

Thầy chẳng vị nể ai,

vì Thầy không cứ bề ngoài

mà đánh giá người ta,

nhưng theo sự thật

mà dạy đường lối của Thiên Chúa..”

(Mc 12: 14)

 

            Ở đời thường, người người thấy rất khó để sống chân phương, lương thiện. Rất chính và trực. Nên, mới thấy “ê chề”, về cuộc sống. Thấy ngán ngẫm, một cuộc tình. Tình đời. Tình người:

 

“Tình mình, có nghĩa gì đâu

Tình mình, đà lắm thương đau

Tình mình, gian dối cho nhau

Thôi đành, hẹn lại kiếp sau.”

(Nguyễn Ánh 9 – bđd)

 

            Quá ê chề ,với tình người ở huyện đời thường, nên người người nay cứ hát:

 

“Một lời cuối cho em, một lời cuối cho em

Khi tình ta hôm nay đã tàn phai

Một lời cuối cho em, một lời cuối cho em

Kiếp sau chờ nhau, sẽ hết những niềm đau.” (Nguyễn Ánh 9 – bđd)

 

            Sống thực tế, ta chẳng thể nào chờ đến kiếp sau, nếu con người để mất chữ “tín”. Vẫn đánh tráo. Đảo lừa. Lừa em nhỏ, chỉ lên chín. Trong đó có Yang Peiyi. Có Lin Miaoke. Như ở vận hội thế giới Bắc Kinh, năm 2008. Thế giới hôm nay, dù đang ganh đua ở lễ hội một vận động. Hay, sẽ thi đấu ở nơi nào khác, sẽ chỉ có thể sống lương thiện – hài hoà, nếu biết tôn trọng sự thật. Sự thật, mà cả nơi nhà Đạo, vẫn thấy có kẻ lươn lẹo gài bẫy cạm. Trâng tráo. Đảo lừa:

 

            “Chúng tôi biết Thầy nói Thầy dạy

cách ngay chính

            Thầy không nể mặt;

            Nhưng dạy đường lối

của Thiên Chúa cách ngay thật.”

            (Lc 20: 21)   

 

            Và, còn lại vấn đề với thế giới hôm nay, là sự Ngay Thật. Ngay thật, trong ăn nói. Trong thái độ. Ngay thật, trong phương cách đối xử. Chọn lựa. Chọn minh bạch. Lựa trong sáng. Mang chân thiện mỹ, đến với mọi nơi. Đó chính điểm là khác biệt giữa sự Đạo. Chuyện đời. Một đời, có những truyện rất cần đến Đạo. Dù, chỉ là đạo làm người. Ăn ngay. Nói thật. Như truyện kể để minh hoạ, ở bên dưới:

 

“Một lão bà trọng tuổi đang phom phom lái xe, trên xa lộ không đèn, rất ngon trớn. Bỗng, từ đâu đó vọt lên phía đằng trước, chiếc môtô công lộ, có viên cảnh sát rất trờ tới lễ phép ra dấu cho cụ ngừng lại. Chừng như, anh kết tội: cụ chạy quá tốc độ!!.  

Lão bà rất bình tĩnh, vẫn ngồi trên xe, ngước nhìn về phía cửa, hỏi:

-Có chuyện gì thế, thưa ngài cảnh sát?

-Dạ thưa bà, bà vừa lái xe quá tốc độ.

-À, ra thế đấy!

-Xin bà cho xem bằng lái.

-Tôi không có bằng. Nếu có, đã xuất ngay đưa cho ngài.

-Bà lái xe mà không có bằng, ư?

-Cách đây 4 năm, tôi bị treo bằng vì tội uống rượi mà lại lái xe.

-Thì ra, là thế. Ấy vậy, bà cho xem giấy đăng bộ xe.

-Việc này, tôi cũng không thể làm được.

-Tại sao thế?

-Bởi, xe này đâu phải của tôi. Tôi vừa chôm được nó, cách đây ít phút.

-Bà già như thế, mà cũng biết chôm xe xịn này sao?

-Đúng thế đấy. Tôi còn bắn chết tên tài xế, và vứt xác hắn ta trong bình thùng, nữa.

-Bà nói gì?

-Thì, cũng chỉ muốn nói là: tôi băm xác hắn ta thành 3 khúc, mới nhét vừa thùng xe.

Viên cảnh sát, bèn liếc mắt về phía sau, thấy khả nghi. Anh nhìn bà lão một lúc, rồi đi về phía chiếc xe đang chớp đèn, dùng máy điện đàm gọi tiếp viện. Vài phút sau, đã thấy lố nhố toàn xe mầu trắng, chớp đèn, làm náo loạn cả cõi không. Rất hồi hộp. Bước từ một chiếc xe chớp đèn mầu đen, là viên chức có dáng dấp rất lão thành, tay lăm le khẩu súng lục, bước đến gần lão bà, và hỏi:

-Yêu cầu bà lái, bước xuống xe.

Lão bà răm rắp tuân lệnh, rồi hỏi:

-Có chuyện gì mà nghiêm trọng thế, thưa các vị?

-Nhân viên công lực chúng tôi báo cáo là bà đã ăn cắp xe này, giết chết tài xế và…

-Giết chết tài xế ư, một lão bà già như tôi? 

-Đúng thế. Yêu cầu bà mở “cốp” xe.

Lão bà tuân lệnh. Nhưng chẳng thấy gì. Thùng xe trống trơn. Cả đến đồ đạc cũng không có. Viên cảnh sát cao cấp tiếp tục hỏi:

-Xe này, có đúng là của bà không?

-Rất đúng. Tôi có giấy tờ đăng bộ chứng minh đây.

Viên cảnh sát rất ngạc nhiên, hết nhìn bà lão rồi lại quay qua đồng nghiệp. Hết ý. Anh nói tiếp:

-Đồng nghiệp của chúng tôi vừa báo cáo là: bà lái xe mà không có bằng lái. Đây chỉ là giấy tờ xe, thôi.

Lão bà, rút trong ví bóp ra, chiếc thẻ nhựa ghi đầy đủ chi tiết tên tuổi, có cả hình. Cảnh sát viên xem xét kỹ, thấy khó nghĩ:

-Người đồng nghiệp của chúng tôi có nói là bà không có bằng lái. Lại ăn cắp xe. Giết tài xế. Rồi vứt xác người này vào thùng phía sau…

Cụ bà ngắt lời:

-Cái tay láo khoét ấy chắc còn nói là tôi lái xe quá tốc độ, nữa phải không?

 

            Truyện kể chỉ có thế. Cũng để nói lên một điều, là: ngày hôm nay, trong quá trình giao tế với đời. Đời người, có lối sống văn minh. Lịch sự. Uy tín. Nhưng người đời, chừng như để lạc mất chữ “tín”, ở đâu đó. Hết còn tin. Vì hết tin, nên cuộc sống không còn đượm nhiều ý nghĩa, như ngày trước.

Đó có thể, là lý do khiến người nghệ sĩ đã thở than: “Tình đời thay trắng đổi đen. Đớn đau. Ê chề.” Để sống không còn thấy ê chề, dối gian. Không đánh tráo. Đảo lừa. Có lẽ, ta nên trở về với cội nguồn, mà:”làm gương, về mặt đức hạnh” (Ti 2: 7). Và, đừng “nên cớ vấp phạm cho kẻ bé mọn” (Mt 18: 6). Dù chỉ để thi đua. Trình diễn. Tuyên truyền. Có như thế, đời mới đáng sống. Đạo mới tồn tại.       

 

            Trần Ngọc Mười Hai

            Đã bức xúc,

lòng hỏi lòng

khi nghe tin có giối dan, đảo lừa

trong thi đấu ở Bắc Kinh.

 

“Kìa một nàng Trung Hoa”

Răng trắng tinh như là ngà
Nụ cười tươi như hoa thắm
Cô em tha thướt mượt mà.

(Phạm Duy – Cánh Hồng Trung Quốc)


(1Cr 9: 24-27)

            Phải nói ngay, rằng: cánh hồng ấy, nay có con số lên đến một tỷ hai trăm triệu đoá. Nhiều sắc thái. Rất muôn mầu. Sắc thái muôn mầu, dân con đang ngóng chờ mọi người, đến tham dự. Tham dự hoặc thi đua, trong tinh thần thượng võ, có tình thân.

            Thân thương tình gia đình người đồng loại, mang sắc mầu lịch sử trải dài nhiều thế kỷ, từ ngàn xưa. Xưa hoặc nay, vẫn hân hoan đón chào các lực sĩ, đến thi đua. Tình thể tháo - thi đua, mà nhiều người thường gọi là vận hội Thế giới; hoặc, lễ hội thể thao, trên khắp địa cầu. Thế vận hội, năm nay được tổ chức ở phương trời xa cách, rất Bắc kinh.

            Về đất nước, mà người nghệ sĩ khi xưa viết tiếp giòng nhạc, đầy tình tự:

 

            Lòng tôi thêm vấn vương

Những khi chiều tà nhìn cánh chim qua

Mộng được như đôi chim bay tới chân trời xa.

Cớ sao những chiều ngắm mây lững lờ.” (Phạm Duy – bđd)          

 

Chân trời xa. Có mây lững lờ. Nhiều nhung nhớ. Nhớ rằng, cách đây nhiều năm, tại vận động trường thi đua hội Thế vận ở Seattle, Hoa kỳ có chuyện vui về 9 nhà điền kinh rất khoẻ. Và, cường tráng. Tham gia chuyện vui hôm nay, lòng người vương vấn, chút suy tư:

 

“Vào cuộc thi năm ấy, có 9 vận động viên nước rút đang chuẩn bị cuộc thi chạy bộ 100m. Tiếng súng báo hiệu cuộc thi sắp sửa bắt đầu. Và, các lực sĩ đã khởi động, vụt chạy về phía trước. Nhưng lúc ấy, một vận động viên bị trật gân không cất bước nổi, đã quỵ xuống. Anh bắt đầu khóc vì bao nhiêu chuẩn bị và hy vọng, bỗng chốc đã tiêu tan. Các vận động viên kia, nghe khóc bèn chạy chậm, quay đầu nhìn. Cuối cùng, cả nhóm ngưng thi đấu. Quay trở lại.

Một người vội đến gần nhà lực sĩ vừa ngã quỵ ngã, hỏi rằng: “Anh thấy bớt chút nào không?” Sau đó, cả 9 người sánh vai chầm chậm đi về lằn mức chiến thắng, trong tiếng reo hò vang dội, cả cầu trường. Mọi người đồng loạt đứng dậy vô tay - la to. Họ hoan nghênh tinh thần yểm trợ của 9 vận động viện nước rút. Và tiếng pháo nổ ròn. Không dứt. Chứng kiến sự việc, mọi người kể chuyện lạ này cho người khác nghe. Nghe câu chuyện, có người bèn hỏi: tại sao thế?

Vâng. Chỉ là, tận cùng nơi thâm căn ở mỗi người, ta hiểu rằng: điều quan trọng của cuộc sống không phải để thắng cho bằng được. Mà, bằng mọi cách, giúp kẻ khác đạt chiến thắng. Dù việc đó, có làm chậm đi diễn tiến công việc của chúng ta. Hoặc, đi ngược luật thi đấu, ở hiện trường.

Giả như, mọi người đều tìm cách quảng bá thông điệp ‘giúp đỡ kẻ khác đạt chiến thắng’, hẳn ta sẽ thành công trong việc biến đổi trái tim của chính ta. Và, của mọi người. Bởi, một ngọn nến không thể làm mất đi giá trị của ánh sáng và lửa ngọn, khi nó được sử dụng để đem niềm vui và hy vọng, đến với người.”

 

            Dường như, đây là thông điệp mà các thánh khi xưa gửi đến với những người tham gia thi đấu, hoặc dự khán. Đến, mà thi đua ở vận động trường. Hay, chiến đấu ở chốn riêng tây. Thông điệp các thánh gửi, vẫn muốn kết hợp Lời Chúa với các vận hội từng trải, nhiều thế kỷ. Từ cuộc vận động thể tháo giữa người Do Thái, cho chí cuộc thi thể lực ở Hy lạp hoặc La Mã, thời xa xưa.

            Ngược giòng sử, người dự khán vẫn ghi đậm trong trí nhớ, rằng: người Do Thái thời kỳ đầu, tuy văn minh, nhưng vẫn dung-hoà chuyện lao-tư thể xác với ngơi nghỉ, ngày của Chúa. Vào dạo đó, cũng có thi đua. Có vận hội. Đủ loại, nhưng lực sĩ khi ấy chẳng hề chủ trương xây dựng nền văn hoá chỉ dựa vào mặt thể lý, với xác phàm. Ngược lại, họ nhằm mục tiêu hướng nhiều đến gia đình. Tuyệt đối, chẳng người nào màng đến việc cổ động tôn thờ thân xác. Thời của Chúa, nhà cầm quyền đã thiết lập các sân vận động ở Palestin, người La- Mã xây. Nhưng, chính người Do thái lại coi các hí trường này, như một hiện tượng đầy xỉ nhục. Không chấp nhận được. Huống hồ, tham gia thi đấu.

            Trong thư gửi giáo đoàn Cô-rin-thô, Phao-lô thánh-nhân có nhắc:

 

“Anh em biết đấy:

trong cuộc chạy đua trên thao trường,

tất cả mọi người đều chạy,

nhưng chỉ có một người đoạt giải.

Anh em hãy chạy thế nào để chiếm cho được phần thưởng…

Vậy tôi đây cũng chạy như thế,

chứ không chạy mà không xác tín;

tôi đấm như thế,

chứ không phải đấm vào không khí.

Tôi bắt thân thể phải chịu cực

và phục tùng,

kẻo sau khi rao giảng cho người khác, chính tôi lại bị loại.”

(1Cr 9-24)

           

Với Hy Lạp, dân tộc có nền văn hoá trau chuốt nhiều cho thân xác đã bắt đầu xuất hiện nhiều sự kiện. Họ tìm mọi cách để trau dồi thể hình bên ngoài. Dù, vẫn chủ trương “một tinh thần minh mẫn, trong thân hình tráng kiện”, nhưng chừng như mọi người đều để tâm chăm lo cho thân xác, hơn tinh thần. Lực sĩ nào, cũng muốn có thân hình cường tráng. Mạnh bạo. Để có thể thi đấu ở vận động trường mà khi ấy người Hy Lạp gọi là, vận hội Ô-lym-pích. Dấu chứng lịch sử cho thấy, các vận hội kiểu này đã xuất hiện rất lâu. Khởi từ năm 776, trước Công nguyên. Lúc đầu, họ chỉ tổ chức mỗi cuộc chạy bộ vòng vòng, quanh đấu trường. Sau, mới thêm một số bộ môn khác, như: ném đĩa, ném lao, nhảy cao, đánh võ, quần thảo, thi mười môn phối hợp, và tiếp đến, là: đua chiến xa có ngựa kéo. Lồng trong khuôn khổ vui chơi này, có thêm vài nghi tiết tế tự nhằm nối kết với vận hội, có thần linh chứng kiến. 

            Ban đầu, lực sĩ thi đua chỉ gồm người Hy Lạp. Sau, có thêm nhiều người từ các tỉnh thành - nơi khác, vội tìm đến. Thời chiến, các vận hội ngưng lại. Lúc đầu, không thấy phụ nữ tham gia. Dù, là thi đấu hay chỉ dự khán. Về sau, thấy có nữ thần Demeter hiện diện trong các buổi thi đua, chiến đấu này. Hầu hết, họ là lực sĩ tài tử chỉ đến dự. Tuyệt nhiên, không thấy vận động viên chuyên nghiệp. Người thi đấu, phải tuyên thệ giữ tinh thần thượng võ. Người thắng, không được phát huy chương. Chỉ được lãnh vương miện kết bằng lá ô-liu, quấn lên đầu.

            Liên tưởng đến phần thưởng tặng trao khi thi đấu, thánh Phao-lô có lời bàn, rằng:

 

            “Tôi chạy thẳng tới đích,

để chiếm được phần thưởng

từ trời cao

Thiên Chúa dành cho kẻ

được Người kêu gọi

trong Đức Ki-tô Giê-su.”

(Pl 3: 14)           

           

Người La Mã xưa, rất thích các trò chơi đầy bạo lực. Họ say mê lập thời biểu riêng, để tổ chức mỗi năm ít là vài hội thi. Thời điểm thường diễn trong năm, là cuối tháng Ba và tháng Chạp. Ban đầu, họ tổ chức thi đấu giữa người nô lệ với thú hoang, vào rạng sáng. Đến trưa, mới hành hình tội nhân hoặc hình sự, hoặc tôn giáo. Là tội nhân hay tín hữu, tất cả vẫn thua thiệt. Đều bị giết. Người thua cuộc, bị bỏ cho thú đói ăn thịt. Vào lúc xế chiều, có trận giác đấu còn tàn bạo, dữ dằn hơn. Lực sĩ nào thua, xác bị đem đi tế thần. Thời giáo hội tiên khởi, tín hữu Đạo Chúa vẫn là những vị hy sinh, bị đem làm vật tế thần. Thật tủi hổ.

            Về tính hy sinh của tín hữu Đức Kitô, thánh Gia-cô-bê đã viết:

 

“Phúc thay cho người

biết kiên trì chịu đựng cơn thử thách,

vì khi đã được tôi luyện, họ sẽ lãnh phần thưởng là sự sống

Chúa hứa ban cho những ai

yêu mến Người.

(Gc 1: 12)

           

Về với “cánh hồng Trung Quốc” ở Bắc Kinh, chắc chắn rồi ra cũng có nhiều bạn sau khi thi đấu, sẽ trở về trong vương vấn với lời thơ, đầy ý nhị:

 

            “Kìa nàng Trung Hoa xinh,

            đôi mắt em như hạt huyền,

nàng nhìn tôi sao không nói

            khiến tôi lo lắng ưu phiền

            lòng tôi như bóng trăng

            sẽ soi bên nàng trong giấc mơ tiên

để lòng cô say mê mãi khúc ca triền miên.” Phạm Duy – bđd)

 

            Say khúc ca triền miên trong thi đấu, sẽ có người cho đó là những “lo lắng ưu phiền”, “lòng như bóng trăng”. Nhưng với nhà Đạo, tình tự sẽ thân thương hơn, như truyện vui ở dưới. Truyện rằng:

 

“Cũng là ganh đua - thi đấu xem ai hơn ai kém, bốn lão bà sồn sồn người Công giáo, ngồi kháo láo với nhau, hỏi xem con bà nào, ai thuộc loại số một. Không ai sánh tày. Bà thứ nhất, giành nói trước:

-Các bà biết không? Con tôi, vừa ngoan hiền lại vừa đạo đức, cháu mới làm linh mục được vài năm. Ấy thế mà, hễ cháu vào phòng họp hay đi tới đâu, mọi người đều răm rắp đứng dậy chào thưa: “Con chào cha!” Chỉ khi nào, con trai của tôi mỉm cười chào lại, và phất tay ra dấu, mọi người mới dám ngồi xuống, đấy!…

Nghe kể, bà thứ hai chưa gì đã thấy nóng mặt, bèn khoe lại:          

-Con của tôi ấy? Cháu làm giám mục đâu đã được bao năm. Thế nhưng, hễ cháu tới nơi nào, cũng thấy mọi người bái gối muốn quỳ, hết chào “Thưa Đức Cha”, rồi còn muốn hôn ngón tay với lại hôn nhẫn vàng, loạn cả lên thôi.

Bà thứ ba, rất bình tĩnh. Nghe hai bà kia kể, bà khoác tay nói nhỏ:

-Con của tôi, ấy các bác biết không? Cháu mới được phong mỗi chức Hồng y thôi, mà sao cả người có đạo lẫn người ngoài đời đều thưa gửi một điều :Dạ thưa Đức Hồng y khả kính!” hai điều gọi ngài là “Đức Tổng”. Có thua gì tổng thống đâu! Còn nữa, mỗi lần cháu đi qua, mọi người còn tránh chỗ nhường lối cho ngài bước qua, đầu cúi gầm…

Bà thứ tư nghe chuyện, không có dáng vội vàng, cứ từ từ nhắp ngụm cà phê xong, mới nói:

-Này các bà, tôi đây chẳng biết con trai mình làm tới cỡ nào. Mà sao, cứ nhìn thấy anh chàng, “vai năm thuớc rộng, thân mười thước cao”, bước ngang qua mặt, là mọi người đều kêu lên: “Giê-su, ôi Lạy Chúa!”

 

            Thời nay, có lẽ nhiều người đã quen với các trò ganh đua/thi đấu, ta thấy nhan nhản trên đường đời. Họ chẳng nề hà gì chuyện thực hư/khiêm tốn. Nhưng, dường như lúc nào, cũng chỉ muốn “nổ bạo”. Bao giờ, cũng chỉ biết có hơn - thua. Hơn hay thua, trong nghiên cứu học hỏi, đều rất hiếm. Thua và hơn, trong phục vụ, ít thấy ai. 

            Lời bàn cuối, là một nhắn nhủ của thánh-nhân/tông đồ trong Sách Thánh:

 

“Tôi đã đấu trong cuộc thi cao đẹp,

đã chạy hết chặng đường,

đã giữ vững niềm tin.

Giờ đây tôi chỉ còn đợi

vòng hoa dành cho người công chính;

Chúa là vị Thẩm Phán chí công

sẽ trao phần thưởng đó

cho tôi trong Ngày ấy.”

(2 Tm 4: 7-8)

 

            Phần thưởng này, sẽ dành để cho bạn. Cho tôi. Cho tất cả. Vì, tất cả chúng ta đều đã và đang dấn bước trong hành trình thi đua phấn đấu trong phục vụ. Phục vụ, có niềm tin - yêu. Chứ không chỉ  thi đấu, mỗi hơn thua.

 

            Trần Ngọc Mười Hai

            Chẳng dám ganh đua,

cùng thi đấu với bất cứ ai

nơi trường đời.

 

Anh khách lạ, đi lên đi xuống

may mà có em, đời còn dễ thương”

(Phạm Duy – Còn chút gì để nhớ)

(Xh 23: 9)

            Điều khác lạ, là: người tự xưng làm “Khách lạ” ấy, vẫn thấy “đời còn dễ thương” vì “may mà có em”… Lời trần tình, không chỉ xuất hiện ở “Nhạc vàng” xuất bản tại Sài gòn năm 1972, mà thôi; nhưng lại xảy ra cùng khắp, ở cả Úc. Lúc, có Đại Hội Giới trẻ Thế Giới diễn ra ở Sydney hồi tháng Bẩy năm 2008. Khi đó, có đến trăm ngàn “khách lạ” rất trẻ, đến từ hơn trăm đất miền, xa xôi ấy. Để gặp nhau. Để  cùng lĩnh nhận “sức mạnh quyền uy của Thánh Thần”. Để, thấy là: đời mình còn dễ thương. Và thương rất dễ. Vì, có anh khách lạ, đi lên đi xuống.

            Dễ thương hơn, là nhận định của một bạn trẻ người Việt đã bộc lộ một “phát giác kinh khủng”, khi em cho rằng: thời buổi này, sao quá nhiều “khách lạ” rất trẻ, vẫn còn giữ Đạo. Rất hăng say. Vẫn còn giữ Đạo trong tình thương cởi mở của những người được Chúa đoái hoài. Rất dễ thương.

            Và hôm ấy, nếu “khách lạ” trẻ lại đổi tên Pleiku thành một Sydney, hẳn ta có câu hát:

 

            “Em Sydney, má đỏ môi hồng,

            ở đây buổi chiều, quanh năm mùa đông

            nên tóc em ướt, và mắt em ướt

            nên em mềm như mây chiều trong.” (Phạm Duy – bđd)

 

            Đáp lại, tình tự của người trẻ Sydney đã đối xử với “khách lạ” đến từ hơn một trăm nước, chắc hẳn “khách lạ” đã và sẽ thốt lên, lời:

 

                        “Xin cảm ơn, thành phố có em

                        xin cảm ơn, một mái tóc mềm

                        mai xa lắng, trên đồn biên giới

                        còn một chút gì, để nhớ để quên…”

(Phạm Duy – bđd)

 

Tâm tình dễ thương, cử chỉ cao đẹp của người em “má đỏ môi hồng” này, làm ta nhớ đến Lời dạy ở Sách Kinh. Kinh Sách vẫn hay viết:

 

            “Ngươi sẽ không áp bức khách lạ ngụ cư

 vì chính các ngươi đã biết thân phận

của khách lạ ngụ cư,

vì các ngươi đã từng là khách cư ngụ ở Ai-cập.”

(Xh 23: 9)

 

            Từ Lời Ngài, mà dân con nhà Đạo, những người từng được Kinh Sách hướng dẫn, nay học được tính tốt lành của người xưa.

Kinh Sách hướng dẫn, rằng: vào thời huyền thoại rất xưa, khi người dân thành Ni-ni-vê được Chúa gọi mời ăn ở tốt lành với khách lạ/người dưng. Bởi, với Thiên Chúa của Nôê, chẳng ai là khách lạ cả. Có là người em Pleiku hôm trước, hay Sydney/Cologne hôm nay, hoặc từ đâu đến, đều là dân con cộng đoàn được Chúa thương.

            Vậy nên, con dân của Chúa hôm nay đã biết mở rộng vòng tay, để đón khách hành hương chốn rất lạ, đến tá túc mà không đòi và, cũng chẳng hỏi điều gì.

            Nhà Đạo hôm nay, được như thế, cũng chứng tỏ tính hiền từ/hiếu khách như người Samaritanô thời trước. Khách lạ xứ Samaritanô được xem như như gia đình. Và, từ dụ ngôn hôm ấy, Chúa đã gọi mời người hãy noi gương khách lạ, mà đối xử như người thân. Trong ngoài Đạo.     

            Bởi, xưa Chúa đón tiếp “khách lạ” cùng với dân đen, đám phong cùi/tật nguyền, phường thu thuế. Cả giới giang hồ, làng chơi, trộm cắp, tù tội, lẫn ngoại tình. Đủ cả. Cả đến đám người mà chỉ nghĩ tới, ta đã muốn tránh xa. Thế mà, Chúa vẫn ngồi cùng bàn. Qua các cử chỉ hiếu khách/chung chạ ấy, Ngài mới đưa họ về với tương quan mật thiết, như người cùng nhà.

            Thậm chí, Chúa còn đóng vai vị chủ nhà –trong dụ ngôn “mở tiệc đãi khách”-  cho gọi mời hết mọi người, đầu đường. Xó chợ. Đến mà dự tiệc. Đến mà tỏ bày tình thân. Như gia đình. Với người Do thái xưa, tham dự tiệc là tham dự nghi tiết mang tính tế tự. Phản ánh “Tiệc Cánh Chung”, sau hết. Ở tiệc đó, người Do thái thời ấy, không chấp nhận khách lạ/người dưng, được đến dự. Bằng vào cử chỉ hiếu khách, chí ít cả khách lạ, Chúa chứng tỏ: tất cả mọi người, dù ở trong hay ngoài luồng, ta đều thuộc chung một gia đình. Gia đình của Chúa.

            Chúa thương người dưng/khách lạ, cả khi người đời dồn ngài vào tư thế của khách lạ/dửng dưng, bằng chính cái chết khổ nhục trên thập giá. Bởi, chết trên thập giá, là nỗi chết quá tồi tệ. Là, món quà người Do Thái chỉ dành tặng cho người dưng/khác họ. Dửng dưng. Trộm cắp. Thối tha. Điều đó chứng tỏ, rằng tình của “em Pleiku hay anh Sydney má đỏ môi hồng”, lâu nay vẫn mở rộng cho “anh khách lạ, đi lên đi xuống”, rất người dưng.

            Những người từng “đi lên/đi xuống” khác trong ngôn ngữ, tập tục đầy rẽ chia ấy, nay được sức mạnh/quyền uy Chúa Thánh Linh hợp hoà vào ngày Ngũ Tuần, hôm ấy. Ngày, mà mọi người không còn nên khách lạ hoặc dửng dưng như trước, nhưng đã xử sự như anh em ruột một nhà. Cùng ngôn ngữ. Tập tục. Chung và cùng đến độ, có người đã phải thất thanh, kêu lên:

 

            “Kìa những người kia,

            hết thảy không phải là dân Galilê ư?

            sao mỗi người chúng ta

lại nghe họ nói tiếng mẹ đẻ của chúng ta?”

(Cv 2: 7)

           

Từ dạo ấy, Hội thánh tiên khởi cố gắng đưa mọi khách lạ/người dưng trở về cùng sống chung, như cộng đoàn. Và, Hội thánh bắt đầu chăm nom săn sóc, cấp thức ăn cho mọi người. Từ dạo đó, mọi khách lạ/người dưng sống ngoài thành thị/nơi dân dã, cả ở ngoài đều được đón tiếp, ngồi chung một bàn. Bàn tiệc hội thánh. Bởi, khi đón nhận người dưng/khách lạ, chính là Hội thánh tiếp đón Chúa.

            Hôm nay, khách lạ/người dưng kia có thể là người khác chính kiến. Khác Đạo. Những người bị cho là cuồng tín. Quân khủng bố, chuyên ôm bom tự sát. Hoặc, người bị vu cáo cướp vợ, giựt chồng. Rất ngoại tình. Nói chung, là tội phạm. Là, người ăn mặc khác với ta. Đầu đội khăn kín. Ăn nói, cũng khác với mình. Là, người không thân thiện, khi ta chào hỏi. Hoặc, chẳng bao giờ cười chào. Mỗi khi gặp mặt, chỉ đứng xa.

            Vậy nên, cách hay nhất để thực hiện điều-gọi-là “tứ hải giai huynh đệ’, là: ta hãy đi bước trước mà gặp gỡ. Mà, chào hỏi. Hăng say gặp mặt. Gặp, như giới trẻ đã gặp nhau ngày Đại Hội. Chẳng cần biết anh kia chị nọ tuổi đời cao hay thấp, vẫn cứ gặp. Không cần hỏi: anh/chị Đạo nào? Vẫn cứ chơi.

            Có lân la, làm bạn với người dưng/khách lạ, ta mới phá vỡ được ranh giới tách biệt, nhiều xa cách. Đó chính là diện mạo của Hội thánh, hôm nay. Hội thánh hôm nay, không còn mang tính quốc gia, cục bộ nữa. Việc của Hội thánh hôm nay, là: giao hoà với hết mọi người dưng/khách lạ, chưa từng quen biết. Có ra đi giáp mặt người dưng/khách lạ, Hội thánh Chúa mới đích thực là Hội của những người rất thánh thiện. Hội của muôn dân, “tứ hải giai huynh đệ”. Cùng một lòng. Một ý chí. Niềm tin - yêu. Hội thánh phải làm sao, để ta có thể tiếp tục hát lên bài ca trên, rất êm đềm:

 

            “Phố núi cao, phố núi trời gần

            phố xá không xa nên phố tình thân

            đi dăm phút đã về chốn cũ

            một buổi chiều nào, lòng vẫn bâng khuâng…”

(Phạm Duy – bđd)

 

            Phố xá không xa, trời đất thật gần. Nên, ta có cơ hội gặp gỡ khách lạ/người dưng, ở mọi nơi. Mỗi lần gặp, là một lần kết tình thân thương, để quên và để nhớ. Nhớ, như chuyện người khách lạ kỳ, ở dưới:

 

“Khách lạ hôm ấy là cô bé, tuổi rất nhỏ. Cô hì hục, lôi từ tủ đựng đồ, lấy ra một hũ thuỷ tinh, không còn bánh kẹo, chỉ đựng tiền. Cô bé cẩn thận, đổ hết đồng tiền cắc, ra đếm. Đếm đi đếm lại, nhiều lần vẫn chỉ có đúng bấy nhiêu thôi. Nghĩ một hồi, cô bé cho tiền cắc lại vào hũ, rất cẩn trọng. Và cô cầm tất cả số tiền này ra tiệm thuốc tây gần nhà.

Đến tiệm thuốc, cô bé cứ đứng chờ người dược sĩ định bụng nếu ông để mắt nhìn cô, thì cô sẽ nói. Nhưng, vị thầy thuốc to cao, lạ lùng ấy vẫn cứ bận rộn, chẳng ngó ngàng gì đến cô. Cô bèn xoay gót giày, cố ý cho kêu thành tiếng để làm thân. Nhưng vẫn cứ im lặng, mọi sự tình. Cô bé liền cố gắng đằng hắng lấy giọng, ra chiều ốm đau ghê lắm. Chẳng thành công. Cuối cùng, cô dùng đồng 5 cắc, gõ vào quầy kính.

Ông dược sĩ hỏi:

-Nào, bé cần gì? Xin lỗi nhé. Chả là lâu lắm, mới được chuyện trò với người anh, từ xa đến. Chuyện dứt không được.

-Con muốn hỏi bác về người anh con. Anh đau dữ lắm. Con muốn mua phép lạ.

-Cô bé nói gì thế? Mua phép lạ, là mua cái gì?

-Anh con tên Ru. Anh con có cục gì đó đang mọc trong đầu. Ba nói: chỉ có phép lạ mới cứu nổi anh, thôi. Và, con thương anh lắm, không muốn anh chết, nên con đến hỏi bác xem muốn có phép lạ con phải mất bao nhiêu?                                  

-Con đừng buồn, ở đây Bác không bán buôn phép lạ. Nhưng bác vẫn có thể giúp con…

-Vâng, thế thì ….Đây, con có tiền trả cho bác, rất sòng phẳng. Nếu không đủ. Con sẽ cố kiếm xin thêm. Chỉ cần bác nói cho con biết phải tốn hết bao nhiêu, để mua một phép lạ?

Người anh của nhà dược sĩ đứng cạnh nghe biết chuyện, bèn cúi xuống hỏi nhỏ bé Tess:

-Anh của bé, cần loại phép lạ nào thế?

-Con cũng không biết nữa. Con chỉ biết có mỗi điều, là: anh Ru của con đang dữ lắm. Má con vẫn nói: anh con mà muốn khỏi, thế nào cũng phải mổ, thôi. Nhưng Ba thì không có gì để trả tiền mổ. Nghe đâu mắc dữ lắm. Vậy nên, con muốn dùng tiền con dành dụm trong lon thế vào, mua phép lạ thôi. 

-Thế, bé có bao nhiêu? Người anh của dược sĩ từ Chicago đến, thấy vui bèn vội hỏi.

-Con đếm nhiều lần rồi, cũng mới có được 1 đồng 11 xu thôi; nhưng con sẽ cố, nều cần.

Vị dược sĩ nghe vậy, bèn nói với anh của ông ta:

-Chà! Đúng là chuyện trùng hợp.1 đôla 11 xu, là giá của phép lạ cho anh, đúng rồi còn gì.

Anh của người dược sĩ bán thuốc, cầm mấy đồng tiền kẽm trên, nhận lời. Tay kia, ông nắm chặt vai cô bé tốt bụng rất thương người anh bệnh tật, và bảo:

-Nào đâu, bé đưa bác về nhà để bác xem anh của bé đau nặng đến cỡ nào, mà cần phải mổ với xẻ; để xem bác có mua - bán được phép lạ mà bé cần không nhé.     

Và, người anh của vị dược sĩ vừa nói đó, chính là Bác sĩ Carlton Armstrong, chuyên gia phẫu thuật thần kinh của Mỹ, vào thời ấy. Và, hôm ấy, ca phẫu thuật cho người anh của cô bé là anh Ru, hoàn toàn miễn phí. Và ca mổ này cũng không kéo dài quá sức chịu đựng của bệnh nhân nhỏ, như cha mẹ bé vẫn lo ngại.

Và từ đó, người dân trong vùng vẫn cứ nói với nhau về một phép lạ thực sự, xảy đến với dân. Mỗi lần hỏi bé Tess, phép lạ cho anh của bé tốn bao nhiêu, thì bé Tess chỉ mỉm cười, vì bé biết rõ: nó chỉ mất đúng một đô la 11 xu, cộng thêm niềm tin be bé của trẻ nhỏ, tên Tess.

Nhìn lại đời mình, ta có biết bao nhiêu là phép lạ. Và, ta cũng cần đến phép lạ, từ người dưng/khách đã cho mình. Phép lạ, chính là món quà vẫn dành để cho bạn và cho tôi, từ người dưng khác họ.

 

Và, phép lạ vẫn là quà tặng từ Thiên Chúa. Cho tất cả mọi người. Cả đến khách lạ, như:

 

                        “một chút gì, để nhớ để quên.” (Phạm Duy-bđd)

 

                        Và hôm nay đây, chính những người anh, người chị, cả bạn và tôi nữa, chúng mình chẳng bao giờ là khách lạ, người dưng. Nhưng mọi người vẫn là:

 

Em Pleiku, má đỏ môi hồng.”(Phạm Duy-bđd)

 

Đỏ đỏ/hồng hồng vì đã biết thương nhau như người thân. Trong gia đình. Và cộng đoàn.

 

            Trần Ngọc Mười hai

            Vẫn còn chút gì đó

để nhớ để… thương.

Thương người anh, người chị

Trong gia đình.

Trong Hội thánh. 

 

 

   “Trời mưa ở Huế sao buồn thế!”
Cứ kéo dài ra đến mấy ngày
Xa xôi ai nhớ mà thương nhớ?
Mà nhớ mà thương đến thế này!

(Thơ nguyễn Bính)

(Cl 3: 10)

            Bần đạo rất hân hạnh được ở Huế. Những ba năm. Cũng có lúc, thấy đời ở đây đã rất buồn. Buồn da diết. Buồn lê thê. Nỗi buồn và niềm nhớ rất khôn nguôi. Vô tả. Chỉ biết, buồn với nhớ, nghĩ mà thương. Hết thương rồi lại nhớ, cứ vấn vương nỗi buồn nhè nhẹ, hệt như thơ.

            Và, bần đạo chẳng biết mình yêu thơ yêu nhạc từ bao giờ. Thấy Huế một lần, bần đạo đã bắt đầu biết yêu thơ. Và yêu nhạc. Yêu thơ hay yêu nhạc, lại nhớ Huế. Rất nên thơ. Nhiều lúc, bần đạo thấy mình như người khờ. Cứ khạo khờ hết trích thơ rồi trích nhạc, có lời Kinh. Thôi thì, bầu bạn thương tình hãy cứ làm ngơ cho. Có thế, hôm nay bần đạo mới lại xông vào vùng đầy thơ để viết thêm đôi giòng, thù tiếp bạn bè dăm ba chuyện. Vu vơ. Luận phiếm. Nào xin phiếm.

            Thuở mới yêu thơ, bần đạo đã gặp những câu tương tợ, đầy chất thơ như sau:

 

            “Cố nhân chẳng khoá buồng xuân lại,

            Vung vãi ân tình khắp đó đây.

            Mưa chiều, nắng sớm người ta bảo

            Cả đến ông Trời cũng đổi thay.” (Nguyễn Bính – bđd)

 

            Ở nhà Đạo, bần đệ lại được nghe bảo như thế này:

           

            “Anh em đừng có rập theo đời này,

nhưng hãy cải biến con người anh em

bằng cách đổi mới tâm thần,

hầu có thể nhận ra đâu là ý Thiên Chúa:

cái gì là tốt,

cái gì đẹp lòng Chúa,

cái gì hoàn hảo.”

            (Rm 12: 2)

 

            Hoặc:

            “Anh em đã mặc lấy con người mới,

            con người hằng được đổi mới

theo hình ảnh Đấng Tạo Hoá,

            để được thông hiểu”.

            (Cl 3: 10)

           

            Một đằng, nhà thơ ở đời cứ bảo ”cả đến ông Trời … cũng đổi thay”. Một đằng, vị “ngôn sứ” nhà Đạo lại khuyên “đổi mới con người … để được thông hiểu”. Thế mới biết, hiểu chuyện “Ông Trời”, chuyện con người cần cải biến, là điều rất nên làm.

            Về biến cải/đổi thay, cũng nên để ý mà xem giới trẻ bây giờ nghĩ sao, về chuyện ấy. Giới trẻ giờ này vẫn làm thơ hay viết nhạc? Thơ với nhạc trong tâm tình nhiều ý nghĩ, rất ít lời. Rất chân tình. Thân thương như lời hỏi đáp, nhân một phỏng vấn bỏ túi trên tờ Australian catholics, Sydney số Mùa Đông 2008, ở bên dưới:

Người trẻ nói ở đây, có là con người nói chung hay chỉ là người con, cũng vẫn là những cô cậu rất trẻ người nhưng không non dạ. Làm sao non dạ, khi các người trẻ tuổi ở Úc, đã có những nhận định rất ư là không “non dạ”, vào những ngày trước khi Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới  2008 diễn ra ở Sydney, như sau:

 

Khi được hỏi:

1.    Anh/chị có được kinh nghiệm gì khi về đây tham gia Đại Hội Giới Trẻ, ở Úc?

2.    Nếu được phép hỏi Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI một câu, câu đó sẽ như thế nào?

 

Trả lời đầu, là của cô Caterina Golotta, 27 tuổi ở Alice Springs, Bắc Úc:

1.      Hy vọng rằng nhờ thấy và gặp rất nhiều người cùng niềm tin, tôi sẽ thấy sống lại nơi mình niềm linh đạo đã có từ trước, và thấy mình vững chãi hơn nhiều khi bước theo chân Chúa trong yêu thương. Và quyết tâm. 

2.     Có lẽ tôi sẽ hỏi: Ngài có vui không, thưa Đức Cha?”. Và tôi chắc mình cũng chỉ muốn nói chuyện với ngài như con người bình thường. Nghĩa là, chỉ xem ngài có phản ứng ra sao, thôi.

Còn với Carly McDermott, 23 tuổi ở Melbourne, vùng miệt dưới thì:

1.         Lâu nay tôi vẫn có nhiều bạn sống cuộc đời đúng ý nghĩa và vai trò người Công giáo, ở chung quanh. Những người có các hành xử thực sự như người làm chứng cho Đức Kitô. Các linh mục đã khuyến khích tôi rất nhiều, là nên tham gia vào với Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới. Đôi lúc, tôi có ý nghĩ: với tư cách là người còn ít tuổi trong hội thánh, tôi cũng cảm thấy có hơi đơn độc, lẻ loi. Nhiều khi, thấy mình là người còn ít tuổi duy nhất chịu đi lễ nhà thờ. Bởi thế tôi nghĩ là, ta cứ đến với Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới, và mở to con mắt ra mà nhìn, hẳn sẽ thấy và sẽ gặp cả nửa triệu con người Công giáo trẻ, ở quanh mình. Và, chắc chắn không còn lẻ loi nữa.

2.    Trả lời cho câu hỏi: Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới làm được gì cho đất nước của tôi, à? Thì tôi nghĩ: tôi hy vọng rằng một Đại Hội như thế này sẽ tạo ra nhiều hình ảnh tích cực về Hội thánh. Và, tôi đoán, Đại Hội  cũng sẽ cho thấy các chấn động và rung cảm xảy đến với những người trẻ như tôi khi quyết tham gia Đại Hội. Nội việc ấy thôi, cũng đã làm nhiều người thêm trẻ trung ra...

Với Alexandra Ryan, 23 tuổi ở Melbourne, bang Victoria:

1.     Đại Hội GTTG 2008 làm được gì cho nước tôi ư? Tôi nghĩ, đây là cơ hội tuyệt vời    cho các người trẻ như tôi học hỏi thêm về niềm tin của mình.

2.      Điều gì lôi cuốn tôi đến với Đại Hội ấy à?

Tôi nghĩ: Niềm tin của người Công giáo chúng ta đã đem đến cho anh chị em mình nhiều hy vọng. Với thế giới này, chúng mình cần đến sức mạnh để vượt qua nhiều tình huống không dễ. Hội thánh Chúa thực sự là tình yêu; và đối với tôi, điều này rất quan trọng. Dù đó chỉ là nụ cười mỉm hay một lời nói thôi, cũng đủ làm nhẹ và nâng tâm can của nhiều người. Tôi nghĩ, niềm tin là những gì như thế đấy.

Với chàng trai rất trẻ có tên là : Connor Laughton 17 tuổi ở Darwin, miền Bắc Úc, thì:

 

1. Để trả lời câu thứ nhất: kỳ vọng điều gì sẽ xảy đến đối với bản thân của mình sau kinh nghiệm được tham gia Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới ở Sydney, thì tôi nghĩ: điều mà tôi lo toan nhiều nhất vào lúc này, là: làm sao đi đến Trường Đua Randwick để ngủ ở “khách sạn ngàn sao” có mây trời lãng đãng. Bởi, nơi đó, có đến cả trăm ngàn người còn rất trẻ cũng sẽ cùng đến với nhau, để mừng cho niềm tin của mình, theo tư cách của nhiều lữ khách đang hành trình về với cuộc sống miên trường. Cuộc sống có Vị Cha Chung nơi Thiên Quốc Nước Trời! Đến đây, để thấy và cử hành Tiệc thánh với Đức Giáo Hoàng Biển Đức thứ XVI. Và, đây chính là cơ hội ngàn đời mới có một lần.

1. Hỏi ngài Giáo Hoàng Biển Đức XVI, câu nào ư? Vâng, câu hỏi của tôi sẽ là: “Ngài có  muốn bỏ ra nguyên ngày trời để ở với bọn trẻ như con, không? Hỏi xong, tôi cũng sẽ   quay về với ngài để có những giờ phút vui tươi. Thoải mái. Vô tư. Và yêu đời.

 

Và, với Donna McDale, 27 tuổi ở Brisbane, bang Queesland, thì lại khác. Cô phát biểu lẹ:

 

1.Tôi sẽ kỳ vọng những gì ở nơi Đại Hội Giời trẻ Thế Giới ở Sydney này ư? – Tôi hiện đang dẫn dắt một nhóm bạn trẻ rất đông, sơ sơ có 115 bạn thôi. Phân nửa số người này là từ Đảo quốc Fiji, nửa còn lại là các học sinh còn khá trẻ học ở các trường trung học, mà tôi có dịp hướng dẫn đồng hành, thuộc vùng Sunshine Coast. Tôi hy vọng rằng Đại Hội Giới Trẻ thế Giới  lần thứ 23 này ở Sydney, sẽ là một dịp đầy hồng ân chữa lành cho mỗi người trẻ đi hành hương. Cho mỗi gia đình, mỗi cộng đoàn và quốc gia, họ xuất phát.

2.      Nếu được phép hỏi Đức Giáo Hoàng một câu thôi, thì

sao hả? Thì có lẽ, tôi sẽ nói như thế này: Cha hãy nguyện cầu thật nhiều cho các giáo xứ Công giáo ở Úc. Bởi tụi con, dường như đang còn phiêu lưu lãng đãng, ở nơi xa, chưa đơm hoa kết trái. Chưa ra ngoài để về với các cộng đồng cần sự sáng tạo, vui tươi và hỗ trợ cho nhau. Con vẫn muốn cộng đoàn chúng con phải được như thế. Nếu được Cha chấp nhận, con còn muốn sao cho mọi người biết khuyến khích nhau mà nguyện cầu để Thánh Thần Chúa đến thả neo ở với mọi người chúng con tại Úc. Và, có như thế Hội thánh mới chữa lành được mọi người.

 

Và với cô bé còn rất trẻ tên Georgia Huxley, 17 tuổi ở thủ đô Canberra, thì:

1. Tôi kỳ vọng những gì có được từ Đại Hội Giới Trẻ ở Sydney, ư? Thật sự, tôi vẫn mong sao mình củng cố niềm tin của chúng mình. Và, tìm cách tạo được quân bình cho cuộc sống của riêng tôi với những thử thách cũng như âu sầu, khổ não mà mình vẫn gặp mỗi ngày để thực sự cảm nhận được công việc mà Chúa đang hoạt động trong mỗi người. Để rồi, tôi có thể mời Ngài đến làm một thành phần của chính tôi trong cuộc sống, cũng như sẽ giúp hướng dẫn tôi trong tất cả mọi việc tôi đang làm.                        

2.      Còn về câu: những dịp lễ hội như thế này có giúp cho

người trẻ như tôi đào sâu được niềm tin của mình thêm vững chắc hay không? thì tôi sẽ trả lời như thế này: Luôn phải có những khẳng định nhất mực là: mình đến với nhau theo phương cách sao đó khả dĩ có thể thăng tiến chính mình, âu cũng là điều xứng đáng thôi. Với lại, có sự thể là, mình sẽ được cơ hội để làm cho mọi người được yêu thương nhau theo cung cách rất riêng, của mỗi người. Những dịp lễ hội như Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới này vẫn là một khẳng định. Khẳng định rằng: Thiên Chúa yêu thương mình đến độ nào. Và, việc này cũng còn khẳng định các chuyện linh thiêng, tích cực khác nữa. Việc ấy, không chỉ bảo đảm là mọi người đều có phẩm cách xứng hợp mà thôi. Nhưng, niềm tin của ta cũng là điều đáng để ta tin, nữa.         

   

            Theo thiển nghĩ, các bạn trẻ ở trên đang làm thơ và cũng đặt nhạc, đấy chứ. Nhưng, thơ và nhạc của các bạn, còn hay hơn nhiều nhạc bản rất thiếu thơ mà bạn và tôi vẫn nghe ở trong đời; cũng như, nơi nhà Đạo..

            Quả trong đời, có những sẻ chia vẫn hay hơn các nhạc bản chẳng có thơ, trong đời. Của người. Thơ và nhạc ấy, có thể chỉ vỏn vẹn tư tưởng văn vắn, như câu truyện ở dưới đây:

 

“Vị thày giảng nọ còn rất trẻ. Ông mới ra trường được có vài ba năm. Nhưng phong thái giảng giải của ông đã, rất tự tin. Khá thích hợp. Để chứng minh: con người, ở hoàn cảnh nào cũng có giá trị không thay đổi ở nơi mình. Ông hăng hái bắt đầu bài diễn giải có ý tưởng súc tích của Kinh thư bằng những lời hỏi đáp, rất chân tình.    

Vào buổi hội thảo về chuyện rất Đạo xảy đến trong cuộc đời, cử toạ hôm ấy đếm được trên trăm vị. Vị nào vị nấy trông khá siêng chăm, nhiều khí thế. Vị thày giảng, rút từ trong túi ra một tờ giấy bạc có trị giá, khá cao. Giơ tờ bạc cho mọi người được trông thấy. Xong, ông bảo:

-Tôi xin phép được tặng riêng một vị ngồi nghe ở đây, tờ giấy bạc có giá trị này. Chỉ một điều kiện nhỏ, là: xin quý vị hãy nhìn kỹ và cho biết, sau khi tôi vo viên tờ giấy bạc này, nó sẽ ra như thế nào? Và, có vị nào vẫn muốn nhận tờ giấy này như quà tặng không?

Nói xong, ông vo viên tờ giấy bạc thành một nhúm giấy mọn. Sau đó, ông cầm tờ giấy đã vò ấy lên, rồi hỏi:

-Bây giờ, nó nhăn nhúm như thế này, có còn vị nào vẫn muốn có nó nữa không?

Tức thì, có nhiều bàn tay giơ lên, chấp nhận. Ông lại cầm nhúm giấy vô tri vô giác ném xuống đất, dùng chân giày vùi dập và nghiền cho nó nát bấy, rồi cầm lên cho mọi người thấy nó bây giờ chỉ là một vật đầy bụi đất, lấm tấm vô duyên. Và ông hỏi:

-Vậy bây giờ, tấm giấy có hình thù xấu xí như thế này, có vị nào còn muốn nhận nó như thường, không ạ?

Vẫn có nhiều bàn tay giơ lên, chẳng hề thấy bẽn lẽn. Vẫn vô tư. Thấy vậy, thày giảng lại nói:

-Hôm nay, bà con mình học được thêm một bài học này, là: dù ta có làm gì đi nữa, rất hèn hạ, thậm tệ, hoặc mất vệ sinh, đi chăng nữa, thì giá trị của tờ giấy bạc này, đâu có hư mất đi đâu, có phải thế không thưa quý vị? Có nhiều lần, ta bắt gặp trong đời mình, có những khoảnh khắc mình thấy cuộc đời chẳng còn gì giá trị nữa. Tức là, cũng vẫn buồn như bao giờ. Và đời người cũng chẳng còn gì là thi vị, để mà sống. Tuy nhiên, như có người từng bảo: nếu ta nhìn đời bằng mầu hồng, thì ta sẽ thấy nó vui. Thi vị. Có giá trị rất lớn. Nếu ta nhìn đời như mầu đen kịt, thì thật ra nó chỉ đen với riêng người ấy, mà thôi. Tự thân, đời vẫn có giá. Vẫn đáng sống, đấy chứ. Bởi vậy, có thể nói: đời con người sẽ có giá trị hay không, là tuỳ cặp mắt và cách nhìn của mỗi người.

 

            Nghe truyện kể về thày giảng còn rất trẻ, bần đạo thấy mình như vừa được nghe một vần thơ, nhạc bản rất nhẹ. Thanh tao. Thú vị.

Trở lại với đầu đề của chuyện phiếm, “Trời mưa ở Huế (đâu) buồn thế”. Mưa trên phố Huế, vẫn thơ mộng. Nhớ nhung có niềm vui nhỏ, đấy chứ? Mưa chỉ buồn, khi người ngồi ngắm mưa có tâm sự chẳng vui, thôi. Chẳng thế mà, thi sĩ nọ vẫn ngâm nga câu thơ, rằng:

 

            “Thà như giọt nước vỡ trên tượng đá,

            thà như giọt mưa rớt trên tượng đá.

            Có còn hơn không. Có còn hơn không…”

(Nguyễn Tất Nhiên – Khúc buồn tình)

 

            Cụm từ “có còn hơn không” vẫn được lặp đi lặp lại nhiều lần, hẳn giống như: có còn cuộc sống! Có còn niềm tin, vẫn hơn là không. Và, vấn đề: cuộc sống ấy, của bạn và của tôi, có hiền hoà? Niềm tin của tôi và của bạn, có vững chãi hay không? Đó là chuyện để ta đem phiếm. Bàn luận.

            Và, giờ phút này đây, dù nhà thơ kia có than “trời mưa ở Huế sao buồn thế”, thì bạn và tôi cứ nhất định sẽ nói: mưa Huế có buồn, đời anh đời tôi vẫn cứ vui. Vui, vì cuộc đời vẫn vui như thế ấy. Vẫn đáng sống. Vui đáng sống, vì ta đã nhận ra “cái gì tốt”, “cái gì đẹp lòng Chúa…” Rất hoàn hảo. Rất tươi vui. Như niềm tin mọi người.

 

            Trần Ngọc Mười Hai

            Vẫn ới gọi bạn bè ở muôn nơi

            hãy cứ vui và luôn tin

            rằng đời mình vẫn thế.

                                

 

 

 

“Riêng mình ta ngồi ngắm quanh trời“
lạnh lùng nghe tiếng chim chiều gọi đàn
buồn xa vắng buồn lòng thầm nhớ tới người
Chiều xưa cũng trên đồi cùng ta
Người đã ước nguyền rằng đời riêng có ta
Lời đó còn đâu?

(Nguyễn Văn Khánh – Chiều Vàng)

(Cv 5: 11)

            Mới vừa đây, trong buổi mạn đàm với nhóm người trẻ ở Sydney, bần đạo nhìn ra được tinh thần và mối bận tâm của anh chị em đã hơn một lần, từng hăng say phụ giúp Đại Hội Giới Trẻ, ở nơi đây. Giới trẻ hôm nay, không còn “ngồi ngắm quanh trời”, để “buồn xa vắng buồn” nữa, nhưng đã biết tìm xem “Lời đó còn đâu?”.

            Bận tâm/ưu tư của nhóm trẻ mà bần đạo có dịp trò chuyện, tuy không sục sôi như hồi Đại Hội tháng 7/2008. Nhưng, vẫn bức xúc, như thuở nào. Vẫn lo cho Hội thánh ở khắp nơi. Vẫn còn “nhớ tới người”, ở quê nhà dấu yêu. Tiêu điều. Cần giúp đỡ.

            Và, quyết định của nhóm trẻ sau buổi ấy, là: đã lập ra quán sinh hoạt mang tên “Quán Nhớ Bạn Nghèo”, vào các Chúa Nhật đầu tháng. Có ăn. Có uống. Có vui chơi/thu nhập. Tiền thâu thập, được gửi giúp đỡ bà con, còn túng thiếu. Thật sự, thì sinh hoạt của các bạn trẻ này, là sinh hoạt của một hội thánh, rất chính đáng. Nhưng, lại thực hiện bên ngoài thánh đường/nhà thờ. Khiến mọi người bèn tưởng nhớ đến sinh hoạt năm xưa, trong nhà thờ/Hội thánh, ở đâu đó. Bởi, chừng như Lời Ngài còn ghi dấu, ở Thánh Kinh:

                                   

            “Suốt ngày,    

            nơi Đền thờ, và nhà ở,

            các ngài không ngớt giảng dạy

            và loan báo Tin Mừng về Đức Kitô.”

            (Cv 5: 11)

 

            Hôm nay đây, tại đâu đó, trong Hội thánh ở trần gian, đã  có những người trẻ cũng khá thánh thiện, “tối ngày” lo toan chuyện “bao đồng”, không lấy công. Họ vẫn loan báo Tin Mừng về Đức Kitô, thật đấy. Loan, là loan trong âm thầm. Báo, lại là báo rất đầm thắm. Nhưng, tuyệt nhiên không “giảng dạy”. Bởi, họ không là “thày giảng”. Nhưng trong lòng, vẫn vẳng nghe câu ca, của một thời:

 

            “Lời thề nguyền, ngờ đâu xa vắng,

            tình tràn đầy, sầu chung non nước

            Hồn em có, cùng người chứng minh

            Anh bước ra, đi luyến tiếc hoài

            Đời còn có, em nay mà thôi.” (Nguyễn Văn Khánh – bđd)

 

            Về loan báo Tin Mừng trong lòng Hội thánh/ngoài thánh đường - nhà thờ, nhiều vị vẫn cứ loan và cứ báo Tin Mừng về Đức Kitô. Vẫn “không ngớt giảng dạy” “nơi Đền thờ”, tại “nhà ở”. Nhưng vừa rồi, các ngài đã nhận ra một số dấu hiệu thời đại, trong Hội thánh. Dấu hiệu, là dấu và hiệu cho thấy tình hình có đổi thay trong số những người đang đi Đạo, nhưng không còn đi nhà thờ. Như khi trước.

            Thống kê Đạo, cho thấy: trong 50 năm vừa qua, chúng ta chưa từng bao giờ nghe nói: số người đi Đạo vẫn tuyên xưng rằng mình tin vào Chúa, đã tụt giảm một cách thê thảm. Lạ lùng thay, ta cũng chẳng bao giờ thấy số người đi Đạo từng tự hào là mình thuộc về giáo xứ nọ, nhà thờ kia, nay giảm sút, quá thảm hại. Thế nhưng, chuyện sụt giảm một cách thảm thương hơn cả, là số người không còn đi nhà thờ, dự lễ nữa.

            Thật ra thì, người nhà Đạo hôm nay vẫn tin vào Đức Chúa. Vẫn thuần phục Hội thánh, như từ bao giờ. Nhưng nói cho đúng, đã thấy bớt đến nhà thờ dự lễ. Bớt thường xuyên, hơn xưa. Nhà Đạo ta, không phải là: đang ở vào thời kỳ hậu-Kitô hay sao đó, cho bằng thời kỳ hậu-thánh-đường. Nói cách khác, vấn đề không phải là người thời nay quá thiên về vô thần, cho bằng việc ít đến nhà thờ, dự buổi kinh.

            Và, câu hỏi đặt ra, là: tại sao thế? Tại sao ngày nay mọi người lại đấu tranh với hội thánh, đến thế?

            Các vị phóng khoáng/dễ chịu, thường cho rằng: đó là vì, Hội thánh quá chậm chạp trong đổi thay. Nhất là, không mặn mà đủ với thế giới ngày nay. Các cụ có khuynh hướng bảo thủ, lại nghĩ khác. Các đấng cho rằng: con người, ở thời này lớn lên trong hoàn cảnh không mấy thích hòa đồng vào chuyện của giáo hội. Sở dĩ có chuyện đó, là bởi vì hội thánh cũng đã thay đổi quá nhiều. Hội thánh vẫn cứ hay chạy theo lề lối văn minh phàm trần.    

            Nói cho cùng, thì lập trường của hai phe/hai phái đều có cái hay, cũng rất đúng. Thế nhưng, một số  nhà phân tích hiện thời, lại cho rằng: lý do dẫn đến tình trạng này, là ở chỗ khác. Lý do ấy, chính là vì có đổ vỡ gia đình; và, đổ vỡ cuộc sống bên ngoài.

            Suy cho kỹ, vấn đề ở đây không phải là: đời sống giáo hội và sinh hoạt của nhà thờ/giáo xứ đang gặp khó khăn. Thử thách. Mà là: hiện nay, ở đâu cũng thấy có vấn đề giảm sút số người tham gia nguyện cầu, ở nhà thờ. Cũng tựa hồ như đời sống gia đình/chòm xóm có tính cộng đoàn, hoặc số đông, đang có vấn đề tụt giảm số lượng người tham dự. Tụt giảm có lẽ bởi vì, người người hôm nay bảo vệ chuyện riêng tư, cá thể. Và, đại loại như thế. Ngay đến các tổ hợp/cơ quan hoặc câu lạc bộ nay cũng bớt tổ chức lễ hội đình đám, om sòm như xưa. Đơn giản, là vì con người ngày nay, ở bất cứ nơi đâu, đều ít muốn dính dự vào chuyện cộng đồng. Của đám đông.

            Thành thử, không lạ gì khi thấy Giáo hội mình đang phấn đấu, không ngừng nghỉ. Phấn đấu, là vì, theo định nghĩa, nhà thờ và giáo xứ đều là cộng đồng dân Chúa, không dựa trên sự thân mật tư riêng; mà, được thiết lập gồm thành viên chọn lựa lối sống có tương quan với nhau, trên cơ sở những người cùng một chiều hướng, ý muốn. Đúng hơn, cũng theo định nghĩa, thì nhà thờ/cộng đoàn giáo xứ được lập ra, là do cộng đồng dân Chúa được kêu mời đến với nhau, bất kể mọi khác biệt. Đến, để cùng gặp gỡ quanh Đức Kitô. Cùng tạo nên các giá trị đúc kết mình vào chung cùng một cộng đoàn. Cộng đoàn ấy, vượt lên trên mọi chọn lựa riêng tư, không hơn kém.

            Tuy nhiên, sự việc ấy không dễ mà hiểu được trong bối cảnh của một nền văn hoá vẫn cứ cho rằng cộng đoàn chỉ có thể được thành lập trên cơ sở chọn lựa riêng tư, và nhu cầu cần sự riêng biệt, mật thiết. Ngày hôm nay, người người không chỉ chơi “bóng quả tạ” một mình, nhưng còn lo toan việc thiêng liêng tu đức, cũng một mình.

            Quả là, con người ngày nay đối xử với hội thánh/giáo đường cũng một kiểu hệt như họ từng đối xử với gia đình mình. Con người ngày nay, chỉ muốn cộng đoàn hội thánh có mặt ở đó, là để cho họ. Có mặt, là để thực hành nghi thức phụng vụ cho xong việc. Có mặt, là để tổ chức các biến cố, rất đặc biệt. Có mặt, để mình cảm thấy an toàn và có thể sử dụng, mỗi khi cần. Nhưng tuyệt nhiên, họ không muốn giáo hội dính dự vào chuyện riêng tư, rất thực sự.

Và, họ cũng chỉ muốn hội thánh, tham dự theo cung cách, mà họ muốn. Con người hôm nay, thực sự thấy mình không cần đến hội thánh. Họ chấp nhận rằng họ cần có Chúa và cần đến chuyện thiêng liêng, tu đức. Nhưng, chẳng thấy mảy may cần gì đến Hội thánh, hết. Có người còn dám cả gan tuyên bố, rằng: họ cần đời sống thiêng liêng, nhưng không phải là hội thánh. Thế mới chết.  

Cuối cùng thì, cũng đã manh nha ý niệm về hội thánh như một thể chế có quá nhiều kẽ hở, không hoàn thiện. Quá nhượng bộ, lại hẹp hòi. Rất có định kiến, lại quá giả hình để giúp người ta tin. Và người ta cho rằng hội thánh là thể chế điều đình ơn cứu rỗi. Họ vẫn nói, Chúa thật tinh tuyền, còn hội thánh lại bất toàn. Cho nên, có số người chọn lựa tìm đến hội thánh như tìm đến cơ quan có tuyển lựa, rất lưa thưa.

Chừng như, bên trong hội thánh hôm nay, đã có dấu hiệu của thời tiên khởi, khi Chúa nói:

 

“Hãy đem tất cả những thứ này

ra khỏi đây,

đừng biến nhà Cha tôi

thành nơi buôn bán”

            (Yn 2: 16)

 

            Thấy như thế, các thánh tông đồ nhớ lại lời được chép trong Kinh Thánh:

 

            “Vì nhiệt tâm lo việc nhà Chúa,

            mà tôi đây sẽ phải thiệt thân.”

            (Yn 2: 17)

 

            Hôm nay đây, để ứng đáp với vấn đề này, có vị không là tông đồ rất thánh, từng theo Chúa, nhưng vẫn thương kính Hội thánh rất đậm sâu. Ông cũng thật tình đủ để nhận phần lỗi cho giáo hội. Đó là tay viết chuyên về tu đức gốc nguời Ý, tên: Carlo Carretto, có lời tuyên dương như sau:

 

“Hỡi Hội thánh của tôi, tôi phải phê bình Ngài thế nào mới đủ, và làm sao yêu thương ngài cho xứng! Bởi ngài làm tôi đau khổ, hơn bao kẻ khác. Và, tôi vẫn nợ ngài nhiều hơn mọi người. Tôi những muốn ngài bị huỷ hoại, nhưng tôi lại cần ngài hiện diện. Ngài từng gây nhiều tai tiếng, nhưng chỉ mình ngài làm tôi hiểu sự thánh thiêng. Ở thế giới hôm nay, chưa từng thấy có điều gì vừa dễ nhượng bộ, khiếm khuyết, nhưng tôi lại chưa từng sờ chạm được điều gì tinh tuyền, đại độ và mỹ miều hơn. Rất nhiều lần, tôi những muốn đóng sầm cửa tâm hồn mình lại để không còn nhìn thấy mặt ngài, nhưng khi về đêm, tôi lại vẫn cứ nguyện cầu cho tôi được chết trong vòng tay ôm của ngài! Không. Tôi không thể nào đào thoát khỏi tầm tay của ngài được, bởi tôi cũng làm một với ngài, nếu không muốn nói là trọn vẹn con người tôi chính là  ngài. Và cũng thế, tôi không biết giờ sẽ đi về đâu? Thiết lập hội thánh khác ư? Nhưng, tôi không thể thiết lập được hội thánh nào mà lại không có khiếm khuyết. Bởi, khiếm khuyết là khiếm khuyết của chính tôi. Hơn nữa, nếu tôi thiết lập hội thánh khác, thì khi ấy sẽ là hội thánh của tôi, chứ không là hội thánh Đức Kitô. Không được. Tôi nay đã già, nên cũng đã hiểu được nhiều điều hơn.”

 

            Trên đây, là giòng chảy suy tư, đang tuôn trào. Nó lôi bạn và kéo tôi, những người đang tiến vào thánh đường/nhà thờ, ngày cuối tuần. Cả các vị trong ta, hiện thời không còn bước đến nữa. Cũng vẫn nên suy tư, về giòng chảy Hội thánh. Bởi, bạn và tôi, ta đều cùng và đều là giáo hội rất thánh. Giáo hội của những vị thánh. Ta cũng mang nặng ưu tư về hội rất thánh. Đó, là hội thánh của chính chúng ta. Hội Thánh, là thánh hội đang đi vào lòng đời. Và lòng nguời. Đi vào lòng thành, của những người có những vần thơ, vẫn muôn hát:

 

            “Nhìn chiều vàng đồi thông thưa vắng

            lòng bùi ngùi buồn trông theo bóng

            giờ đây viếng thầm hồn cố nhân

            năm tháng trôi qua sóng gió đời

            chiều chiều nhớ (anh) khôn lòng nguôi.”

(Nguyễn Văn Khánh – bđd)

 

            Nhớ và thương Hội thánh, buổi chiều vàng. Thương và nhớ, thánh hội vào mọi sáng. Những buổi rất sáng và buổi rất chiều vàng, của mọi thời. Rất dậy sóng. Như Hội thánh hôm nay. Để minh hoạ cho những thương mà nhớ, những nhớ mà thương cho Giáo Hội Chúa, trong đó có các vị thánh lớn/nhỏ, cũng nên ghi lại nơi đây truyện kể rất ngắn, có những thắc mắc rất thánh, từ một vị thánh sẽ rất mới như sau này:

 

“Hai thày dòng trẻ của Hội thánh, vừa gia-nhập tập-viện của Dòng Tên, nhưng lại muốn sống đời thời thượng, có kính Chúa yêu người, trong nguyện cầu. Nhưng, lại không bỏ được cái tật hút thuốc vặt vãnh, rất lấn cấn. Cả hai quyết định lên gặp cha Bề Trên xin ban cho mình ân huệ, rất đặc biệt. Thầy trẻ tuổi thứ nhất đã đến xin, nhưng không được. Ít phút sau, ông chợt thấy một thày trẻ khác đồng cảnh ngộ, đang phì phà điếu thuốc trên môi, khi nguyện cầu, bèn đến gần và hỏi:         

-Sao Cha Bề Trên lại cho phép cậu được hút thuốc, mà tớ thì không?

-Là bởi vì, cậu hỏi ý ngài xem cậu có được phép hút thuốc, khi cầu nguyện hay không. Còn tớ, tớ chỉ xin ngài cho phép tớ được cầu nguyện trong lúc mình hút thuốc! Sự kiện thì có giống, nhưng cách thức xin thì khác nhiều, chứ nhỉ!

 

            Cũng giống thế, sự kiện/hiện tượng xảy đến với Hội thánh, mỗi thời mỗi lúc, đâu phải nơi nào cũng giống nhau. Chí ít, là vấn đề nảy sinh với giáo hội ở trời Tây, chắc chắn khác hẳn giáo hội ở phương Đông. Như Giáo hội thầm lặng ở Trung quốc. Giáo hội Ba Lan. Giáo hội mình. Sự kiện thì có giống. Nhưng cách thức, và nhiều khi cũng khác nhiều. Thế đó, là Hội thánh. Thế đó, mới là giáo hội của các thánh ở trần gian. Tại đây. Bây giờ.

 

            Trần Ngọc Mười Hai

            ưu tư nhiều

            về những gì xảy đến

            với Hội thánh.    

                              

           

“Ôi những câu chuyện lòng,”

Làm thơm ngát thêm tuổi hồng,

Anh ơi yêu đi yêu đi!

Trên đỉnh yêu đương,

gió toả thêm hương”

(Trần Thiện Thanh – Trên Đỉnh mùa đông)

(2Cr 4: 11)

            Mới vừa rồi, nhân buổi “thắp nến nguyện cầu cho quê hương” ở Sydney hồi đầu tháng Mười 2008, vị linh mục chủ sự đã đề cập đến điều mà ông gọi là “có một trùng hợp” giữa sự kiện 117 vị tử đạo được phong thánh năm 1988; và gương can đảm tử đạo của giáo dân ở Thái Hà, đã khiến bần đạo có một vài  ý tưởng mọn hèn về những hành xử sống-chết, vì Đạo Chúa..

Chết vì Đạo, nay trở thành đề tài, nhiều người thắc mắc, hỏi rằng: sống chết vì Đạo có là chuyện thật trong đời, ngày hôm nay? Hay chỉ là, lập trường xưa cũ, đã qua. Rất hạn hẹp. “Hơi bị” cường điệu? Quá lý tưởng? Nói cách khác, lập trường “sống chết vì Đạo, có là “chết trong lòng một ít”, cho Đạo? Và, với người đồng Đạo?

Thú thật là, khi đề cập đến đề tài này, có một câu hỏi cứ quẩn quanh trong đầu của nhiều bầu bạn sống đời đi Đạo, và giữ Đạo. Những người, vẫn thắc mắc: có chăng một tử đạo của người mình, rất hôm nay? Với ít người, hỏi như thế là đã trả lời. Có sẵn trong đầu.

Như mọi lần, mỗi khi nghe có vấn nạn, bần đạo thường hay để lòng mình trùng xuống, tìm đến những tư tưởng nhà Đạo, những câu nói hoặc ý nhạc/lời ca của các nghệ sĩ khi xưa, đã sống và từng hỏi những câu tương tự. Để từ đó, có giòng chảy ngẫu hứng, mà suy tư. Suy, về tình yêu qua mau. Suy, về lời ca người nghệ sĩ thân quen nọ từng viết những giòng, như sau:

 

“Ôi những câu chuyện lòng,

từ lâu vẫn như mùa đông

anh ơi yêu đi yêu đi!

nếm thử thương đau,

khi hạnh phúc qua mau.” (Trần Thiên Thanh – bđd)

 

Bản thân người viết nhạc, khi ấy, chưa hẳn là đã dám sống - chết với giòng nhạc, mình đang sống. Nhưng, có điều khá chắc là: nghệ sĩ viết nhạc hoặc thơ ấy, có thể vẫn đang suy nghĩ miên man, dài dài. Suy, về tình tự. Về, cuộc-tình thương-đau trong đạo làm người. Trong đời người đi Đạo. Một đời, vẫn có yêu. Có sống/chết vì Đạo. Sống đạo làm người. Và, tình người sống đạo, vẫn là thứ tình xảy đến rất miên trường. Vĩnh cửu. Khó nguôi ngoai. Tình ấy, có thể tình kéo về nỗi chết, rất đích thực. Hay, chỉ “chết trong lòng”, một ít. Cũng rất Đạo.                      

Hôm nay, nghe lại nhạc-bản chép ở trên, bần đạo tuy không đạo-hạnh cho lắm, nhưng cũng đã lòng nhủ lòng, chia sẻ vài tâm tình hèn mọn về cái-gọi-là “chết trong lòng”, vì Đạo. Chết, như Thầy Chí Thánh đã dạy phải chết. Và, các thánh vẫn khuyến khích/nhủ khuyên, như:

 

“Kẻ nghe Lời Ta

và tin vào Đấng đã sai Ta

sẽ có sự sống đời đời

và khỏi đến toà phán xét,

nhưng đã ngang qua sự chết

mà vào sự sống.”

(Yn 5: 24)

 

hoặc:

“Quả, cũng như nơi Ađam,

mọi người đều phải chết

thì trong Đức Kitô

mọi người cũng sẽ được tác sinh.”.

(1Cr 15: 22)

           

Như thánh Phao-lô từng quả quyết, cái chết (dù là chết vì Đạo, hay cho Đạo) chỉ có ý nghĩa, là để ta được tái sinh; để, ta đi vào sự sống, sống lại “từ cõi chết”. Nói khác đi, chết vì Đạo và cho Đạo mà không liên tưởng đến, hoặc vì sự sống lại cùng với Đức Kitô, thì chỉ là cái chết “lãng xẹt”, vô bổ.

            Và, thánh nhân còn nói về sự chết vô ích, như sau:

 

            “Tuy sống đó,

            nhưng chúng tôi luôn luôn bị phó nộp cho án chết,

vì Đức Giê-su

            ngõ hầu sự sống của Đức Giê-su

            cũng được hiện tỏ nơi cái xác chết dở của chúng tôi.

Ấy vậy, sự chết đã hoạt động nơi chúng tôi,

Còn sự sống, lại hoạt động nơi anh em.”

(2 Cr 4: 11)

            Xem như thế, sống dở chết dở, hay sống dở chết thiệt, mà vẫn không phải là sống chết vì Đức Giê-su, thì cũng chỉ là sống mà như chết, hoặc chết chẳng để làm gì. Là, sống hoặc chết, cứ ương ương dở dở, như thế thôi.

            Và ở đây, bần đạo không có tư cách và cũng chẳng có thẩm quyền để nhận định hoặc phê phán cuộc sống và nỗi chết (thực hay dở), của bất cứ ai. Đấng thánh nào. Hay ông thần nào, đã chết. Mà, chỉ muốn nhân dịp này, luận bàn về đề tài: có chăng các vị được gọi thánh, thời hôm nay? Nói nôm na, hỏi rằng: ngày nay, có cụ nào sống đích thực lành thánh, như thánh sống? Và, chí ít về một câu hỏi: là con cháu các đấng tử Đạo, ngày nay ta vẫn cần nên thánh, chứ? 

            Trả lời câu hỏi ở trên, thật ra cũng chẳng khó. Bởi, theo dõi báo/đài truyền thông hằng ngày, ai rồi cũng nhận ra rằng, với các vị Giáo hoàng đương đại, ta đều thấy có những cuộc phong thánh cho rất nhiều vị sống cùng thời, với ta. Gần đây nhất, là: việc phong chân phước cho song thân phụ mẫu  thánh nữ Têrêxa Hài Đồng Giê-su, nữa. Và tiêu biểu hơn cả, là các vị thánh sống thời đương đại được mọi người coi như đã thành thánh, như: Mẹ Têrêxa thành Calcutta, Đức cố Giáo Hoàng Gio-an XXIII, và Đức Gio-an Phao-lô Đệ Nhị, nhất nhất đều là các vị lành thánh, cả khi còn sống.

            Thánh sống hay sống thánh, là vấn đề của mọi thời. Không chỉ vào thời có bức bách, cấm Đạo. Nhưng, là những vị đã thể hiện cuộc sống đúng như đòi hỏi của Đức Chúa. Nơi Tin Mừng. Tức: hôm nay, ai sống Đạo theo đòi hỏi của Tin Mừng, sẽ được gọi là thánh. Rất thánh, là đàng khác.

            Trả lời các vấn nạn ở trên, tưởng cũng nên xem xét ngôn-từ mà nhiều vị từng dùng để xưng tụng dân con nhà Đạo mình là thánh. Cũng là ý kiến khá hay. Theo thiển ý, lâu nay, Giáo hội mình được gọi là Hội thánh, tức bao gồm các thành viên, sống tốt lành, thánh thiện. Theo đúng nghĩa.

Là thánh, tức là những người biết sống cho phải đạo. Tốt lành. Hành thiện. Luôn giùm giúp/đỡ đần, hết mọi người. Cả những người thân cô, thế cô. Không giúp để lấy tiếng. Hoặc, để có thể nhờ vả về sau. Là thánh, tức những người “sống cùng” và “sống với” trong cộng đoàn Nước Trời, ở trần gian. Ở nơi đó, mọi kiêu căng/ngạo mạn, bất công/bạo lực, giận hờn hoặc ghét ghen, hiếp đáp lẫn thù hận… đều không có chỗ đứng. Chẳng thế mà, khi xưa, cộng đoàn tín hữu ở giáo đoàn, khắp nơi, đều được thánh Phao-lô nhất cử nhất động, gọi là thánh. Và, thánh. Chẳng thế mà, khi viết cho dân con nhà Đạo ở giáo đoàn “có vấn đề”, như giáo đoàn Cô-rin-thô, Phao-lô thánh nhân, cũng đã viết:

 

“Kính gửi Hội thánh của Thiên Chúa

tại Co-rin-thô”

(1Cr 1: 2)

 

            Với giáo đoàn Ga-lát đang trong vòng tranh tụng và cãi vã, thánh nhân còn viết:

 

            “Phao-lô Tông đồ

            không phải do loài người

hay nhờ một người nào,

            mà nhờ Đức Giê-su và Thiên Chúa Cha

            kính gửi các hội thánh xứ Galát..”

            (Ga 1: 1)

 

            Theo ngôn ngữ người mình, ta vẫn có thói quen đề cao “thiên chức” làm mẹ, của các bà mẹ Công Giáo, tức: chức năng rất lành và rất thánh, của bà mẹ. Có lẽ ở đây, cũng nên hỏi: ta có nên đề nghị phong thánh cho các bà mẹ nói chung, và nhất là các bà mẹ Việt Nam, vào buổi nhiễu nhương, sống dưới uy lực của bạo tàn, không? Của giới chức ở bên trên, rất độc tài. Rất toàn trị. Vì, phải là người thánh thiện lắm mới dám “vượt cạn”, mang rất nặng và đẻ rất đau; rồi còn, nuôi con cho ăn cho học đến khi con thành nhân, thành tài mà chẳng cần gì chuyện đền đáp. Phải là thánh ghê lắm, mới vui lòng chấp nhận cuộc sống bấp bênh, hãi hùng. Một thân một mình, chăm cơm nuôi chồng ở tù/học tập “cải tạo”; lại còn, tay xách nách mang, con cái đùm đề. Vậy thì, đâu có thua gì các đấng tử đạo vì “tình thương”, như Chúa dạy?

            Và, vấn nạn cuối có lẽ sẽ là câu hỏi: ngày nay, có ai được gọi là thánh “Tử Đạo”, chăng?

            Hôm nay, nếu quan niệm sống Đạo, là sống đúng tư cách của người đi Đạo. Là, sống luôn luôn cổ vũ/thực hiện cuộc sống yêu thương giùm giúp, thì câu trả lời, thật rất dễ. Ngày nay, vẫn còn thấy nhiều đấng thánh, rất thánh dẫy đầy nơi phố chợ, nhưng không được hoặc chưa được gọi/chưa được phong  làm “thánh nhân” (như định nghĩa của một số tự-điển rất phàm trần) đang ở quanh ta. Bên ta. Mà không biết. Như các bà mẹ. Ông ba. Như người tình, dù có chân dung hay là không. Như, người phối ngẫu, cố gắng ở với nhau suốt đời, chỉ vì yêu. Yêu thật sự. Yêu, trong nhịn nhục. Có hy sinh. Từ bỏ. Vì người mình yêu. Yêu như con trẻ. Sống như trẻ thơ. Ở đâu đó. Chốn thế trần.

            Nói tóm lại, những ai sống đời công chính, sống như trẻ nhỏ, dám chết đi cho những tính hèn và mọn của mình, đều xứng đáng được gọi là “thánh”. Và, mỗi ngày ta vẫn thường “tử vì đạo”, đấy chứ! “Tử vì đạo”, là chết cho lòng tham – sân - si, có những hờn ghen. Tị hiềm. Tranh chấp. Bởi, nếu không chết đi cho những thứ lòng thòng ở trên, thì làm sao ta có thể trở thành Kitô-hữu đích thực được? Và, những ai có tâm trạng trẻ thơ như truyện kể bằng thư ở dưới, có nên gọi họ là thánh, hay chăng? Truyện kể rằng:

 

“Thiên Ân là trẻ thơ, lĩnh nhận ân sủng từ bậc Thánh Hiền, được mẹ giáo dục là phải cố sống đời thơ trẻ thiên thần, vào mọi lúc. Bất cứ lúc nào, cũng phải hành xử như thiên thần nhỏ bé, rất nên thơ. Việc gì xảy đến dù không thích, cũng đừng quên thưa Chúa, thưa Cha bằng những câu kinh, hoặc thư từ, rất nhẹ. Hôm ấy, bé em Thiên Ân có người bạn thân tên Tô-tô, đột nhiên qua đời, sau cơn sốt. Thiên Ân bèn thỏ thẻ với Chúa, bằng văn thư, như sau:

Lạy Chúa dấu yêu,

Con vừa mất đi người bạn thân yêu nhất trên trần,

Bạn của con tên là Tô-tô.

Chú bé, tự dưng đột xuất đau ốm. Bỏ con lại, không người chơi.

Thấy con buồn, ba má bảo: trên thiên đàng, vẫn đủ chỗ cho Tôtô và cả con nữa.

Vậy hôm nay, con thưa với Chúa,

Chúa ơi, Chúa hứa với con đi. Hãy hứa là: sẽ cho Tôtô cùng con ở trên đó.

Tôtô lúc nào cũng xử tốt với con hết đó, không có vấn đề gì.

Nên con nghĩ: nếu loài chó được lên thiên đàng

Thì Tôtô của con rất xứng đáng, lắm đó.

Tôtô cũng sẽ thành thánh, có thua ai đâu.

Và sau này, khi con chết,

con sẽ nói với Chúa cho ở gần bên mãi, với Tôtô.

Vậy bây giờ, Chúa săn sóc cho Tôtô của con nhé.

Chúa đừng quên dắt nó ra ngoài, cho nó đùa giỡn và chạy nhảy mỗi ngày nhé,

Lạy Chúa yêu dấu của con.

Ký tên

Con tên Thiên Ân, đó Chúa.”

 

            Chuyện thánh nhân, theo nhãn quan của trẻ thơ, rất trẻ, cũng nhè nhẹ. Thơ bé. Như các thánh ở chốn gian trần. Chốn sống, có vần thơ. Có ý nhạc rất nhè nhẹ, như sau:

 

            “Ôi, những câu chuyện lòng

            làm thơm ngát thêm tuổi hồng

            Em ơi yêu đi, yêu đi

            Trên đỉnh yêu đương

            Gió tỏa thêm hương...”

            (Trần Thiện Thanh – bđd)

 

            Yêu, như tình yêu rất thơ rất trẻ, của trẻ bé rất nên thơ. Yêu và chết, để tình yêu đơm mầm, nảy chồi, những hoa lá. Đó, là tâm trạng rất thánh, của thánh nhân. Tâm trạng, rất đáng sống đời tử Đạo. Vì Tình Yêu. Của Thầy Chí Thánh rất Nhân Hiền. Rất Kitô.

 

            Trần Ngọc Mười Hai

            Vẫn quan niệm

            thánh thiện là như thế.

            Cũng nhè nhẹ

như thiên chức làm mẹ,

như tuổi thơ, rất thánh.

                                 

“Nhưng trên đoá mi sầu,

ngày dài vẫn qua mau”

 

(Ga 20: 19-222):

Đúng thế. Ngày vui nào mà chẳng qua mau. Ngày dài nào mà chẳng “tựa lá úa sầu, cho cuộc tình dài sau.”,  như nghệ sĩ Ngô Thuỵ Miên, đã diễn tả.

Với nghệ sĩ, đương nhiên là như thế. Nhưng với nhà Đạo, có lẽ hơi khác. Khác, như tâm tình của vị mục tử nào đó viết trên tờ “Bản tin Giáo xứ” họ lẻ, mà bần đệ bắt gặp ở giòng chảy sau đây:

 

Bình an của Chúa hằng ở cùng anh chị em”. Đó là lời chúc rất nghe quen. Không bao giờ thiếu vào các buổi Tiệc thánh. Tiệc Lòng Mến đầy an bình. Nhưng, đi vào thực tế, lời chúc này như vẫn còn xa vời tầm tay. Hôm nay, khi nghe ai chào hỏi: “Anh/chị khoẻ không?”, câu trả lời nhiều khi thấy không mấy thông suốt. Người thì bảo: “lu bu lắm, cơ!”; kẻ khác lại nói: “Có lúc nào rảnh đâu! Làm chết bỏ, không có giờ mà nghỉ, nữa! Toàn những việc đâu đâu, nào có tên.”   

            Nhiều lần tôi vẫn tự hỏi: có bao giờ ta trả lời bạn bè/người thân bằng những câu: “Tôi đang nghỉ xả hơi”! hoặc: “đang ngơi tay một chút!”... hay: “đang để giờ thăm hoa, vãn cảnh...” Tôi nghĩ, những câu trả lời như thế, rất quý hiếm. Có người còn bảo: “có đẻ bọc điều mới được những giờ phút như thế, còn thì...lúc nào cũng bận mở mắt không lên.”

Là tín hữu Đức Kitô, có lẽ ta cũng nên cẩn thận về tình trạng mải miết đua nhau mà bận rộn. Đành rằng, sống cho ra sống và dấn thân với thế giới bên ngoài, là quà tặng nhận được từ Trên. Nhưng, cũng nên xét lại tình trạng bận rộn của mỗi người. Có thứ bận mà không rộn cho lắm. Và dù có bận rộn, vẫn chưa hẳn là điều tốt. Có thể, nó mang ý nghĩa của một chối từ. Một né tránh. Hoặc, chỉ để gây tỉnh thức với bạn bè/ người thân.”

(Trích chia sẻ Lời Chúa ngày 11.5.2008 của Lm R. Leonards, Úc)

 

            Chia sẻ của vị linh mục trên bục giảng, là những sẻ san tâm tình của người con, người em trong cộng đoàn tình thương, rất Kitô. Còn, tâm tình người nghệ sĩ ở đời thường vẫn như sau:

 

            “Em, đứng bên sông buồn

            nhìn, cuộc tình trôi qua và lòng người phôi pha

            trên hai đoá môi hồng

            nụ cười đã đi xa

            ôi giọt nước mắt nào cho cuộc tình đầu.”  

(Ngô Thuỵ Miên – Giọt Nước Mắt Ngà)

 

            Khác biệt tâm tình, giữa nghệ sĩ ngoài đời với vị mục tử trong Đạo, thường là như thế. Nơi người đời, dù cuộc tình đầu có dài lâu hay chỉ mau chóng kết thúc, ra như vẫn có “giọt nước mắt ngà”, miên man chảy. Ở nhà Đạo, tuy giọt nước mắt ngà nóng cháy vẫn còn đó nỗi buồn; nhưng, dân con nhà Đạo người người vẫn tìm được sự bình an hài hoà, nơi Đức Chúa. Như chứng minh sau đây:

 

“Vào chiều ngày thứ nhất trong tuần,

nơi các môn để ở,

các cửa đều đóng kín,

vì các ông sợ người Do Thái.

Đức Giê-su đến, đứng giữa các ông và nói:

“Bình an cho anh em!”

(Ga 20: 19)

 

            Lại nữa, với người đời, dù là tình đầu hay tình dài rất lâu, ta vẫn cứ nghe:

 

“Em, ngỡ như cơn mộng

người tình về bên em và gọi thầm tên em

nhưng, trên đoá mi sầu ngày dài vẫn qua mau

em, tự lá úa sầu cho cuộc tình dài sau.”

(Ngô Thuỵ Miên – bđd)

 

            Trong khi đó, với người nhà Đạo, tình đầu hay tình về sau, vẫn là sự vui mừng vì có Chúa:

 

            “Nói xong, Ngài cho các ông xem tay, và cạnh sườn.

            Các môn đệ vui mừng

            Vì được thấy Chúa.”

(Ga 20: 20)

 

            Xem như thế, sự bình an vui mừng trong cuộc đời luôn luôn là những gì chợt đến, rồi vội đi. Vui mừng - bình an ấy, chỉ kéo dài khi người đời thực hiện được tình thân thương giùm giúp, đến với nhau. Khi có Đức Chúa của sự an bình - mừng vui ở lại với mình, thôi. Và, sự bình an – vui mừng ấy, là quà tặng rất nhưng-không, Chúa vẫn gửi đến với từng người. Hết mọi người.

            Và, vị mục tử trích lời dẫn nhập ở trên, lại thêm một khẳng định, rất vững chắc:

 

‘Nhiều lúc ta cứ tưởng sự an bình-lặng thinh luôn ở tư thế của “bông sen trong buồng tối”. Không phải thế. Món quà bình an Đức Kitô ban tặng, còn mang ý nghĩa nhiều hơn thế, nữa. Bình an là những gì tốt đẹp nhất trong cuộc sống đời thường. Đó là trạng huống tâm linh. Một thói quen tạo được sau biết bao chọn lựa nhất quán và liên lỉ. Quả thật, có nhiều người cùng một lúc làm được nhiều việc mà vẫn thản nhiên an nhàn, tự tại. Bình an đối với họ, là vấn đề của tâm linh. Của trí tuệ. Là phương cách giúp ta sống. Sống ra hồn. Sống đích thực vị thế của con  người. (Lm R. Leonards  – bđd)

 

            Nhằm diễn tả lý do khiến người đời thường để mất sự an bình – lặng thinh, triết gia Seneca, Hy Lạp ở thế kỷ thứ hai từng thắc mắc: sao bạn bè người thân của ông, cứ để luột mất sự an bình - hiền hoà, họ cần đến. Do thắc mắc suy tư lâu ngày, ông đã ngồi xuống, viết nguyên chương sách về sự buồn giận, và phương cách giải quyết.

            Triết gia Seneca nhấn mạnh sự kiện, là: bạn bè nào càng giàu sang phú quý, càng dễ gặp buồn phiền, nổi nóng. Và từ đó, họ để mất đi sự bình an hiếm quý. Cuối cùng, nhà hiền triết đã tìm ra phương cách giúp mình, giúp người giải quyết các vấn đề nhân sinh: muốn có an bình – lặng thinh, phải có đầu óc thực tế. Phải nhận ra rằng: mọi sự trên đời đều có thể xảy đến. Xảy đến một cách khác với điều mình mường tượng, hoặc mong ước.

            Điều, mà nhà hiền triết Seneca khám phá ra và đề nghị, là: ta hãy tỉnh táo, nhận biết rõ các yếu mềm và mỏng dòn của chính con người mình. Của cuộc sống. Và, nếu biết rằng: cuộc sống cũng mỏng dòn như chính con người mình, ta sẽ đỡ vất vả hơn khi cùng nó chiến đấu. Chiến đấu với nó. Chiến đấu lại bản chất yếu kém của mình. Có như thế, ta mới đạt trạng thái biết thứ tha người khác. Biết chấp nhận mọi người, như quà tặng tình thương, Trên gửi đến.

            Tha thứ, là quà tặng Chúa gửi đến mọi người. Vào mọi thời. Có tha thứ hết mọi người, và tha thứ cả chính mình, ta mới tìm thấy an bình – hiền hoà, trong cuộc sống. Nếu quả thực, người người đều cố tình dựng xây/vun trồng an bình – hiền hoà, để sống đời bình thường, thì bắt buộc phải chấp nhận đương đầu với những gì mình không muốn có. Không muốn thấy nó xảy đến. Dù, đó là những “giọt nước mắt ngà”, hay chỉ là “sông buồn, nhìn cuộc tình trôi qua”…“lòng người phôi pha” đi nữa, cũng mặc.

            Chấp nhận, và thứ tha. Thứ tha cho người gây nên sông buồn, làm cho cuộc tình mình trôi qua….hoặc khiến “lòng người phôi pha”. Cứ chấp nhận và tha thứ, rồi ra sẽ thấy an bình – hiền hoà trở về với vòng tay đợi chờ. Dù khá lâu. Có chấp nhận và tha thứ, mới thấy quà bình an mình hằng ao ước, sẽ đến ngay. Đến với mọi người. Trong khoảnh khắc. Và khi tha thứ và chấp nhận, ta sẽ cùng nghệ sĩ họ Ngô ở trên, hát thêm:

 

            “Anh đi về dấu giáo đường,

            cho cuộc tình bay cao, cho lòng mình xôn xao.”

(Ngô Thuỵ Miên – bđd)

 

            Hãy về với giáo đường, ở nơi đó ngập tràn những thứ tha. Những an bình - hiền hoà. Rất thân thương. Rất chân tình. Như Lời Ngài, hơn một lần dạy bảo:

 

            “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần.

            Anh em tha cho ai, thì người ấy được tha.” (Ga 20: 22)

 

            Và:                  

            “Bình an cho anh em!

            Như Chúa Cha đã sai Thầy,

            thì Thầy cũng sai anh em.”

            (Ga 20: 21)

 

            Thầy sai đi, là để ta đem bình an – hiền hoà đến với mọi người. Chí ít, là người của mình. Sai như thế, chắc chắn mọi người sẽ mừng vui:

 

            “Các môn đệ vui mừng

            vì được thấy Chúa.”

            (Ga 20: 20)

 

            Được thấy Chúa. Được Thần Khí Chúa ở cùng, chắc chắn mọi người và cả ta nữa, sẽ luôn an bình. Luôn hiền hoà. Hiền và hoà, như truyện kể bên dưới:

 

Hai vợ chồng lấy nhau, đến nay đếm được 64 năm. 64 năm sống đời hôn nhân bền bỉ, hai cụ lúc nào cũng tỏ ra cởi mở, nhẹ nhàng đối xử không giấu diếm điều gì. Trừ một chuyện. Ngày đầu sau khi cưới, cô dâu nhất quyết yêu cầu chú rể không bao giờ được hỏi về những gì cô để trong “hộp tình giữ kín”. Ông chấp nhận. Chiếc hộp được cất giữ trong tủ áo quần mà ông quên bẵng khá lâu, không hay biết.

64 năm sau, mải yêu đương gầy dựng gia đình đầm ấm, con đàn cháu đống, và trải qua bao cuộc dâu bể cả về tài chính, kinh tế lẫn sự nghiệp, cô dâu trinh trong hiền dịu rồi cũng ngã bệnh, và không hy vọng hồi phục. Người chồng, trong cố gắng thu dọn đồ đạc của vợ, bất chợt tìm thấy chiếc “hộp” để quên trong tủ. Ông đem “hộp” đến ngồi bên giường bệnh, hỏi vợ xem hộp gì mà giữ kỹ như thế. Bạn tình già nghe hỏi, bèn nói với người chồng thương yêu:

-Bây giờ thì anh có thể mở nó ra mà xem, tất cả còn ở trong đó…

Ông cẩn thận lần giở, trước cặp mắt tinh quái của bà vợ. Trong hộp, vỏn vẹn chỉ thấy hai chiếc khăn ăn đan bằng sợi móc, rất xinh. Và một xấp tiền mặt khoảng 25 ngàn đô. Chẳng cần hỏi, cứ nhìn cặp mắt ngỡ ngàng của ông, cũng biết ông đang thắc mắc rất nhiều. Và, để đánh tan bầu khí nghi kỵ, người vợ hiền lên tiếng trước:

-Trước khi lấy anh, ngoại có dặn em một điều, là: nếu con muốn cuộc sống gia đình mình êm ả, hãy cố mà nén nhịn mọi cơn nóng giận bất chợt xảy đến. Vì bất cứ lý do nào, thay vì cãi vã với chồng mình, con hãy chạy ra phòng bên, lấy đồ khâu vá ra mà thêu móc, chiếc khăn ăn…

Nghe thế, người chồng cho tay vào hộp, mân mê chiếc khăn ăn đầy tình nghĩa. Ông cảm động đến rưng rưng nước mắt, nghĩ rằng vợ mình chỉ nổi nóng có hai lần, suốt 64 năm chung sống. Nước mắt lưng tròng, ông âu yếm nhìn vợ, nắm chặt đôi tay gầy, nhăn nheo của bà. Người vợ hiền, đặt tay kia lên đôi tay run của ông, mắt rơm rớm. Sau phút im lặng, bà lên tiếng:

-Nếu anh muốn biết số tiền 25 ngàn đô em kiếm ở đâu ra, hãy biết đó là tiền em bán các chiếc khăn ăn, em từng thêu móc!

Mân mê chiếc khăn, hẳn cụ ông nhớ lại bài nhạc của nhạc sĩ Ngô Thuỵ Miên, mà ông vẫn nghe trên đài:

            “Trông áng mây u hoài

            giọt lệ nào thương vay,

tình đành tràn mi cay

            đau thương xé môi gầy,

mà lòng vẫn mê say

            ôi giọt nước mắt ngà,

cho cuộc tình đầu tiên.” (Ngô Thuỵ Miên – bđd)

 

Cuộc tình đầu, hay tình cuối, tình thật lòng bao giờ chẳng an bình – hiền hoà, phải thế không? Hiền hoà và bình an, vì Thần Linh Thánh Ái Đức Chúa của an – hoà  vẫn ở với ta. Với mọi người. Bởi, với mọi người, Ngài chính là sự Bình An, như đã hứa. Bình an, luôn kèm với thứ tha. Đính kèm, cả tình yêu thương đầm ấm, nguồn cội và cứu cánh của Đạo. Cứu cánh cuộc đời. Của con người.

 

Trần Ngọc Mười Hai

vẫn muốn bạn và tôi,

ta nhớ để đời

lời căn dặn nhắc ở trên. 

                       

 

EM ƠI, HÀ NỘI PHỐ

“Em ơi, Hà Nội phố

Ta còn em mùi hoàng lan

Ta còn em mùi hoa sữa

Con đường vắng rì rào cơn mưa nhỏ

Ai đó chờ tóc xoã vai mềm”.

(Nhạc: Phú Quang - Lời: Phan Vũ)

(Mc 3: 33)

            Phải thú thật với bà con, bần đạo đây cha sinh mẹ đẻ, đã lọt lòng ở góc phố Hà thành. Vẫn cứ là phố Huế, với chợ Hôm. Ấy thế mà, chả mấy khi bần đạo dám gọi thầm Hà Nội Phố, có tên em. Bởi, 36 phố phường gọi tên em, sao cho hết. Chí ít, lại là tên có mùi hoàng lan, với hoa sữa. Ấy thế mà, nhiều bạn hôm nay cho yêu cầu bài nhạc trẻ, vẫn cứ yêu và cứ cầu, những là Hà Nội phố, với em ơi!

Chịu thôi. Thôi thì, bần đạo cũng đành chịu. Phố với phường gì, lại cứ hát:

“Ta còn em cây bàng mồ côi mùa đông

Ta còn em nóc phố mồ côi mùa đông

Mảnh trăng mồ côi mùa đông.”

(Phú Quang - Phan Vũ – bđd)

 

Nhưng điều lạ kỳ ở đây, là: sao bạn trẻ hôm nay cứ mãi gọi Hà Nội 36 phường,những con phố? Để lại Hội thánh, hiền thê của Đức Chúa, còn đó nỗi buồn, chẳng ai ới gọi? Có ới, có kêu chăng, cũng chỉ gọi Hội thánh là Mẹ, khi cần đến. Có đâu, ai đó gọi ai, “tóc xoã mềm”!

Thôi thì, có gọi Giáo Hội là “Mẹ thánh” Giáo hội, hay “Hội thánh là Mẹ”, cũng chỉ gọi hội của các thánh, chúng ta đây. Điều này, rất rành rành ở hầu hết các thư của Phao-lô thánh nhân, gửi về Hội thánh lớn nhỏ, ở muôn phương. Những phương trời, ngài chào mừng người tín hữu ở Corinthô, “những người được tác thánh trong Đức Giê-su Kitô” (1Cr 1: 2). Cõi miền kia, ngài đã nói: “kính gửi các hội thánh xứ Galát”, rồi lại “các thánh ở Êphêsô, Philíp, Côlôsê, Thessalonikê.”(Ga 1:1, Ep 1: 1; Co 1:1).

Có điều may, là: chưa có nhà thơ hoặc nghệ nhạc sĩ nào lại dám đặt đầu đề bài hát cứ thế ới gọi Hội thánh Công giáo La Mã, rằng: “Em ơi, Giáo Hội phố”! Bằng không, chắc sẽ loạn. Loạn, vì Hội thánh cho đến nay vẫn thấy rất nhiều. Nhiều ông, nhiều anh và cũng nhiều “ông anh”; chứ chưa thấy có nhiều em nhiều mẹ, nhiều “mẹ thánh”, như ta tưởng. Bởi thế nên, vừa qua, Hội thánh mới nâng nhắc số lượng nữ lưu trong Thượng Hội Đồng Giám Mục ở Rôma vào tháng 10/2008, lên mức kỷ lục đến 19 vị (x. Lời Chúa trong cuộc sống và sứ vụ của Hội Thánh, Tham luận của Gm Peter Ingham - The catholic Weekly 26/10/2008 tr. 44)

Giả như ta gọi những điều trên, là: “một phát giác kinh khủng”, thì vẫn còn một khủng hoảng kinh hoàng khác đã được phát giác, từ thời xưa. Ấy đó, là khẳng định của thánh sử Mac-cô, trong Kinh Sách, khi thánh nhân viết:

 

“Rồi Người rảo mắt

nhìn những kẻ ngồi chung quanh

và nói: "Đây là mẹ tôi,

đây là anh em tôi.

Ai thi hành ý muốn của Thiên Chúa,

người ấy là anh em chị em tôi,

là mẹ tôi."

(Mc 3: 33)

 

Thi hành ý muốn của Thiên Chúa, đó lại là lời gọi mời, gửi đến với tất cả mọi kẻ tin. Chứ không phải là Ngài gửi riêng với Đức Maria, Mẹ của Chúa. Thi hành lời gọi mời của Chúa, là sống độ lượng. Là, đeo đuổi niềm mơ ước có từ lâu. Chứ không là, đạt hết mọi ước nguyện. Điều này, thường gây xung khắc/đối chọi với yêu cầu của gia đình, mà không chỉ có người mẹ, hoặc người em. Bởi thế nên, khi nhìn vào những người đang dõi bước chân mềm của Chúa, đeo đuổi niềm ước mơ “thi hành ý muốn của Thiên Chúa”, thì Chúa lại gọi các vị ấy, là Mẹ Ngài. Các vị, là Hội thánh. Là, Hội của các thánh ở trần gian.

Riêng thánh Luca, vị thánh sử đã đặc biệt nhận ra nơi vai trò “Mẹ thánh” Giáo hội, và nơi những người biết tuân lời gọi mời của Đức Chúa. Thánh sử đã tóm gọn toàn bộ Tin Mừng của ngài vào trình thuật Thiên Chúa đã giáng hạ làm người. Có Đức Maria, là “Mẹ thánh” nghe lời của sứ thần dẫn giải. Nên, Mẹ thấy được niềm vui trong đó. Nên, Mẹ đáp trả lời gọi mời đồng công cứu độ, rất thuần thục. Hoàn hảo. Chả thế mà, Mẹ vẫn bình thản truyền cho gia nhân của buổi tiệc:

 

“Ngài có bảo gì,

hãy làm theo.”

(Yn 2: 5) 0

Làm theo, đây không chỉ là đổ nước lã vào lu/vại, để thành rượu. Mà là, tỏ dấu lạ cho người “đón nhận lời mời” biết được “Giờ của Chúa”. Biết, là biết ý muốn của Chúa. Ý định cứu độ. Ý định yêu thương.

Với thánh Gio-an, thì thiên chức làm “Mẹ thánh” còn rõ nét hơn, ở vào giờ “G” rất căng hôm ấy. Hôm, mà chính Chúa đã nói với “Mẹ thánh” của Ngài:

 

“Hỡi bà, này là con Bà!

Đoạn, lại nói với môn đồ:

Này là Mẹ con!”

(Yn 19: 26)

 

Với Phúc Âm, Đức Mẹ hay còn gọi là “Mẹ thánh” nói lên tính cách đại diện cho môn đệ Chúa. Cấu thành một Hội rất thánh. Và như thế, Mẹ (rất) thánh của Hội thánh, là môn đồ lý tưởng nhất đã gần gũi Chúa. Mẹ là Mẹ rất thánh, đã thực hiện trước tiên “ý muốn cứu độ của Chúa”. Mẹ, là đấng rất “Mẹ thánh”, đã lĩnh nhận lời hứa được ban cho dân Israel, cách nghiêm chỉnh. “Mẹ thánh”, là người đã nói lên lời “xin vâng!” quan trọng, trong kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa, nơi Đức Giê-su. Và, tất cả cuộc đời của “Mẹ thánh” Maria, qua tư cách Mẹ của Thiên Chúa.

Về những người mẹ cũng “rất thánh” ở đời thường, có những truyện kể ngắn, khá khôi hài, chỉ cốt để mọi người nhớ đến những “mẹ thánh” rất thánh thiện của mình, như sau:

 

“Thế nào, chuyến đi nghỉ trên núi rừng trùng điệp của bạn, khá tốt chứ?

-Ấy, thời tiết rất tuyệt! Nhưng chuyện ăn uống, thì tệ quá. Mình về sớm hơn dự định.

-Tại sao? Chắc bạn đau ốm, hay sao vậy?

-Không. Chẳng đau ốm gì đâu. Câu chuyện là thế này:

lên đó không kiếm được chỗ nào để nghỉ lại, mình bèn ghé trọ tại nhà nông dân nọ. Ba ngày đầu, ông ta toàn cho ăn những gà là gà. Bởi, đàn gà nhà ông, bỗng dưng ủ rũ, ù rù phải giết gấp, kẻo lây lan. Sau đó, đến con bê nhỏ nhà ông cũng bị ôm, thế là ông cho giết thịt, ăn suốt tuần. Mới hết.


Sang tuần sau, bà mẹ vợ của ông tự nhiên ngã bệnh, cũng khá nặng… Thấy thế, mình sợ quá, bèn chạy đi ngay, chẳng dám nán lại, thêm một ngày...”

 

Nói đến mẹ, dù là mẹ ruột, mẹ vợ hay “Mẹ thánh” Giáo Hội, cả Mẹ Maria nữa, người người đều có lòng kính cẩn, năng chạy đến. Chí ít, là Mẹ Việt Nam, La Vang hay Tà Pao, Lộ Đức, Fatima... Ai cũng sủng mộ, có khi còn tôn thờ. Có người còn lập tượng, vẽ tranh hoặc xướng thành kinh để nguyện cầu. Tưởng nhớ. Hoặc, nhờ cậy. Cũng rất tốt, vì như thế sẽ giúp ta hiểu biết thế giới của Tin Mừng. Ngõ hầu đáp ứng với thế giới của Lời Chúa, bằng nhiều phương cách sống động. Vẫn cứ sống. Sống, rất động.

Thế giới của Tin Mừng, luôn luôn là yếu tố rất sinh và rất động. Tin Mừng, không chỉ là sách giáo khoa, kể cho ta nghe các sự thật về Đức Chúa, thôi. Tin Mừng còn kể lại những gì được mặc khải cho con người, còn là bức chân dung sinh động về cuộc sống nhân sinh của Chúa. Kể lại, những sự việc đáng để kể. Kể, về cuộc sống. Kể, về sứ vụ của Chúa. Và, Kinh Sách còn mời gọi ta đi vào các trình thuật/truyện kể ấy, ngang qua trí tưởng tượng của ta nữa.

Vào với thế giới của Tin Mừng, ta vẫn mang theo trí tưởng tượng rất phong phú, là bởi trong niềm tin đi Đạo, những ai đã từng sống, đang sống và sẽ sống, vẫn nối kết với nhau trong cộng đoàn tình thương, của các thánh. Kết hợp các thánh với “Mẹ thánh”, là để nguyện cầu cho ta được chung phần hiệp thông, mà vui sống. Chính vì thế, từ ngàn xưa, các nghệ sĩ vẫn cứ tưởng tượng ra nhiều ảnh hình của “Mẹ thánh” và các thánh, là để gắn liền thế giới của Tin Mừng với mỗi hoàn cảnh xã hội ta sinh sống. Cũng giống như hôm nay, nếu diễn tả Mẹ Việt Nam rất thánh, ta sẽ quay về với “Em ơi, Hà Nội Phố”, mà hát thêm:


“Mùa đông năm ấy,

tiếng dương cầm trong căn nhà đổ

tan lễ chiều, sao còn vọng tiếng chuông ngân

ta còn em, một mầu xanh thời gian…”

(Phú Quang – Phan Vũ - bđd)

 

Mầu xanh thời gian được nhân cách hoá, thành người em. Nhân cách hoá, hay hình tượng hoá bằng ảnh hình với thi ca/âm nhạc, cũng là để ta sống rất sinh động, thế giới của Tin Mừng. Thế giới có những tin vui, rất mừng, giống như truyện kể, ở bên dưới:

 

“Hôm ấy, vị mục tử báo động với cộng đoàn về tình hình tái chánh của hội thánh rất nghiêm trọng, cần cứu chữa. Vị này, bèn lục tìm trong nhà kho xem có thứ gì có thể biến cải thành những tài và những chánh, thì thấy còn nhiều thùng đựng sách thánh, chưa tiêu thụ. Vì thế nên, Chúa Nhật đó, trong bài giảng về thế giới của Tin Mừng rất thánh thiện, đức thày đã yêu cầu cộng đoàn nên có ít nhất ba người thiện nguyện đến từng nhà của bà con chòm xóm, bán sách gây quỹ.

Thoạt khi ấy, thấy có ba vị hăng say giơ tay cao, để tình nguyện. Đó là: chị Gái, anh Giai và chú Bình, rất tỉnh táo. Khôn ngoan. Thành thạo. Chị Gái và anh Giai, vốn là nhà kinh doanh nổi tiếng bán buôn trong họ ngoài làng, ai cũng biết. Duy có anh Bình, vốn giòng nông gia, chân phương thật thà, lại còn chứng tật lắp bắp với cà-lăm, sao đòi đi bán? Nhưng, quyết không làm anh thất vọng vì chứng tật yếu kém này, đức thày vẫn cứ để anh thử thời vận một lần, cũng rất tốt.

Và, đức thày bèn gửi cả ba ra đi, chất đầy những “thế giới của Tin Mừng” qua trang Sách, thật rất thánh. Chờ đợi ngày họ quay về, hy vọng có nhiều kết quả. Ngày hẹn về, đức thày hỏi anh Giai lẫn chị Gái xem ai bán được nhiều Sách. Mỗi vị, chỉ bán có 20 cuốn. Mang về mỗi hai trăm.

Đến lượt Bình, anh thình lình đến với đức thày khoe ông kết quả mình đã bán, những 320. Và, ba trăm hai đếm đủ giao thày mục tử, không hề thiếu. Vốn thắc mắc về khả năng gây quỹ của một thành viên Hội thánh chưa từng biết bán buôn, mà sao kết quả thế, đức thày hỏi:

-Này Bình, tiền này là thế nào đây? Phải chăng anh bán được bấy nhiêu cuốn?

Bình chỉ gật đầu, không nói thêm. Rất ngạc nhiên, cả anh Giai lẫn chị Gái đều tỏ dấu vừa thán phục vừa nghi ngờ. Nghi ngờ tài buôn bán, chứ tuyệt nhiên không ngờ và cũng chẳng nghi tài hăng say, rất thánh của thành viên Hội thánh, là anh Bình. Cả đức thày, cũng không nghĩ là Bình ta lại tài giỏi đến thế, bèn gạn hỏi:

-Này anh Bình, không dám nghi ngờ tài của anh. Nhưng, hãy cắt nghĩa cho mọi người biết sao anh có biệt tài quảng bá Tin Mừng, tuyệt đến thế?

-T..ô..i, cũng…không …không…không…biết.

Ơn…ơn ..thánh…thánh..đ ..ấ..y!

-Anh Bình à, anh hãy mạnh dạn nói cho cộng đoàn biết anh nói những gì mà họ mua nhiều đến thế?

Tôi…tôi…nói..thế…thế…này..này…Quý…quý…vị

…vị..có…có…muốn…muốn…

mua…mua…Sách…Sách…thánh..thánh…này….này…không…không…hay…hay… muốn…muốn... ...tôi…tôi…đứng…đứng…đây…đây…đọc…đọc…cho…cho…nghe…nghe…rồi…rồi… mới …mới…mua…mua….

Nghe tới đó, mọi người hiểu ngay lòng muốn rất thánh của Bình, nên thôi không hỏi tiếp. Và từ đó, ai trong cộng đoàn Hội thánh sở tại, cũng đã có quyết tâm rất thánh, để làm những chuyện thánh thiện, của Hội thánh.

Truyện kể trên, không có ý diễn tả tình cảnh “rất thánh” của Mẹ thánh Giáo hội, ở địa phương. Nhưng, chỉ muốn nói rằng: trong quá trình sống Đạo giữa đời và trong đời, mình những tưởng mọi chuyện chỉ như “phiếm”, mà không Đạo. Mà, thật sự cũng rất Đạo và rất phiếm. Có chuyện Đạo trong đời, rất nên phiếm. Bởi, có “phiếm”, mới thấy được rằng Hội thánh cũng có những khoảnh khắc tương tự lời kết của nhạc bản “Em ơi, Hà Nội phố”, có ý lời như:

 

“Chiều Hồ Tây lao xao hoài con sóng,

chợt hoàng hôn về tự bao giờ”.

(Phú Quang & Phan Vũ – bđd)

 

Và, bần đạo vẫn tự nhủ: nếu ta thay thế chữ “Hồ Tây” bằng cụm từ “sống Đạo”, hẳn cũng sẽ có những khoảnh khắc suy tư rất ý nhị. Cho mình. Cho đời.

Trần Ngọc Mười Hai

có nhiều lúc

cứ hay nhủ với lòng mình

và với người

như thế.

 

 

“Chúng con đã về khát khao hơi Mẹ”

Chúng con xin thề giữ thơm quê Mẹ
Cuộc đời rồi phai tàn sau thế giới
Chỉ còn tình yêu của Mẹ mà thôi.

(Phạm Duy – Trường Ca Mẹ Việt Nam)

(Lc 2: 51-52)

            Từ lâu lắm, mỗi lần tưởng nhớ đến đấng hiền từ vốn làm mẹ, bần đạo cứ thấy lẩn vẩn trong đầu, những câu hát rất nghe quen của nghệ sĩ già, là Phạm Duy. Và, cũng từ dạo lân la quanh quẩn với nhà Đạo có tiệc cưới, bần đạo vẫn nhớ lại lời kinh chăm rất thi ca/âm nhạc của người anh trong gia đình, là Lm Nguyễn Thành Tâm, có câu hát rất “Diễm tình ca 3”, như:

 

“Rồi mai đây, kiếp sống có đôi

Đời buồn vui, mãi mãi bên nhau

Khấn xin Mẹ, thương dắt dìu

tình yêu dâng cao”

(Thành Tâm – Diễm Tình Ca 3)

 

            “Chỉ còn tình yêu của Mẹ, mà thôi”, hay “khấn xin Mẹ, thương dắt dìu”, vẫn là những tâm tình ới gọi rất trìu mến, với Mẹ hiền. Dù, người ới gọi có là người đời, ngoài Đạo. Hay, chỉ lạo xạo bên ngoài luồng. Và, dù có là nhà Đạo, rất đạo mạo, nhưng khác chính kiến. Tựa hồ người Đạo Hồi, ở khắp nơi. Có những tâm tình, mà bạn và tôi, ta thường bắt gặp ở đâu đó, như truyện kể. Rất dễ nể, như:

 

“Người mẹ hiền có lẽ vì rất bận và cũng khá rộn, nên mới sai đứa con 7 tuổi ra quán bán thịt heo đầu đường, hỏi bà bán quán:

-Con ơi, con chạy ra bà hàng thịt “lợn” ngó chừng xem bà ấy còn tai không để mẹ mua.

Cậu con về, chẳng nói chẳng rằng, cứ lầm lũi chơi nghịch tiếp, mẹ hiền lại hỏi:

-Bà ấy còn tai, không con?

-Con chịu thôi, bà ấy trùm khăn kín mít, chẳng tài nhảy lên tới để xem, đâu mẹ ạ!

 

            Còn tai không, mẹ hiền nào mà chẳng còn. Còn, không phải là để bán, khoe khoang đôi bông hột xoàn, mà để nghe. Nghe con hỏi, khi con chạy đến. Nghe lời dặn, khi Chúa bảo ban. Mẹ hiền, có nhiều con chạy đến hỏi han, xin xỏ, vẫn là Mẹ Hiền của Chúa, Đức Maria. Đức Maria Mẹ Thiên Chúa, là người mẹ rất nhân hiền. Hiền, với tất cả người con, trong cũng như ngoài. Trong Đạo. Ngoài luồng. Ở nơi đó, có các nhận định/cảm kích rất thân thương, như câu chuyện tâm tình của Beth Doherty, ở Sydney, như bên dưới:

 

“Lâu nay, tôi vẫn muốn tìm hiểu, xem bạn bè của tôi bên đạo Hồi, có cùng tâm tình thân kính mến yêu, hoặc tâm tư hiền lành như nơi Đạo Chúa, hay không. Với ưu tư bức súc ấy, tôi bèn tìm đến người bạn cùng lớp, là Hala Bazzi, ở tận Tây Nam Sydney, bên dưới ấy.

Vừa mở cửa, đã thấy Hala cười hớn hở chào đón tôi. Hala hôm ấy, ăn vận trông lịch lãm, rất dễ nhìn. Áo hijab mầu hồng, để lộ chiếc thun trắng nõn nà, trông dễ mến. Nhà Hala ở, trông sạch sẽ tươm tất, rất khang trang. Nội thất bày biện đơn sơ, giản dị đến mức độ như chẳng có gì.

Đến, để xem các phụ nữ bên đạo Hồi có coi trọng, thờ kính Đức nữ Đồng trinh Maria, như Đạo mình? Và để xem, Đạo của hai chúng tôi có gì tương đồng tương xứng, với niềm tin? Xem, để rồi hai chúng tôi có thể giúp nhau tìm hiểu và san bằng khác biệt, những biểu trưng chưa đồng nhất, nhưng đã giống nhau ở nhiều điểm.

Với đạo Hồi, Đức Maria mang nhiều ý nghĩa hơn ta tưởng. Mẹ là người nữ duy nhất, được Kinh Koran nhắc đầy đủ tên (tiếng Ả Rập, Mẹ có tên là Maryam), dù ở kinh, phu nhân các vị tiên tri/giáo đồ hoặc Vua quan bên đạo cũng được ghi khắc đến, hệt như thế). Với Mẹ Maria, có hẳn một chương sách (gọi là Sura) trong Kinh, nói về Mẹ.

Hala nói với tôi: Maryam là mẫu mực của đặc thù trinh trong, khiết tịnh, tin tưởng và chân phương thật thà. Mẹ, là người nữ phụ, nhờ vào tính trinh trong và tư tưởng siêu thoát nên Mẹ có khả năng sinh ra Đức Giê-su, và việc sinh hạ này là một trong các biến cố lớn lao chưa từng thấy trong lịch sử của con người.”

Trong kinh Koran của chúng tôi, có chương đoạn nói rất nhiều về Maryam, như: việc ngài sinh hạ, tiểu sử của ngài và việc ngài hạ sinh ra Đức Giê-su, mà chúng tôi gọi là Đấng Tiên Tri Isa (tức: Giê-su) và còn nhiều thứ khác nữa. Đức Allah (Thiên Chúa) cũng đề cập trong Kinh Koran, câu chuyện Mẹ Ngài có thai như thế nào. Đức Maryam không chỉ được miêu tả như một phụ nữ khiết trinh thôi, nhưng tên tuổi của ngài cũng còn được nhắc đến cùng với tên của các sứ giả thần thiêng khác.”

Hala còn nói: ở đạo Hồi, Maryam được tôn kính rất mực, vì Mẹ sốt sắng tôn sùng Đấng Thánh Allah, như Tiên tri Muhammad vẫn từng làm. Nghe vậy, tôi có nói với Hala là: với người đi Đạo chúng tôi cũng thế, Đức Maria là người Mẹ rất đáng chúc phúc, được Thiên Chúa gửi gắm trao ban làm Mẹ của mọi người. Với Hala, đạo Hồi không chỉ là một tôn giáo, nhưng còn là toàn bộ cuộc sống của cô. Và Hala rất vui thích được đón tiếp các người trẻ trong đạo, đến nhà cô nói chuyện về niềm tin đi đạo, về lối sống và rất thích các cuộc đàm thoại theo chiều hướng ấy. Vì thế nên, cô đã bỏ nhiều giờ để gần gũi với giới trẻ trong cộng đoàn theo đạo.

Chúng tôi cũng trao đổi cho nhau biết, về điểm khác biệt cũng như tương đồng giữa hai đạo. Chí ít, là khi xuất hiện trước đám đông. Chúng tôi cũng nói đến chuyện người theo đạo Hồi đội khăn che đầu che mặt. Về, cách thức phụ nữ Đạo Chúa, Do Thái và đạo Hồi vẫn che đầu che cổ, rất nhiều năm. Và bạn Hala còn nói thêm: đội khăn che mặt là giới lệnh từ Đức Chúa. Cô vẫn đeo đội nó từ khi còn ấu thơ. Có người mãi về sau mới chịu đeo đội. Duy có điều, là cô đọc rất nhiều về niềm tin và vẫn tin những điều mình đọc.

Tôi nói: tôi thấy điều này rất hay, bởi vào thời của Chúa, phụ nữ nào cũng đội khăn trên đầu. Với người Đạo Chúa, nay ta không còn thi hành các thói tục ấy, nhưng chắc chắn là trong Sách Thánh của Đạo mình, cũng có nhiều đoạn nói về những điều như thế.

Ngoài chuyện khăn áo, chúng tôi cũng nói với nhau về chuyện “lần hạt Mân Côi”. Hala có một chuỗi hạt rất đẹp, có khắc chữ Allah trên mỗi hạt. và Hala hỏi tôi xem bên Đạo mình có đọc kinh lần chuỗi như thế không? Đọc ra làm sao? Tôi nói: Khi lần chuỗi hạt, bên chúng tôi vẫn chào mừng Đức Maria, khen Mẹ đầy ơn phúc lạ… Còn Hala thì bảo: chúng tôi cũng thờ Đấng Allah bằng cách cảm tạ, tôn vinh và thờ phượng ngài, qua việc đếm lời tôn dương khi đọc kinh qua con số hạt chuỗi mình lần. Lần càng nhiều càng tốt.

Nguyện cầu càng nhiều càng tốt, xem ra đây là triết lý khá hay, đối với tôi. Và, chúng tôi gặp nhau trên những tương đồng và khác biệt ấy. Tất cả bắt đầu từ việc tôn kính người mẹ. Tình Mẹ hiền, Đức Maria.” (x. Beth Doherty, Of Rosary Beads and Ramadan, The Australian Catholics, Christmas 2008, tr.12)        

 

            Nói về Mẹ, dù có là Mẹ Việt Nam, Maryam hay Maria vẫn là nói về tình thương yêu đỡ đần, rất thần thánh. Tình thương ấy, vẫn thấy dẫy đầy trong thơ văn âm nhạc, nhiều thế kỷ. Việt Nam nhất Mẹ, vẫn có những giòng chảy của nghệ sĩ già, rất trường ca:

 

                        “Mẹ Việt Nam

Trời Đông ánh dương hồng

Cũng như chiều vàng mênh mông

Có đàn chim én lượn trên đất xinh

Chứa chan tình, là tình mong chờ…”

(Phạm Duy  - bđd)

 

            Quả là Mẹ vẫn chờ mong, đàn con tuôn đến, với Mẹ. Đến, có thể để cầu xin, ơn an bình:

 

                        “Mẹ ơi, đoái thương xem nước Việt Nam

                        trời u ám chiến tranh điêu tàn.

                        Mẹ hãy giơ tay ban phúc bình an    

                        Đưa Việt Nam qua phút nguy nan.”

(Hải Linh – Mẹ ơi đoái thương)

 

            Hoặc chỉ để tri ân, như lời ca ân cần:

                       

                        “Hay khi nao hạnh phúc đến dâng đầy

Xin cho con đừng thể dễ quên lời

Lời ca tri ân nhờ Mẹ thương đến chở che đời con.” (Thành tâm – bđd)

 

            Tuy nhiên, tâm tình hướng về Đức Maria, Mẹ của Chúa , không chỉ có thế. Bởi, những điều nói về Mẹ, hướng về Mẹ đều có thể và không thể. Có thể là đúng. Không thể là sai. Đúng hơn cả, mỗi khi Giáo hội đề cập hay nói về Mẹ, là để nói về Chúa. Trọng tâm của Tình yêu thương nhân loại. Trọng điểm của ơn cứu độ, rất thân thương. Như Tin Mừng. Bởi, Tin Mừng được viết là để viết cho nam nhân lẫn phụ nữ, những vị như Maryam, như Mẹ.

            Cùng với các nhân vật thánh thiêng trong Tin Mừng, Mẹ là quà tặng Chúa ban cho nam lẫn nữ. Già cũng như trẻ. Tặng ban, theo phương cách mà nam nhân lẫn phụ nữ, vẫn cứ nghĩ ra.Mỗi người nghĩ một cách. Có người nghĩ theo cách thế của người trẻ, vẫn cho rằng Mẹ là phụ nữ trẻ. Còn, với suy nghĩ của người cao niên, Mẹ sẽ là người Mẹ chững chạc và phiền luỵ đang đứng dưới chân của thập giá. Nghĩ thế nào thì nghĩ. Hát thế nào thì hát. Vẫn là cách suy nghĩ và ca hát của người xưa.

Ngày nay, mỗi lần nghĩ và nhớ Mẹ, có lẽ cũng nên liên tưởng đến các người nữ còn son trẻ. Ở mọi nơi. Bởi vì, trong Tin Mừng, Mẹ luôn nói năng trực tính. Âm lượng Mẹ phát, tựa như của người nữ trẻ, rất hôm nay. Thành thử, có đến với Mẹ, có lẽ cũng nên thẳng thắn. Trực tính. Sôi nổi.        

Tin Mừng các thánh sử còn miêu tả Mẹ bằng những ảnh hình của người Nữ có quan tâm đến thế giới Mẹ đang sống cùng. Và sống với. Cùng với hết mọi người. Vì cùng sống với thế giới mà Mẹ chung đụng, nên Mẹ chào đón thế giới công bình chân chất, mà Chúa đã hứa ban nơi Đức Giê-su, con của Mẹ. Đó là thế giới mà ở nơi đó, Thiên Chúa đã đánh gục các kẻ quyền thế khỏi ngai vương hào nhoáng, để nâng nhấc những kẻ bé nhỏ, vẫn thấp hèn.

Thành thử, đến với Đức Maria để được cầu bàu, giống như đến với người mẹ hiền rất thân và rất thương, mọi người chúng ta đều sẽ nhận ra nơi Thiên Chúa tính chất rất “Mẹ Hiền”, mà nhiều lúc ta quên lãng. Quên lãng, là vì có khi, có người có thể coi Maria Mẹ Hiền như người thay thế Chúa. Đấng ban phát ơn lành, cho con cái đang vòi vĩnh.

Ngày nay, Maria Mẹ hiền đã trở nên như người bạn hiền đến với mọi người, cả các người mẹ trẻ. Mẹ đơn chiếc. Mẹ lưu lạc, đó đây. Với tư cách là Mẹ của Thiên Chúa, Maria Mẹ Hiền có thể dùng uy thế của Mẹ để cản ngăn cơn thịnh nộ, bất bình của Đức Chúa. Và, với tư cách là người Mẹ đầy tình thương, Maria Mẹ Hiền còn khuyến khích ta đi vào tương quan nồng thắm với Chúa, nữa.       

Tóm lại, trọng tâm cuộc sống của Maria MẸ Hiền là Mẹ đã biết nhận lời mời của Chúa, để nói lời “xin vâng!” Vâng theo thánh ý Chúa. Vâng, để ơn cứu độ của Chúa được thực hiện. Vậy nên, rất xứng đáng là người để ta có thể nói chuyện gửi thưa, đưa đến Chúa. Nếu như, ta có lo ngại khi cần hỏi. Bởi, Mẹ vẫn luôn là người Mẹ Hiền, hiểu Chúa hơn ai hết. Chí ít, là hiểu được công trình của Chúa, đang dẫn dắt ta đi.

Trong quá trình nhờ Mẹ chuyển đạt lời cầu lên Đức Chúa, ở đây ở đó vẫn có những lời kinh hôm/ban sớm rất thi ca/âm nhạc như:

 

“Nào ai sẽ đem yêu thương đến chốn cơ cùng?

Và can đảm gióng lên tiếng nói, của công bình?

Nào ai sẽ đấu tranh cho dân quê của mình?

Còn ai nữa, nếu không là Mẹ, của con?

(Marty Haugen–Who will speak?

Nguyễn Thị Mỹ Hạnh dịch) 

 

            Mẹ của con, vẫn còn nơi đó luôn trông chờ con chạy đến. Mẹ của con, vẫn mỏi mòn trên bước đường chờ đợi tiếng thì, hỏi han. Mẹ còn đó, vẫn chờ con để an ủi, giãi bày, như mẹ hiền. Người phụ nữ đảm đang, được diễn tả trong áng văn hay, mọi dân tộc. Áng văn, hay truyện kể để minh họa tình mẹ hiền, về tình mẹ con/tình con của mẹ, như bên dưới:

 

“Bà mẹ trẻ tên Nga, chợt thấy vị bác sĩ vừa ra khởi phòng mổ, vội chạy đến hỏi:

-Thưa bác sĩ, con tôi ra sao? Cháu có mệnh hệ gì không? Bao giờ tôi gặp cháu?

-Rất tiếc.Tôi đã cố gắng hết mình, vẫn bó tay.

-Không thể được, ngoan như cháu nó, không bao giờ hút thuốc, thế mà vẫn bị ung thư phổi. Chúa Mẹ giờ này ở đâu, sao không đến giúp con tôi?

-Bà có muốn ở gần con vài giây phút không? Y tá sẽ ra ngoài để bà trò chuyện, trước khi cháu được đưa sang giảng đường trường y khoa, để sinh viên học.

-Chị có muốn tôi cắt ít tóc của cháu, để giữ làm kỷ niệm không?

Bà mẹ gật đầu, buồn rầu nói:

-Tội nghiệp con tôi. Cháu nó biết bệnh tình của mình, nên đã đồng ý hiến tặng tim mình cho sinh viên học. Cháu có nói: chết rồi, thì tim con cũng chẳng để làm gì. Chi bằng tặng nhà trường để họ có đồ mà nghiên cứu. Con muốn là, với quả tim của con, các bạn trẻ khác đang đau yếu sống thêm được ít ngày với mẹ hiền của các bạn ấy. .. Thật tội nghiệp! Tôi vẫn nói với mọi người, là: con tôi có quả tim bằng vàng, ít đứa có.

Bà mẹ trẻ rời bệnh viện Nhi đồng trong đau buồn, sau khi ra vào bệnh những 6 tháng cầu cứu hết bác sĩ này đến y tá hãy cứu sống con của mình. Bà nâng niu núm tóc của của bà, như đồ gia bảo để tưởng nhớ. Về nhà, bà vào phòng xếp dọn lại căn phòng nhỏ vẫn dành cho bé Duy. Rất ngăn nắp. Gọn gàng, đâu vào đó. Bà cũng không quên đặt lên chiếc gối mềm của bé Duy, nụ hôn nhẹ mà bà vẫn làm vào buổi tối.

Vào chập tối, bà mẹ trẻ tự dưng bỗng thức giấc, sờ soạng loanh quanh như có cái gì lấn cấn bên cạnh gối của bà, thì ra là bức thư. Có giòng chữ, của con gửi:

“Mẹ thân yêu,

Con biết là mẹ đang mất con rồi. Nhưng mẹ cũng đừng nghĩ rằng, con sẽ quên mẹ suốt đời con. Hoặc, không còn yêu mẹ như trước nữa. Cũng chẳng phải, vì con không còn ở quanh quẩn bên mẹ để nói “sao con thương mẹ quá à! Quả thật, con vẫn yêu mẹ, như xưa. Có khi còn hơn nữa. Mỗi ngày, trong đời. Có lẽ, trong tương lai mẹ con mình sẽ lại gặp nhau, ở đâu đó, tận cuối chân trời bừng sáng. Đến ngày đó, con vẫn muốn mẹ tìm một em khác để mà nuôi. Con không đành hanh gì đâu, mẹ ạ. Bé ấy, có thể lấy phòng nhỏ của con mà ở. Cứ lấy đồ chơi của con ra mà dùng.

Có một điều, con muốn xin cùng mẹ: nếu mẹ nuôi một em bé gái, thì chắc là mẹ phải sắm sửa thêm áo quần mầu hồng, và cả những búp bê cho em nữa. Mẹ cũng đừng buồn rầu khi nghĩ đến con. Ở nơi đây, con thật sự thấy thoải mái lắm. Rồi ra, bà ngoại cũng sắp được gặp con, sớm thôi. Và, ngoại sẽ dẫn con đi thăm cho biết mọi nơi mọi chốn, để con không lạc lõng. Sao các thiên thần ở đây dễ thương quá thế, mẹ. Con thích nhìn ngắm thiên thần bay lượn chung quanh lắm. Và, mẹ có biết không? Chúa Giê-su của con trông không giống các hình tượng con thấy ở nhà thờ đâu. Mới nhìn, con đã nhận ra Ngài rồi. Và Chúa Giê-su cũng đã dắt con lên gặp Chúa Cha rồi.

Mẹ có đoán được ra Chúa Cha đã làm gì với con không. Chúa cho con ngồi trên đùi của Ngài và nói chuyện với Ngài. Giống như con là đứa bé ngoan, vậy đó. Con nói với Chúa là con muốn viết thư cho mẹ để kể lại những chuyện ở đây, và cũng để chào từ giã mẹ, con biết là khó được như thế lắm. Con nghĩ là thánh thiên thần Ga-bi-ri-e sẽ mang thư này thả vào thùng cho mẹ đọc cho sớm. Hình như Chúa đã nói thay con, khi mẹ hỏi Chúa ở đâu mà sao không đến cứu con? Chúa nói: Ngài ở cùng chỗ với con, khi con của Chúa bị treo trên cây thánh giá, đó mẹ. Ngài bảo: Ngài lúc nào cũng ở chỗ đó. Ở với con cháu của Ngài, lúc mạnh cũng như khi đau.

À mẹ ơi, còn chuyện này nữa, là: ngoài mẹ ra, chẳng ai đọc được thư con viết cho mẹ đâu. Bởi vì, ai nhìn vào cũng chỉ thấy tờ giấy trắng trơn, không có gì. Thôi, con trả cây viết lại cho Chúa đây. Vì Chúa đang cần viết thêm tên của con cháu Ngài vào sổ bộ đời nữa. Tối nay con được ngồi cùng bàn ăn tối với Chúa, tuyệt diệu chưa.

Còn một điều suýt nữa thì con quên. Con không còn thấy đau gì nữa mẹ ạ. Con rất vui về chuyện này, vì Chúa đã chịu đau thay cho con rồi. Lúc đó là lúc Ngài sai các thiên thần đến đem con đi. Thiên thần nói với con, đây là sứ vụ đặc biệt để đón con về với Chúa, đó. Mẹ thấy thế nào? Tuyệt chứ, mẹ nhỉ?

Con yêu mẹ nhiều lắm đó.

Ký tên: Chúa Cha, Chúa Giê-su và con của mẹ.                     

 

            Truyện bé Duy, chỉ là truyện kể đầy hư cấu. Chẳng có dấu hiệu, đúng sự thật. Cũng na ná mọi truyện kể về tình mẹ thương con. Chí ít, là những con còn trẻ. Là, truyện kể rất nhẹ. Nhẹ, như tình mẹ. Nhẹ, như lòng con hằng tưởng nhớ đến mẹ. Cũng nhẹ êm, ngọt ngào. Như mọi chuyện tình chốn dương gian, trần thế. Còn gọi là tình Mẹ. Hay, Maria tình mến thương. Vẫn cứu giúp. Cầu bàu. Vì, Mẹ chính là Maria, Đấng Hiền Từ. Chuyên cầu bàu giùm giúp. Hết mọi người.

           

            Trần Ngọc Mười Hai   

            vẫn nhớ Mẹ Hiền

            đầy mến thương

            khi buồn chán.

“Tình, có lúc khiến ta buồn chán”

muốn khoanh tay quay mặt chẳng màng

ngồi đếm những vết nhăn vầng trán

nhắc cho ta một thời yêu nàng” (Lê Hựu Hà)

 

(Mt 5: 12)

            Tình buồn chán. Những là vết nhăn vầng trán, nhắc ta một thời yêu đương. Phải chăng đây, là tuyên ngôn của người từng trải? Hỏi là hỏi thế thôi, chứ biết rằng: người nghệ sĩ đây chẳng còn cơ hội để đáp với thưa. Có chăng, chỉ là tình tự đổi trao, không bằng lời. Mà, bằng giòng chảy âm nhạc, ở cõi kia.

            Về buồn chán, chắc chắn không chỉ nhà thơ hay người viết nhạc, mới cảm nghiệm. Chừng như ai sống trên đời, cũng đều vướng mắc, nỗi buồn và chán ấy. Với nhân gian, hai chữ buồn/chán, là tính cách rất thực của cuộc sống, thực tế. Sống ở đời, có những lúc ai mà chẳng buồn, và thấy chán? Cả đến người hạnh phúc tràn đầy với tiếng tăm như người “thợ viết’ họ Bùi (rất) Bảo Trúc. Mỗi lần kết thúc câu chuyện đời, đều vẫn viết: “Chán mớ đời!”, “Rõ chán!”… 

            Về tình buồn khá chán, nếu bạn chịu đi một vòng phỏng vấn nhỏ, bỏ túi, hẳn sẽ bắt gặp những lời phát biểu thổ lộ, nghe rất quen. Quen, như câu buột miệng, từ chính mình.  Hoặc, của ai đó, như sau:

 

*Với đôi vợ chồng trẻ: “Truyền hình độ này chẳng có gì hay. Xem phát chán.Hay mình thử đến    rạp xem có phim gì hay không cưng?”

*Với cụ già vừa về hưu: “Từ ngày về nhà đuổi gà cho vợ, chẳng có việc gì làm. Rõ đáng chán.  Cứ luẩn quẩn suốt ngày ở xó bếp, làm sao khá?”

*Với bạn trẻ hay được ba mẹ nhắc đi nhà thờ: “Thôi, con không đi đâu. Lễ với lạy lúc này chán lắm rồi. Lần nào đi lễ cũng gặp cha với cố toàn xin tiền xây nhà thờ không à… Sao con thấy ngao ngán quá, đi thôi.”

 

Nghiên cứu kỹ, hẳn bạn sẽ phán: chán là thành phần cuộc sống, ngày hôm nay. Là, trạng thái đời thường mang dáng trầm buồn, khôn tả xiết. Là, cảnh tình trống vắng, mất cả động lực thúc đẩy, để mình sống. Chán, còn là trộn lẫn giữa nỗi niềm lẻ bóng với giác quan. Lẻ bóng - cô đơn, cả vào lúc mình bận rộn hơn bao giờ hết. Bận việc. Bận sinh hoạt, đến không có thì giờ mà nghỉ, thế mới chán.

Và hôm nay, chắc sẽ có bạn thắc mắc hỏi: Lời Chúa, có đề cập gì đến chuyện buồn chán, hay chăng? Tin Mừng có là tin vẫn đáng buồn và khá chán?

Đã hỏi, thì xin thưa: đọc cả bốn Tin Mừng chẳng thấy chỗ nào Chúa nói chán và chán nói, hết. Chúa phán và khuyên nhủ những “rất không chán”, chỉ thấy vui, như sau:

 

            “Anh em hãy vui mừng hớn hở,

vì phần thưởng dành cho anh em

ở trên trời

thật lớn lao.

Quả vậy, các ngôn sứ

là những người đi trước anh em

cũng bị người ta bách hại như thế.” (Mt 5: 12)

 

            Nếu tìm hiểu, bạn và tôi sẽ thấy những ai bị bách hại vì buồn/chán suốt cuộc đời, tưởng cũng nên nghĩ về câu Ngài khuyên nhủ. Bởi, “vui mừng hớn hở”, chính là điều kiện ắt-và-đủ để ta thụ hưởng niềm vui Nước Trời, không hề chán. Có thể bảo: sở dĩ bạn bè ở đời vẫn than “chán” suốt ngày, là vì họ tìm chưa ra mục tiêu của sự sống. Nhiều người vẫn thích “dính liền” với những gì tạm bợ, ở trần gian. Tạm bợ, vì niềm hạnh phúc dù có kéo dài suốt canh thâu, họ cũng đâu lấy làm mãn nguyện. Vẫn cứ mải tìm kiếm niềm vui, cho riêng mình. 

            Niềm vui đích thật, là vui không bao giờ biết chán. Niềm vui ấy như thế này:

 

                        “Vậy, tôi nói cho các ông hay:

trên trời cũng thế,

ai nấy sẽ vui mừng

vì một người tội lỗi ăn năn sám hối,

hơn là vì chín mươi chín người công chính

không cần phải sám hối ăn năn.”

(Lc 15: 7)

             Niềm vui nhà Đạo, là như thế. Nhưng, nếu hỏi rằng: người sống bên lề nhà Đạo, nếu muốn vui, hà tất cứ phải biết ăn năn sám hối, sao? 

            Thú thật, bần đạo nghe hỏi chả biết đối đáp làm sao, cho phải lẽ. Thôi thì, bần đạo chỉ dám mượn lời của nhân sĩ Hà Sỹ Phu - Nguyễn Xuân Tụ, làm ví dụ:

 

            “Cháu buồn cháu gọi Ức Trai ơi

            Xin được quỳ bên, hỏi một nhời:

            ‘Kim bang vô đạo hà như xử,

            cổ tích oan khiên diệc khả hồi”? (*)

            Giọt máu Linh xà sao thấm mãi,

            Cháu buồn cháu gọi Ức Trai ơi!

(Hà Sỹ Phú – Sáng trăng)

 

            Cụ Hà Sỹ Phu thấy buồn rầu và chán nản nên mới vời bạn già của mình là cụ Ức Trai để hỏi (*): “Nay nước vô đạo phải ứng xử sao đây? Câu chuyện oan khiên ngày trước lại tái hồi chăng?”. Thi hào/nhân sĩ buồn chán sự đời, thời vẫn hỏi như thế. Còn, dân gian buồn chán giận đời, hỏi ai đây?  

            Nhìn vào trần thế hôm nay, ta thấy người người bày vẽ đủ thứ chuyện. Hết chuyện truyền hình/phim ảnh lại đến vi tính cũng vi vu, đủ mọi thứ cốt để tạo niềm hứng khởi lôi cuốn người đời nhưng nào đã đủ? Như đôi vợ chồng mới nói ở trên, hết xem tivi chán rồi còn rủ nhau đến rạp ngồi, vẫn chưa vui. Thế mới biết, duyên do đưa dẫn đến những chán và buồn, hẳn phải là chuyện tâm tình của ai chăng?  

            Có đám trẻ người, mà người mình ở bên nhà hiện giờ gọi là người tuổi “tin” (teen-ager) có lúc thấy đơn lẻ, bèn tìm về với “chít chát’ trên mạng, tức loại hình rất mới. Hết khổ công “nối mạng”, để rồi mạng nối với người đời, bên kia bờ đại lục, cho bớt chán. Gặp ngay, vị đối tác cũng lại đang tìm kẻ không-bao-giờ-biết-chán, để giải khuây. Cuối cùng, cả chàng lẫn nàng vẫn thấy buồn. Thành thử, nỗi buồn rất chán ở đời, hôm nay, lại mang thêm một danh xưng mới “nỗi chán không tên”. Chẳng thế mà, có chuyện người trẻ ở Nhật đã rủ nhau ra đi mà tự vẫn tập thể, dạo gần đây.

            Giải quyết nỗi chán hôm nay người đời kiếm tìm đủ mọi cách, vẫn không xong. Phương cách mà nhiều người quyết tìm kiếm là làm sao đẩy lùi được nỗi chán chường, đi dần vào vùng trời dĩ vãng. Rất mông lung. Mơ hồ. Cô quạnh. Có vị, còn tìm cách làm hết chuyện này đến việc khác, cho thêm bận. Nhưng kết cuộc, vẫn cứ “buồn ơi chào mi”, nghe còn chán nhiều hơn nữa.

            Có vị, lại tìm đến môi trường học đường để xem có giáo án/chương trình nào khả dĩ giúp ích mình được gì không? Có nhà trường, đưa ra đề nghị: bạn cứ thử sử dụng thời giờ rảnh rỗi mà niệm suy. Thời gian để suy và niệm, cũng chỉ chừng vài phút trong thời khoá biểu thường nhật. Đều đặn. Những niệm và suy, khởi phát từ lúc học được ở Mẫu Giáo vườn hồng. Nơi đây, trẻ bé vẫn cứ tập tành lặng thinh trong chốc lát. Chỉ vài phút thôi. Vài phút, để nhớ rằng: Chúa ở bên em, vào mọi lúc. Rất vui. Có nụ cười.

            Rồi khi khôn lớn, thời gian lặng thinh cứ thế mà tăng dần. Tăng dần lên, để mọi người cảm nghiệm rằng mình đang vui thú, có sự hiện diện của Chúa. Đức Chúa hiện diện ở nơi mình. Mình hiện diện ở bên Chúa. Cứ như thế, nỗi buồn chán kia, ắt từ từ … chấm hết. Dứt đoạn.

            Thế đó, là đề nghị của một số nhà mô phạm, trong Đạo/ngoài đời. Và, đây là đề nghị của người lớn. Thế còn, trẻ nhỏ thì sao? Câu hỏi này, thật ra rất khó trả lời. Bởi, là người đọc dòng chảy này, đâu ai còn nhỏ nhắn để mà thưa. Thưa, như những câu thưa – hỏi, của em nhỏ ở bên dưới:

           

“Một bé em ngồi chễm chệ trên đùi ông ngoại, nghe ngoại đọc truyện kể, trước khi ngủ. Thay vì lim dim đi dần vào giấc ngủ thần tiên nhỏ bé, em lại cứ để mắt, hết quay nhìn vào sách truyện, lại hướng về vầng trán nhăn nheo của ông ngoại. Đôi lúc, bé còn lấy tay sờ lên trán mình xem có những đường nhăn nheo đáng chán như trán ông ngoại, không. Cuối cùng, bé lên tiếng:

-Ngoại à, có phải Chúa làm ra ông ngoại không, mà sao nhìn trán ngoại, con thấy ông ngoại đáng chán như thế?     

-Ấy, con đừng nói thế. Đúng đấy, con! Chúa dựng nên ông ngoại, cách nay cũng khá lâu.

Ngưng hỏi chỉ một phút, bé em lại tiếp tục:

-Thế, Chúa có dựng nên con không, ông ngoại?

-Có đấy con ạ. Thiên Chúa dựng nên cháu, chỉ mới đây thôi.

Vẫn tiếp tục sờ vào vầng trán của mình, rồi đến trán ông ngoại, không biết chán, bé nói:

-Con dám cá là Chúa làm nên con người riết rồi, cũng phải chán thôi. Nhưng lần này không hiểu sao lần này Chúa đã làm khá hơn trước, rất nhiều. Vì thế, Chúa mới bớt chán đời, phải không ông ngoại?

 

            Bắt chước ngôn ngữ của thi hào William Shakespeare, ắt hẳn ta dám nói: chán hay không chán, đó chính là vấn đề. Đúng thế. Chán buồn/buồn chán, vẫn là vấn đề thời đại. Khó mà thoát. Có chăng, chỉ bớt đi phần nào nỗi buồn không tên ấy, mà thôi.

            Như mọi lần, khi đề cập đến chuyện buồn - chán như chủ đề hôm nay, bần đạo đề nghị bạn bè/người thân, ta thử đọc thêm truyện kể, bên dưới, coi đây là cách thư-giãn, cho vãn cơn chán-ngán-mà-không-buồn, như sau:

 

“Vị nữ lưu nọ, vẫn thầm hỏi mình, hỏi người như sau: lâu nay tôi làm đủ điều, sao vẫn thấy chán. Chán đời. Chán Chúa, chán cả riêng tôi?

Có lần, tôi mạnh dạn dò hỏi Chúa, trong thinh lặng nguyện cầu vẫn lan man, rằng:

-Lạy Chúa, xin cho con được tiếp chuyện với Chúa ít phút, để cho con bớt buồn.

Lập tức, có tiếng chim oanh líu lo ở đâu đó, vẫn cứ hót. Vị nữ lưu, cứ để ý nghe ngóng vẫn không thấy tiếng Chúa đáp từ, ra như buồn giận. Giận riết rồi chị lại thì thầm, rất thở than.Than với thở xong, chị bèn hối thúc Chúa:

-Lạy Chúa, xin hãy nói chuyện cùng con đi, không thì con chán lắm!

Ít phút sau, lại có tiếng sấm sét ầm ầm nổi lên. Vang rền cả một góc trời. Vị nữ lưu không nói thêm điều gì, cũng chả buồn để ý đến những gì khác lạ đâu đâu, nơi tiếng sấm. Vả lại, chuyện mưa ầm, sấm nổ có gì lạ đâu. Vẫn rất ư là đáng chán. Nghĩ thế, chị ngồi không được lâu, lại tiếp tục vặn hỏi Chúa:

-Chúa dấu yêu! Xin cho con được diện kiến dung nhan Ngài. Chỉ một chút thôi. Con thề sẽ không cho ai hay biết chuyện này, hết.

Chỉ một lát sau, đã thấy sao khuya lấp lánh, trên bầu trời cao thẳm. Rọi chiếu khắp không gian, thấy rất nhiều. Thế nhưng, nữ lưu nhà mình, vẫn có mắt mà không thấy. Cứ réo gọi Đức Chúa, suốt một ngày:

-Lạy Chúa mến yêu. Xin hãy cho con một dấu lạ, để con bớt chán chường. Với dấu hiệu này, con hẹn sẽ làm lành lánh dữ, dứt khoát thôi!

Tức thì, có nguồn tin xuất hiện trên báo đài, vừa thoáng bắt, là: nhiều trẻ nhỏ vừa góp mặt chào đời. Rất đông. Nhiều nhất, là ở Trung Hoa. Trẻ sơ sinh ở bên đó, không cơ man nào đếm hết. Không thống kê nào, kể cho xiết. Nhưng, nữ lưu buồn, vẫn chẳng bận tâm gì mấy trẻ con. Cũng không đoái hoài đến chuyện sản sinh. Quá tuyệt vọng chờ đợi Chúa cất tiếng phán, chị bèn nói lên thật to, cơ hồ để Chúa nghe hoài phát thấy ngán, phải đáp từ:

-Ôi, lạy Chúa. Xin Chúa thử sờ chạm người con, để con biết là Chúa đang nghe tiếng con nguyện cầu mà đoái mắt, nhìn xuống.

Ngay tức khắc, Chúa ghé xuống va chạm vào người chị. Thế nhưng, chị lại cứ dùng tay mà đuổi xua. Phủi rất mạnh đàn bướm ở đâu đó dồn dập tới. Có cả lũ ong ruồi bu quanh, thật đến nản. Nản chí, nản cả lòng người, chị thất thểu bước đi, dáng thật buồn…

 

Truyện kể ở trên có thể minh họa rằng Chúa đã và đang hiện diện và hoạt động quanh ta hàng giây, hàng phút nơi người anh, người chị, nơi con em, cháu chắt cùng chim muông, loài thú với cỏ cây mà ta mải buồn, mải chán nên chẳng nhận ra, đó thôi.

Một đề nghị nhỏ, là: bạn và tôi, ta hãy bỏ chút thời gian mà an vui, thinh lặng, để cảm nghiệm và lắng nghe. Nghe và nhìn cuộc đời. Cũng chớ đòi hỏi nhiều nơi người. Nơi Chúa. Theo cách thức của riêng mình.

Thêm nữa, chấp nhận rằng: buồn chán và bất ưng, vẫn có đó. Vẫn cứ xảy đến với đời và với người. Ở bất cứ đâu. Nhưng, hãy cứ nhìn nó bằng nhãn quan rộng mở. Nhãn quan mới của Ki tô hữu đã thanh tẩy, đổi thay. Với niềm vui tin tưởng.

            Chắc chắn bạn và tôi, ta sẽ thấy niềm vui, không còn chán. Hay bớt chán trong suốt 75 năm cuộc đời ở trần gian. Vì, có chán hay không, mọi sự vẫn cứ là Ân Sủng. Cho mọi người. Ở mọi thời. 

 

            Trần Ngọc Mười Hai,

            nhiều lúc cũng thấy chán

nhưng chưa nản.                          

“Tình là tình nhiều khi không mà có”

Tình là tình nhiều lúc có như không
Tình xôn-xao như giọt nắng lên cao,

cho lòng mình mang-mang như làn khói
Tình trôi qua như là giấc chim bao.

Ôi, tình đầu bỡ ngỡ cơn mộng du.

(Trần Thiện Thanh – Tình Có Như Không)

(Mt 22: 18-21)

            Có những mốc điểm lịch sử, khi từng sống qua, bần đạo vẫn muốn hát lên những lời tương tự. Như, lời của người nghệ sĩ. Ngâm nga lời nghệ sĩ, là để muốn nói lên rằng: trong niềm riêng rất nhẹ, lúc tình đời dâng cao, vẫn làm cho người người ở đời, không dễ nhận ra, những ‘tình có như không’.

            Nhìn vào cuộc sống rất ứng dụng, bần đạo nhớ rõ năm ấy là cuối thập niên ’60, người anh và cũng thầy của bần đạo đã từ Pháp quốc vội bay về quê Dòng, để cùng sống và cảm nghiệm những tháng ngày thực tế có cộng đoàn Hội thánh. Người anh năm ấy, đã dám bỏ cả chức giáo sư thực thụ trường Đại Học Sorbonne, Paris mà vị viện trưởng việc Đại học này, đề cử. Lúc ấy, anh chỉ muốn duy nhất một điều, là về lại quê hương sống đời thực tế trong và với tình Dòng còn son trẻ, có những “luồng gió mới”, có từ thời hậu Công Đồng Chung Vatican I, mới thổi về.

Mốc điểm lịch sử 1966, còn được đánh dấu bằng một vận động cho đám tu sinh Dòng của anh (trong đó có bần đạo, và anh em đồng môn), được tham gia cuộc sống học hành ở đời thường. Có triết lý đời sống và sống đời triết lý, với người thường ở đời. Và, với đời.

Triết lý sống và sống triết lý, là những gì mà nhà hiền triết nọ khi xưa từng nhủ khuyên: “Sống trước đã, triết lý hãy để sau”. Sống đời thường có triết lý, là những gì mà người đời thời nay thường vẫn ưu tư, thắc mắc về cái-gọi-là “chính trị và cuộc sống Đạo”. Tức: sống đạo làm người. Ở đời thường có Đạo. Nói nôm na, đó là những nhận thức sống có hành động xử thế đính kèm rất cụ thể. Trong Đạo. Ở đời.

Sống Đạo ở đời có triết lý, có chính-trị hoặc tà-trị đủ cả, vẫn là sống đời thường, ở huyện. Một huyện, có đủ thứ chuyện. Từ truyện kể về đời người. Đến chuyện về thái độ của người đời như sau:

 

“Thanh niên nọ, từ sở lái xe về nhà. Trời còn sớm, nên anh tạt vào cây xăng đổ ít xăng dầu giá rẻ ngày thứ ba, kẻo mai nó lên giá. Đổ xong, còn ít tiền anh mua lon bia uống sương sương để tự thưởng, sau một ngày mệt nhọc, đầy những việc. Đang nhâm nhi, anh bỗng thấy có mấy anh em đang làm lao động công ích, “trồng cây gây rừng”. Quan sát kỹ, anh thấy hai người trẻ cứ tàn tàn làm cái công việc “khá nặng” (?) mà chính phủ giao phó, không có gì vội vã. Vất vả. Cực nhọc. Người này đào đất sâu chừng ba tấc, xong xuôi bèn bước ra chỗ khác; nghỉ một chút, lại đào tiếp. Đến lượt người kia, lấy chỗ đất vừa đào lên, đổ vào lỗ. Như cũ. Cứ thế, họ tiếp tục công việc, cho hết giờ. Ngay lúc ấy, thấy kỳ kỳ, người thanh niên lạ bèn trờ tới, nói với hai người anh em trẻ đang lao động công ích, rằng:

-Này các bạn. Xin lỗi vì cái tội cứ là hay dính vào chuyện của người khác. Nhưng, nhìn các bạn lao động, tôi không thể nào chịu được, đành phải nói lên ý kiến bản thân! Sao hai bạn cứ một người đào đất lên, người kia lại lấp xuống, làm hoài như cái máy mà chẳng suy nghĩ gì cả vậy? Bộ, hai bạn không có việc gì khác, để làm sao?.

-Việc chính phủ mà! Làm xong lãnh tiền. Bảo gì làm nấy, việc gì mà thắc mắc?

-Ấy! làm thế rách việc lắm, bao giờ mới hết. Với lại, chỉ tốn tiền bọn tôi đóng thuế, thôi!

-Dạ, ông chẳng hiểu gì chuyện “chính trị chính em” hết đó…

Đang nói nửa chừng, người bạn lao động trẻ kia, nghe thế cướp lời:        

-Bình thường, thì bọn tôi 3 đứa, vẫn hợp tác lao động rất đều. Một, là anh Hai Lúa đây. Người thứ hai, là anh Tư Mập và tôi, là Ba Bệu. Anh Hai đây, chuyên trị việc đào đất, để trồng cây. Tư Mập, chỉ làm mỗi việc là: bỏ cây xanh mới trồng, cho xuống lỗ. Còn tôi, tôi phụ trách việc lấp đất, sau khi anh Tư Mập bỏ cây vào lỗ. Bữa nay, gặp lúc trời lạnh, nên anh Tư bị bịnh, nghỉ nguyên ngày. Anh Tư bị bệnh thì anh ấy nghỉ, đâu có nghĩa là bọn tôi cũng được nghỉ, khỏi phải làm công chuyện của mình, đâu. Làm việc theo giây chuyền mà, thưa anh bạn rất không thân!”      

 

Sống đời thường có chính trị, đối với bần đạo, là sống những mốc điểm lịch sử được đánh dấu bằng các sự kiện: linh mục Dòng xuống đường, linh mục Dòng tham gia biểu (đồng) tình vụ “Pin Con Ó”, hoặc linh mục Dòng bậc đàn anh hòa mình vào với cuộc sống có hành động phản kháng chính trị ở cấp cao. Những nào: “Bản cáo trạng số 2…” “cải thiện chế độ lao tù”, phản chống cách đối xử với người dân thường/tù nhân bất đồng chính kiến, nhốt họ vào cái-gọi-là “chuồng cọp”, vv…

Một lần nữa, sống Đạo ở đời thường, là: chẳng dại gì mà dấn bước vào chốn có những cãi vã/tranh đua, ai đúng ai sai. Nay, chỉ muốn nhắc đến thái độ sống Đạo trong đời rất quả cảm của những người anh - người em, cùng thế hệ, đã dám đối đầu phản chống giới cầm quyền, chuyên nắm quyền sinh sát, những dân đen. Thấp hèn. Sống Đạo ở đời có chính trị, là thái độ của các vị dám dưa lưng, đưa đầu ra cho người ta (những người nắm quyền bính chính trị) phỉ nhổ. Chửi bới. Đánh đòn “hội chợ”. Rất đáng sợ. Sống Đạo ở đời, còn là dám thể hiện tình người, giùm giúp những người bị ruồng bỏ mà những “Pharisêu thời đại” luôn chỉ trích để chứng tỏ mình là người biết giữ luật. Rất khiếp kinh. 

Nhắc lại ở đây, chỉ để nhớ. Nhớ rằng, vào thời của Chúa cũng xảy ra những tình huống, nhiều bẫy cạm. Bẫy và cạm, do bàn-tay-năm-ngón-đã-nhúng-chàm, tạo bức chế. Phạm quyền. Và để nhớ, là thời của Chúa, cũng có những đàn em làm “ăng ten”/“điếu đóm”, dám vặn hỏi:

 

“Xin Thày cho biết ý kiến:

có được phép nộp thuế

cho Xê-da?”

(Mt 22: 18)

 

Nộp thuế cho Xê-da, còn là hỏi thử: có được phép sinh hoạt chính trị, hoặc sống triết lý với giới “tà trị”? Trả lời của Chúa: “hãy trả về cho Xê-da, những gì của Xê-da”, là câu nói đượm nhiều ý nghĩa. Ý nghĩa, của những tham gia chính trị với tà-trị. Ý nghĩa, dùng hình thức bạo động, khủng bố để hà hiếp đám dân đen, thấp hèn. Thì, câu đáp trả, sẽ là: “hãy trả về cho giới tà-trị chuyên bạo động, những giải pháp bạo tàn”, không cần có nơi Đạo.

Bởi, chính-trị của Đức Chúa, là chính trị của Tình yêu luôn ngự trị. Là, đường hướng cai-trị của Cha. Là, ngự-trị một cách chính đáng bằng tình yêu. Bằng, tha thứ. Thuần phục. Là, thứ chính trị khả dĩ biến đổi sâu sắc tâm can, của con người. Chính trị ấy, tuyệt nhiên không dùng phương pháp hay phương tiện của ác thần/sự dữ nơi cơ cấu/thể chế “thu về một mối”. Cũng, không áp dụng phương cách gây khiếp đảm. Trả đũa. Trả thù.

Chính trị của Chúa, không là trả lại, đáp trả hoặc ăn-miếng-trả-miếng với Xêda hoặc giới tà-trị đang cầm cân nảy mực. Mà là, “đem về” với Đức Chúa, những gì thuộc về Đức Chúa. Thực tế mà nói, chỉ thuộc về Đức Chúa, những gì là yêu thương. Tha thứ. Đỡ đần. Bao lâu, ta thực hiện được việc “đem về” với Chúa, tất cả những gì là Tình yêu từ phía địch thù, tà-trị hay toàn-trị…thì việc ấy mới đích thực là “chính trị” của Chúa.

Chính sách và chính trị đặt nặng lên yêu thương, Chúa đã từng chủ trương, luôn nhắc nhở dân con ở Vương Quốc Nước Trời. Các cụm từ hoặc nhóm chữ, như: thứ tha, yêu thương, “làm điều tốt lành cho trẻ nhỏ…” vẫn là chính trị, việc chính yếu trải dài từ đầu Kinh Sách.  

Đọc kỹ Kinh Sách, hẳn bạn và tôi sẽ thấy rằng: chủ đích chính của nền chính trị nơi Đạo Chúa chính là Tình yêu trong ngự trị. Cai trị. Toàn trị. Tình của chính trị, là thứ “Tình là tình nhiều khi không mà có”. Và cũng có lúc, “Tình là tình nhiều lúc có cũng như không”. Như không, là bởi:

“Tình cho đi, cho từ lúc quen sơ.

Cho thật nhiều, bỡ ngỡ chưa hề cho.

Tình cho đi, nhưng chẳng nói năng chi.

Nên ngập ngừng, mãi mãi mối tình câm.”

(Trần Thiện Thanh – bđd)

           

Tình phải là thứ cho đi, từ lúc quen sơ, hay ban sơ. Có thế, mới là tình của chính trị, chứ không phải của tà-trị. Sở dĩ có tà-trị, hay toàn-trị rất căng, là bởi những người làm công việc ngự trị một cõi -dù là cõi miền toàn những đất ở phía Nam- chỉ biết “nhận vào” chứ không “cho đi”, những tình là tình.

            Sở dĩ có tà-trị và toàn-trị, thay vì chính (đáng) trị, hay “tình” yêu ngự-trị, là bởi ở đất miền ấy:

 

            “những người Pha-ri-sêu đi bàn bạc với nhau,

để làm cho Ngài lỡ lời, mắc bẫy.

Họ sai đến với Ngài các môn đệ của họ

cùng với phe cánh Hê-rô-đê.”

(Mt 22: 15)

 

            Tức là, ở những nơi lẽ-đáng-ra tình yêu phải ngự-trị, thì lại thấy toàn những bè và cánh. Như thế, tại nơi được gọi là chốn bè bạn, sao toàn thấy những bè chứ chẳng thấy bạn, ở đâu hết. Dù đó có là bè Sá đốc. Dù đó, có là cánh Pharisêu, hoặc Biệt Phái, rất Kinh Sư.

            Thành thử, suốt nhiều thế kỷ trải dài trong lịch sử Đạo và đời, cả đến hôm nay, người người vẫn thấy những chuyện trái khuấy xảy đến, cả với những người công chính, chuyên việc lễ lạy với tiến dâng Cha. Những bè phái, vẫn không kết-hợp hài-hoà được thói quen giữ Đạo trong chuỗi ngày của Chúa, có trách nhiệm. Trách nhiệm ở ngoài đời. Vào những ngày trong tuần. Trách nhiệm ngoài đời, là thứ chính-trị rất chính-đáng, có tình và có lý. Có cả “tình yêu ngự trị” như Chúa vẫn khuyên:

 

“hãy đem về với Chúa,

những gì thuộc về Chúa”.

           

Lời khuyên và cũng là hiệu lệnh ở trên, mà các bậc trưởng thượng đang “ngự-trị” Hội thánh, lâu nay có trọng trách rao truyền và công bố cho mọi người ở trần thế biết về đường lối rất chính và trị trên, có bổn phận sử dụng cơ cấu chính trị, hoặc diễn đàn thế giới, để thực hiện công tác mà Chúa giao phó. Công tác ấy, là việc hoà-phối sao cho “Tình yêu lẽ-đáng-phải-ngự-trị” được thể hiện với toàn thể tạo vật. Với người đời. Ở trong Đạo, cũng như nơi ngoài đời. Cả bên trong, lẫn bên ngoài nhóm dân-được-chọn.

            Nhiều lúc, có bạn không đồng ý với các bậc “ở trên” đang chuyên trị chốn Tình yêu lẽ-đáng-phải-ngự-trị, mà lại không nắm được thông tin chính xác. Nên, đã dẫm chân nhau. Đã, vượt phạm vi quyền bính cho phép. Có lúc, xa rời truyền thống chân chính của Đạo. Xa rời, chốn cơ ngơi cần có của tình yêu ngự trị, là “chính” trị. Nên, thay vào đó, đã đưa ra những định hướng tưởng-là-chính đáng, rất chính trị. Nhưng thật sự, rất phóng túng, lôi kéo nhiều người bằng các bánh vẽ. Đa dạng. Hấp dẫn.       

            Về tính cách và thái độ chính trị của Kitô hữu, sống ở đời, tác giả của “Chủ Nhật Hồng Giữa Mùa Tím”, từng có nhận định, như sau:

“Sứ điệp “được sai đến trong thế gian” của Đức Giê-su đã không khỏi mang một kích thước chính trị (vì “vẫn ở trong thế gian”) và đã dẫn tới cái chết vì một bản án rất chính trị. Nhưng tự bản chất, sứ điệp của Đức Giê-su hoàn toàn không phải là một sứ điệp chính trị. Tính cách đặc biệt của sứ điệp Đức Giê-su cũng là tính chất “không giống ai” của Hội Thánh (không kể những hiện tượng biến chất, lệch lạc) trong tuơng quan với trần thế và với lịch sử. “(Nguyễn Ngọc Lan – sđd tr. 145)

 

            Để chuyện “Tình-yêu ngự trị” nơi chính trị, được thấm nhẹ một cách thư giãn, cũng nên nghe một truyện kể, rất nhẹ như sau. Truyện rằng:

 

“Mỗi khi bạn gặp thấy những chuyện bất công trong đối xử; hoặc, chuyện “tréo cẳng ngỗng”/tranh giành quyền lực ở chính trường, mà có người gọi là môi trường chính trị, hãy cứ nhớ truyện kể của Vũ Sinh Viên, viết như sau:

Tên tôi là Vũ Sinh Viên. Tôi vẫn từng dâng lên Chúa lợi ngợi khen tung hô về những việc Ngài dùng tôi làm chứng tá để đánh động hằng trăm, hàng ngàn người trên thế giới! Chuyện của của tôi đơn giản chỉ thế này: Tôi sinh ra không có cả chân lẫn tay. Các bác sĩ tìm hiểu mãi, vẫn chẳng biết phải nói thế nào để giải thích về các thiếu xót bẩm sinh của tôi . Như các bạn biết, tôi từng đối đầu với rất nhiều gian nan thử thách, mà người Công giáo có thói quen gọi là “thánh giá Chúa gửi đến”.

Nhưng với tôi, thưa các bạn, tôi đề nghị ta vẫn coi đó như niềm vui trinh trong mỗi khi bạn hoặc tôi gặp phải khó khăn nhiều thứ, mắc trong đời. Và, như bạn biết đấy, trong mọi việc, mọi môi trường hoàn cảnh, Chúa vẫn hoạt động tốt nhất cho những ai biết Yêu thương Ngài.

Câu nói này đi thẳng vào phần thâm sâu của trái tim và đánh động đến nỗi tôi đã, nên đã thuyết phục tôi, rằng: những chuyện như thế không thể coi đó là cơn may, hoặc cơ duyên hoặc một trùng hợp ngẫu nhiên khiến các việc tệ hại ấy, lại xảy đến với đời mình.

Nay, tôi thấy Vinh Quang Chúa vẫn tỏ lộ rằng Ngài sử dụng tôi theo phương cách tôi đang sống và bằng những phương tiện mà người khác không có, để sử dụng. Tôi, nay đã hai mươi ba tuổi đời, và vừa hoàn tất văn bằng cử nhân Kinh Doanh, chuyên khoa Hạch Toán Kinh Tế. Tôi còn là một người chuyên thuyết giảng cổ động, thích ra ngoài đời để chia sẻ chuyện đời tư của mình và làm chứng tá cho Chúa, mỗi khi còn có thể làm được. Tôi triển khai khoa ăn nói về những gì có liên quan đến vấn đề trên, và khuyến khích các sinh viên còn trẻ tuổi ngang qua các đề tài đang thách thức giới trẻ dưới hai mươi. Và, tôi còn là tiếp thị-viên cho công ty tôi đang làm nữa.

Tôi có cái đam mê không bỏ được là mong đến với lớp người trẻ để cho họ chứng kiến thấy những gì Thiên Chúa muốn tôi làm. Và, có thể nói, bất cứ nơi nào mà Ngài dẫn chân tôi đi, là tôi đến.

Tôi cũng có nhiều ước vọng và mục tiêu mà tôi vẫn hoạch địch cho đời mình, mà tôi vẫn muốn mình phải hoàn thành, cho kỳ được. Thật tình mà nói, với thân thể như thế này, tôi muốn thành nhân chứng hữu hiệu hầu biểu tỏ Tình Yêu và Niềm Hy Vọng, của Chúa. Tôi còn muốn trở nên một diễn giả quốc tế, được sử dụng như một con tàu qua lại các địa điểm để nối kết người Công giáo với người ngoài luồng.

Từ nay cho đến năm tôi 25 tuổi, tôi cũng muốn độc lập về tài chánh, hoạt động ngang qua lĩnh vực đầu tư ngành Địa ốc, điều chỉnh phương tiện đi lại của tôi để có thể tự lái, để được phỏng vấn trên chương trình của cô Oprah Winfrey, nữa. Tôi còn có mộng viết sách bán chạy nhất chưa từng thấy. Và, tôi hy vọng rằng tôi có thể kết thúc cuốn đầu tay, nội nhật từ nay đến cuối năm. Tựa đề của sách sẽ là: “Không chân, không tay, không cả những âu lo.”

Điều lớn lao nhất mà tôi muốn viết về Quyền Năng của Thiên Chúa, đại loại là như thế này: nếu bạn muốn làm một việc gì cho Chúa, thay vì mình quá đặt nặng lên những chuyện như khả năng của mỗi người, hãy chú tâm vào chuyện mình sẵn sàng mở ngỏ, cho Chúa. Bởi, mọi người chúng ta, ai cũng biết rằng Chính Chúa hoạt động ngang qua ta và, ta không thể nào làm được điều gì, mà lại không nhờ có Ngài.

Một khi ta sẵn sàng mở cửa lòng để Chúa hoạt động, thì đoán thử xem ta dựa vào khả năng nào để tin tưởng, ngoại trừ Chúa?

Cho nên, dù có rơi vào trường hợp nào đi nữa. Dù có tồi tệ như chuyện chính trị, có cãi vã và tranh giành gì đi nữa, xin cứ cảm tạ Chúa hết lòng. Cho đến cùng.                           Và, Chúa sẽ chúc lành cho mọi người. Giống như tôi.

 

            Xem như thế, tình đời nơi chính trường, hay tình nhà Đạo ở chốn lao xao, rất ngộp thở, cũng là tình, ta nghe hát:

            “Tình là tình, tìm nơi đâu cũng có.

            Tình gặp rồi, nhiều lúc có như không.”

(Trần Thiện Thanh – bđd)

           

Bởi lẽ:

            “Rồi, tình chợt bừng lên như lửa nóng

            rồi tình là một tiếng sét thinh không.”

(Trần Thiện Thanh – bđd)

           

Tiếng sét đánh, không là tiếng sét ái tình. Thứ tình, từ đầu buổi mới biết yêu. Mà là, tiếng sấm sét của Đấng Tình Yêu, vẫn nhắc nhở ta đừng quên tình người. Dù có ở nơi tình trường, toàn chính trị. Chốn hư danh.

 

            Trần Ngọc Mười Hai

            cứ ái ngại mãi

            về tình người ở đời

            và tình đời ở người trong Đạo

có quá nhiều chính trị

hay tranh chấp.

              

           

“Em, đã quên mùa Thu!”

Em, đã quên mùa Thu!

Bây giờ, là mùa Thu.
Chiều vắng khói, sương mù.
Hàng cây khô sầu úa, hiu hắt đứng trong mưa.”
(Tùng Giang - Nam Lộc)

 

(Mt 5: 43-44)

            Chiều hôm ấy, một chiều không mưa, nhưng rất đẹp. Đẹp, vì nhóm “Hát Cho Nhau Nghe” ở Sydney, lại đã tổ chức thêm một buổi thính phòng, có đàn. Có hát. Có tình thân thương, cộng đoàn nhỏ. Nhạc thính phòng “Hát Cho Nhau Nghe” hôm ấy, đã vang vọng lời ca của những “hát sĩ”, còn khá trẻ. Và rất khoẻ. Khoẻ hát, khoẻ thưa và cũng khoẻ hỏi. Hỏi rằng: “em đã quên mùa thu?”

            Câu hỏi, của “hát sĩ” trẻ và khoẻ gửi đến người nghe hôm ấy, làm bần đạo và bạn bè nhớ lại Lời Vàng năm xưa. Cũng có nhắc và có hỏi. Được thánh Matthêu ghi lại, mới hôm nào:

                                   

            “Anh em đã nghe luật dạy:

            hãy yêu người đồng loại,

            và hãy ghét kẻ thù.

            Còn Thầy,

            Thầy bảo anh em:

            Hãy yêu kẻ thù

            và cầu nguyện

            cho những kẻ ngược đãi anh em.”

            (Mt 5: 43-44)

 

            Em đã quên mùa Thu”? Đúng, một hỏi han. Cũng tựa như hỏi rằng: em có nghe tiếng ai đó, như mưa rơi? Những nước chảy. Để rồi, nay chóng quên. Quên nhiều, vẫn là: quên mất Lời dặn của Đức Chúa. Dặn dò dân con của mình, Đức Chúa không muốn ta ngược đãi, bất cứ ai. Dù họ có là kẻ thù. Ngài chẳng muốn bất cứ ai đến với con dân của Ngài, lại “đi trong đau thương/về với sầu buồn”. Thê thảm. Cô đơn. Lẻ bóng. Ngài chẳng muốn ta xét đoán, bất cứ ai. Lời dặn hôm ấy, không nhè nhẹ như câu hát  “em đã quên mùa Thu”, thế mà dân con nhà Đạo mình, vẫn dễ quên. Quên, việc Ngài sẽ đến lại. Quên, cả việc Ngài cất nhắc ta vào với Nước Trời, rất dễ làm. Quên, là điểm yếu nơi tâm trạng của những người vẫn còn trí nhớ. Họ chỉ nhớ những chuyện không đáng nhớ. Những chuyện rất nên quên. Nhớ quên/quên nhớ, lẽ đáng ra, phải là nhớ - thương điều quan trọng như dặn dò, chiều hôm ấy. Nơi đây.

            Nơi, người nhà Đạo vừa nghe và đã nhớ lời của Chúa. Nhớ, khi Ngài nói: Ngài sẽ đến, trong lai thời. Nhớ, nhưng nhà Đạo mình vẫn giả tảng như đã lãng quên. Rồi lại thắc mắc: phải chăng Chúa sẽ đến lại, ngày sau hết? Một thế tận? Rất đáng thương?

            Vâng. Các bậc vị vọng nhà Đạo, hôm nay cũng đã nghe và từng nhớ. Đấng bậc hôm nay, nhớ cả những thắc mắc giống như trên. Nên, họ đã tình nguyện đáp trả, bằng lời lẽ rất thơ văn, tình tứ. Như sau:

 

“Trước khi trả lời bạn đọc Lời Chúa hôm nay, về vấn nạn có liên quan đến ngày Chúa đến lại, xin trích dẫn đôi chi tiết lấy từ giáo huấn của Hội thánh về đề tài này. Cho đúng qui cách.

Trong lời kinh rất thánh của Tông Đồ Chúa, mà ta tuyên xưng vào mỗi Chủ Nhật. Đặc biệt, là câu kết, có đại ý như sau: “Ngài sẽ đến phán xét kẻ sống và kẻ chết.” Và, trong kinh Tin Kính do Công Đồng Nice ban hành năm 325, có đoạn viết: “Ngài sẽ đến trong vinh quang để phán xét kẻ sống và kẻ chết. Nước Ngài sẽ không bao giờ cùng.”

Trong Kinh Sách, nhiều đoạn trích cũng qui về việc Chúa đến lại, trong lai thời. Chính Đức Giê-su, từng nói: "Bởi, Con Người sẽ ngự đến trong vinh quang của Cha, cùng với các thiên thần của Người. Và bấy giờ, Người sẽ thưởng phạt ai nấy, xứng việc họ làm. “(Mt 16: 27)

Ở một đoạn khác, cũng thấy viết: “Bấy giờ, dấu hiệu của Con Người sẽ xuất hiện trên trời. Mọi chi tộc trên mặt đất sẽ đấm ngực; và sẽ thấy Con Người uy nghi vinh hiển trên mây trời, mà đến. Người sẽ sai thiên sứ của Người thổi loa vang dậy, tập hợp những kẻ được Người tuyển chọn từ bốn phương; từ chân trời này đến chân trời kia.” (Mt 24: 31)

Và thêm một đoạn nữa, còn nói rõ: “Khi Con Người đến trong vinh quang của Người, có các thiên sứ theo hầu, bấy giờ Người sẽ ngự lên ngai vinh hiển của Người. Các dân thiên hạ sẽ tập hợp trước mặt Người. Người sẽ tách biệt họ, như mục tử tách biệt chiên/dê.” (Mt 25: 31-32)

Như đã rõ trong Kinh thánh, vào ngày đến lại, Đức Giê-su sẽ đến trong quang vinh. Rộn ràng. Ngài đến, với “thần sứ vinh quang của Cha”, và ta sẽ thấy Ngài đến “trên mây trời với quyền hành rất uy nghi” và “Ngài ngự trên ngai vinh hiển.”      

Cùng lúc với việc đến lại, Chúa sẽ xét xử người sống và kẻ chết. Một xét xử, được gọi là “Phán xét, vào ngày sau hết. Hoặc, ngày Cánh Chung”. Phán xét này, người từng sống trên thế gian, sẽ được tập hợp trước Con Người. Ở nơi đó, tất cả sẽ chứng kiến sự công bằng và lòng thương xót của Chúa, khi Ngài phán xét dân con của Ngài.

Giáo Lý Hội thánh Công Giáo, cũng đã viết: “Chúng ta đều biết ý nghĩa cánh chung của công cuộc tạo dựng, cũng như nhiệm cục cứu rỗi. Hiểu và biết, để rồi sẽ thấy rõ hơn, đường lối tuyệt vời mà Chúa Quan Phòng, vẫn đưa dẫn mọi sự đến cùng đích. Phán xét ngày sau hết, sẽ mặc khải sự Công Minh của Chúa, vốn toàn thắng mọi bất công mà các tạo vật vi phạm. Nhưng, Tình Thương của Chúa sẽ mạnh hơn cả sự chết.” (GLHTCG đ 1040)    

Bằng vào Phán Xét Chung Cuộc, sự sống trên trái đất sẽ đi vào chốn tận cùng. Và, hồn người sẽ được xum hợp đoàn tụ cùng với thân xác, để rồi: hoặc, nhận lĩnh phần thưởng vĩnh cửu trên thiên quốc; hoặc, mang lấy án phạt miên trường, chốn hoả hào.

Nói cách khác, với Phán Xét Chung Cuộc buổi thế tận, đây sẽ là kết đoạn của thời gian. Bởi, Chúa có nói: “Trời đất qua đi, nhưng lời Thầy sẽ không qua” (Mt 24: 35). Ở đoạn khác, thánh Phêrô nói rõ hơn: “Ngày Chúa đến, sẽ như kẻ trộm. Ngày đó, tầng trời sẽ ầm ầm sụp đổ. Ngũ hành bốc cháy tiêu tan. Mặt đất và các công trình trên đó sẽ bị tiêu tán.“ (2P 3: 10)

Vào lúc thế giới đi dần vào chốn thế tận, Hội thánh vẫn giáo huấn, bằng lời của thánh Phêrô, rằng: “Theo như Chúa hứa, chúng ta trông đợi một trời mới - đất mới, có công lý ngự trị” (2P 3: 13). Cùng với các thánh tông đồ, Công Đồng Chung Vatican II, cũng khẳng định: “Vào giờ ấy, cùng với nhân loại, cả vũ trụ lâu nay gần gũi với con người cùng thân phận, sẽ được tái tạo cách trọn hảo, nơi Đức Kitô.” (Hiến Chế Ánh Sáng Muôn Dân, đ. 48)

Đoạn cuối của vũ trụ nơi vĩnh hằng, không mang tính thời gian, Vương Quốc Nước Trời sẽ lại đến trong vui tươi, vẹn toàn. Khi vũ trụ được phán xét, người lành sẽ vĩnh viễn lên ngôi cùng với Chúa. Lên ngôi, trong vinh quang cả thân xác lẫn linh hồn.” (x.GLHTCG đ.1042)

Về với vấn nạn bạn vừa hỏi, mọi người có thể gọi kết cuộc này là Vương Triều của Chúa như giòng thời gian ta đang sống. Sống an bình. Hoà hợp. Giòng thời gian, là chuỗi ngày ta rập khuôn theo Ý Định của Chúa. Là, Vương Triều Thánh Thể. Mà, ngôn từ ở đây, được sử dụng theo cung cách khác biệt. Tức: áp dụng cho Vương Triều Vĩnh Cửu của Chúa. Nhưng, Vương triều Ngài, không xảy đến trong thời gian hiện hành của quả đất. Chắc chắn, Vương triều Ngài, sẽ xảy đến vào ngày thế giới dứt đoạn. Vào lúc, có sự sống mới. Rất hoàn chỉnh. Như lời kinh xưa vẫn nói: “Nước Ngài sẽ không bao giờ cùng.”              

Không truyền thống nào về Vương Triều Chúa xảy đến nơi đây, trên trái đất, theo cung cách không sai sót. Lỗi phạm. Thế giới thời buổi cuối, là cuối về thời gian. Lỗi phạm thời cùng tận, vẫn lưu lại với ta, vào lúc ta sống trên trái đất, chưa thế tận. Có được sống ở cuộc đời kế tiếp sau chốn thế tận, ta mới thấy “Vương Quốc Nước Trời đang đến trong vẹn toàn. Tràn đầy.”

(GLHTCG đ. #1042)

 

            Nói Ngày Chúa đến, là nói rất bài bản, rất đấng bậc. Rất đáng tin như đức thày John Flader, của The Catholic Weekly Sydney, vẫn thường nói. Và trả lời. Mỗi lần đức thày trả lời và quả quyết, bao giờ cũng bài bản. Đầy chữ nghĩa. Thần thiêng. Đúng đắn. Khỏi lo.

            Nói bài bản theo cung cách của bậc vị vọng, là nói như thế. Còn lại, vẫn là “vô sư vô sách”, theo cung cách người phàm trần. Chỉ lai rai/quanh quẩn những lời thơ. Thơ rằng:

 

“Thu mang cho tình yêu,

một thời đã qua!

Thu mang cho người yêu,

một đời xót xa!

Mùa Thu đã xóa hết,

cơn mong chờ,

Mùa Thu sẽ cất,

dấu chân ơ thờ,

Một người bước đi,

lệ tình ướt mi!”

(Tùng Giang Nam Lộc – bđd)

 

Nói về Lời, là nói về những điều rất ”ướt mi”. Không nên quên. Cũng là nói những lời để nghe và để biết, rất gợi nhớ. Như: “em đã quên mùa Thu”. Tức, mùa của thời gian. Trong hiện tại. Vĩnh hằng. Vượt thời gian. Vượt không gian. Nhưng, làm ta nhớ:

 

“Hôm nay trời vào Đông,

tình đã chết trong lòng,

niềm cô đơn chợt đến

Em đã quên mùa Thu!

Em đã quên mùa Thu!

Mùa Thu…”

(Tùng Giang Nam Lộc - bđd)

 

            Nhớ Mùa Thu, đã chết. Hay, nhớ một mùa Đông đang tàn đang lụi, là nhớ những mùa của thời gian. Rất nhớ nhung. Không làm ai nản chí; khi nghĩ lại lời của Chúa vẫn nói. Vẫn nhắc, về cõi vĩnh hằng. Từ nơi đó, Ngài lại đến. Ngài đến, thiết lập Vương Quốc Nước Trời. Có tình thương, nơi con người. Tình thân thương trải dài. Được mặc khải qua nhiều sự kiện. Nhiều truyện kể. Truyện dân gian. Ý nghĩa. Như truyện kể không dễ quên, dưới đây:

 

“Lúc ấy, khoảng 8 rưỡi sáng. Phòng cấp cứu rất bận. Một cụ, trạc khoảng trên dưới 80, từ từ bước vào phòng. Và cụ yêu cầu đặc cách cắt chỉ khâu, may ở ngón cái. Cụ nói: cụ rất vội. Vì cụ có cuộc hẹn vào lúc 9 giờ.

Tôi bắt mạch, rồi đo huyết áp cho cụ xong, tôi bảo ông cụ ngồi chờ. Vì tôi biết, ít nhất cũng phải mất hơn tiếng đồng hồ nữa, mới có người đến cắt chỉ giải phẫu cho cụ ông. Tôi thấy cụ nôn nóng cứ nhìn đồng hồ mải miết, nên tôi quyết định đích thân khám vết thương ở ngón cái, cho cụ. Lúc ấy, tôi cũng không bận cho lắm. Nghĩa là, không có bệnh nhân nào, để lo.

Khi khám vết chỉ khâu, tôi thấy vết thương đã lành lặn, khá tốt. Vì thế, tôi vội đi lấy dụng cụ cắt xén để tháo lớp chỉ khâu vết mổ, cho ông cụ. Khi săn sóc vết thương, tôi hỏi cụ: vội như thế, chắc cụ đang có cuộc hẹn với một bác sĩ nào khác, phải thế không?

Cụ nói:

-Chẳng phải vậy đâu, nhưng “qua” có việc cần đến viện dưỡng lão, để ăn điểm tâm với bà xã, đang ở đó.

Tôi dò hỏi xem sức khoẻ của cụ bà ra sao, thì được cụ cho biết: cụ bà cũng từng nằm viện dưỡng lão một thời gian, khá lâu. Nhưng, rồi bị Alzheimer (bệnh mất trí nhớ), nên mới nên chuyện. Khi tiếp xúc với cụ, tôi có hỏi là: liệu cụ bà có buồn bã lắm không, nếu cụ đến trễ? Thì, cụ ông nói:

-Bà ấy có còn biết tôi là ai nữa đâu, mà buồn! Đã 5 năm nay, bà ấy không còn nhận ra ai nữa, kể cả tôi .

Hơi ngạc nhiên, tôi bèn hỏi thêm:

-Dạ, thế bác vẫn đến ăn sáng với bác gái chứ? Bác gái không còn nhận ra bác là ai nữa, mà sao bác vẫn cứ đến vậy? Cụ mỉm cười, vỗ nhẹ vào tay tôi, rồi nói:

-Bà ấy không còn nhớ ra tôi là ai. Nhưng phần tôi, tôi vẫn còn còn nhớ bà ấy là ai, chứ!

Khi cụ ông rời phòng, tôi phải cố lắm mới không bật thành tiếng khóc thầm. Vô cùng xúc động, tôi trộm nghĩ: uớc gì mình cũng có được một tình yêu đẹp như thế. Có được mối tình như các cụ, chắc chẳng còn sẽ phải than, chán đời?

 

            Đúng thế. Đời người, đâu đáng chán? Vẫn đẹp! Đẹp, như bước chân thiên thần, ngày Chúa đến. Đẹp, như một bài thơ. Thơ tình, đầy sức sống. Như, cuộc tình giữa hai cụ già, kể trên. Chúa đến, là Ngài đến trong yêu thương, vĩnh hằng. Của Nước Trời. Tình yêu Ngài, là tình vượt thời gian và không gian. Tình Ngài đã đến. Nhưng, nhân loại không nhận biết. Nên, vẫn chờ. Tình Ngài đã đến và sẽ còn đến. Đến, theo cung cách miên trường, ngày của Chúa. Đến, theo cách thần thiêng, Chúa vẫn bảo.

            Cuối cùng, thì mọi nguời có nhận ra ngày Chúa đến, hay vẫn quên. Quên, như đã từng quên mùa Thu. Thu miên trường. Thu rất đẹp. Mùa của mọi người.

 

            Trần Ngọc Mười Hai

            vẫn hằng cầu và rất mong.

            Mong mình và mọi người

không quên Mùa Thu

            rất Miên trường.

            Đang chợt đến.

 

 

 

 

 

 

 

  

 

 

 

 

“Biết dùng lời rất khó, để mà nói rõ”

                                                Ôi biết nói gì? Cuộc tình lớn quá!

                                                Chuyện tình đáng nhớ - tuy cũ như là biển già trắng xoá

                                                Cuộc tình quý giá  - như những ngọc ngà nàng dành cho ta

                                                Ôi biết nói gì?”

      (Francis Lai - Phạm Duy – Love  Story)

 

            Quả thật rất đúng. Chuyện tình đáng nhớ hay cuộc tình quý giá, đều là điều rất khó để nói. Chí ít, nói bằng lời. Thậm chí, nói vào lúc đang nóng giận. Hoặc những tranh cãi, của người nhà Đạo. Trong Đạo. Về chuyện Đạo, người đời gọi đó là những cãi tranh.

Cãi tranh hay căm giận, những là chuyện nội bộ của nhà Đạo, hẳn là bạn cũng như tôi, ta chắc phải hát thêm câu tiếp của nhạc bản ở trên, mà rằng:

 

            Lòng ta đầy kín,

            Lòng ta đầy kín!

            Là muôn ngàn chuyện … yêu đương!

Câu hát thần tiên

Và những mộng huyền mênh mang

Đầy kín hồn hoang, mang mác tình duyên

Thôi hết cuộc đời im tiếng…

(Francis Lai - Phạm Duy - bđd)

 

Bần đạo thường tự hỏi: bàn chuyện yêu đương, những là yêu người - yêu Chúa - yêu Giáo hội mà chỉ cãi với tranh. Hoặc, cãi vã đổ mồ hôi. Sôi bọt mép. Thường là chuyện chẳng nên làm. Ở đời thường. 

            Hôm nay, nhân có chuyện “đầy kín hồn hoang/mang mác tình duyên” xảy đến với nhà Đạo ở Úc, không vui lắm, bạn và tôi, ta hãy thử đi thêm một vòng luận phiếm, xem có ý kiến nào khác của đấng bậc ở trên, khả dĩ khiến bà con mình được tỏ “con ngươi”, một cõi lòng. Thì: cũng nên lắm.

            Trước nhất, là ý và lời của một giáo sư thuộc Viện Thần Học ở Melbourne – Úc, Lm Andrew Hamilton, như sau:

 

“Sách của Đức Giám mục Geoffrey Robinson mang tựa đề “Giáp mặt Quyền bính và Tính Dục trong Giáo hội Công giáo, đòi lại tinh thần Đức Kitô” qua đó, ngài nhìn sự việc như cội rễ của mọi lạm dụng trong Hội thánh, còn dấy lên nhiều tranh cãi.

Tháng Năm 2008, Hội Đồng Giám Mục Úc đưa ra tuyên bố trong đó các ngài ca tụng Đức Giám mục Robinson là đã có quyết tâm nâng đỡ nạn nhân bị lạm dụng, nhưng lại quan ngại về tín lý nhận rõ đang bàng bạc trong quyển sách. Đáp lại tuyên bố này, Đức Giám Mục Robinson bày tỏ sự thất vọng là các Giám mục trong Hội đồng Chủ Chăn ở Úc không giải quyết thách thức căn bản mà sách của ngài, nêu lên.

Để hiểu rõ cuộc cãi tranh, nên về với bối cảnh thích hợp vào lúc ĐGM Robinson làm Giám Mục Phụ tá Tổng Giáo Phận Sydney, khi ngài có trọng trách điều hợp việc ứng xử của Giáo hội với các nạn nhân bị lạm dụng bên trong cơ chế Giáo hội. Và, trong quá trình thực hiện việc này, Giám mục Robinson có dịp tiếp chuyện với nhiều nạn nhân từng bị xúc phạm. Kinh nghiệm ấy, đã cấu thành luận cứ trọng tâm cho cuốn sách “Giáp mặt Quyền bính và Tính dục bên trong Hội thánh Công giáo”, mà ngài đề cập.

Vậy đâu là luận cứ ĐGM Robinson đưa ra? Và, tại sao các Giám mục Úc lại chỉ trích cuốn sách của ĐGM Robinson mạnh như thế?

Trong sách, ĐGM Robinson có dẫn chứng: nguyên nhân sâu xa của lạm dụng tình dục phải được nhìn vào trạng thái tâm lý của những người từng lạm dụng. Vậy thì, đâu là tâm tưởng của các vị ấy về quyền bính và tính dục? Về môi trường tạo nên sự cố này? Và, tác giả cho biết: các yếu tố ấy đan kết với nhau trong văn hoá nhà Đạo, nay cần đổi thay. Và, cội rễ của hành vi xúc phạm tình dục cũng cần phải cắt bỏ.            

Ở Giáo hội Công giáo, trọng trách của mỗi Giám mục là giáo dục niềm tin mình nhận lĩnh. Giám mục thành La Mã, tức Đức Giáo Hoàng, mang trọng trách tổng quản hầu duy trì lòng tin và đời sống hiệp nhất ở giáo hội sở tại. Đức Giáo Hoàng sẽ phải can thiệp nếu như các giám mục sở tại không thể đối đầu một cách có hiệu quả với vấn đề trồi lên. Khi quyết chỉ trích cuốn sách do GM Robinson viết, Hội Đồng Giám Mục Úc phẩm bình là vấn đề niềm tin, đang lâm nguy. Cũng trong thông tư, các Giám mục Úc đã từng ca tụng các đóng góp của ĐGM Robinson. Các ngài nói:

”Chúng tôi mang ơn đậm sâu từ Đức cha Robinson trong bao năm trời cố gắng hàn gắn giúp nạn nhân lâu nay đau khổ vì bị xúc phạm tình dục mà họ phải chịu. Chúng tôi cũng rất lấy làm cảm kích về những điều Đức Cha Robinson đã làm, nhằm thiết dựng qui trình tiêu chuẩn cho đạo đức chức năng của giới chức trong Hội thánh, về lãnh vực này.”

Nhưng sau đó, các ngài lại bảo: cuốn sách đã cật vấn quyền của Hội thánh khi được quyền giáo huấn một cách rạch ròi. Sách cũng chất vấn cả về nhận thức và quyền của Đức Kitô làm nền cho Hội thánh được phép giáo huấn. Nói rõ hơn, các giám mục ở đây nói: sách của ĐGM Robinson đã cật vấn giáo huấn của Đạo về truyền thống, nguồn linh hứng thánh kinh, về tính vô ngộ của Công đồng và các Giáo Hoàng, về bản chất chức linh mục, các yếu tố của nền giáo dục đạo đức trong Hội thánh. Và các ngài kết thúc bằng việc thừa nhận rằng quyền hành mà Đức Kitô tin và trao cho Hội thánh có thể bị thực hành một cách xấu xa.

Các phê bình chỉ trích đang tiếp tục càn quét rộng. Nhưng tầm nhìn tập trung vẫn không rõ. Các giám mục ở đây thấy Gm Robinson có lỗi lầm trong cật vấn. Nhưng, có hai hình thái cật vấn: một để khảo sát, phần kia để chối bỏ. Chúng ta có thể cật vấn đức tin bằng cách khảo sát nền tảng và ranh giới của nó. Còn lối cật vấn kia chỉ có giá trị như một chối bỏ.

Ở trường hợp sách của ĐGM Robinson, tác giả chắc chắn đã cật vấn quyền của Hội thánh và các vấn đề khác, theo nghĩa đầu. Ngài phải làm thế để khảo sát nền tảng của một thứ văn hoá trong lòng Hội thánh. Nhưng sách ngài viết, đã được đọc theo phong cách khiến ta có thể nghĩ rằng đó chính là mục đích tốt mà tác giả nhắm đến. Và, chắc chắn điều mà tác giả muốn cật vấn không chất chứa một chối bỏ, nào hết.

Nhưng, các vị giám mục nhà ta có thể đã lo ngại quá đáng là: nhiều người đọc có thể đọc sách của Gm Robinson theo một chiều hướng xấu. Quả là, có thể có nguy hiểm nằm trong cách thức lập luận như thế. Muốn bàn thảo về bệnh lý của một văn hoá cũng giống như những gì phản ánh nơi các yếu tố nằm bên trong cơ thể dẫn đến bệnh ung thư. Nguồn gốc gây nên bệnh ung thư cũng là nguồn cội của sự sống trong chính cơ thể của ta. Nếu ta tập trung chỉ nhằm làm bật rễ nguồn gốc căn bệnh (như ung thư) mà không tìm hiểu xem chuyện gì khiến cho cơ thể sống mạnh sống khoẻ, thì có thể chúng ta sẽ giết mất cơ thể của mình bằng cái việc là chỉ làm bật gốc rễ của căn bệnh (ung thư) ấy.

Trong cuốn “Giáp mặt Quyền bính và Tính dục trong Hội thánh Công giáo, đòi lại tinh thần Đức Kitô”, ĐGm Robinson tập trung nhắm vào các ý tưởng về bệnh lý. Những người nhằm phê bình chỉ trích tác giả là những vị đã đòi hỏi quá đáng về quyền tập trung trong giáo huấn của Hội thánh. Các vị ấy đã đòi hỏi quá nhiều trong việc phải tôn kính các chức sắc trong Hội thánh. Các vị, có cái nhìn quá hạn hẹp và tiêu cực về tính dục con người. Và, các cụ là những vị đặt để và bắt buộc các giáo sĩ phải ở độc thân, mà không cần đến bàn với cãi.

 

            Đó là những ý kiến. Về một sự kiện, đang còn xảy đến với mỗi người. Ở nhiều nơi.

Nghiệm sinh về chuyện xảy ra ở nhiều nơi, trong nhà Đạo, bần đệ lại nhớ đến chuyện rất xưa. Xưa như trái đất. Nhưng cứ tưởng chừng như đang diễn ra ở đâu đây, rất gần. Những chuyện, đến với cộng đoàn nhỏ, trong đó bần đệ vẫn cứ mở rộng con ngươi ra, mà nhận biết.

Chuyện, thật ra cũng chẳng có gì. Chỉ là, những bất bình/cãi tranh của người anh em vốn hay ủng hộ, hoặc bất đồng – kình chống trước những chủ trương đem Đạo vào đời. Vào thời đó. Nghĩa là, những người anh muốn thử sống với đời, ở trong đời. Sống và ăn ở, trước khi có quyết định chung cuộc về với Chúa, trong tu trì. Kình chống những nhập nhằng của linh mục/chủng sinh với các “con linh hồn” và tín hữu, dễ đưa đến lạm dụng.

Hẳn là, bầu bạn đều rõ: Dòng thánh mà bần đệ đeo đuổi cho đến buổi ấy, cũng đã được tới 12 niên. Lúc ấy, bần đệ cứ nghĩ Dòng chỉ có thể tồn tại, nếu chịu đem tin vui đến với người nghèo hèn, tất bạt, ở miền quê dân dã. Chứ đâu có ở chốn thị thành, nhiều hấp dẫn. Dẫu quanh ta. May thay! Lúc ấy bần đệ, không bị mang tiếng là cấp tiến, những nào lầm lạc. Rất lung lay…

Nay, nghe lại chuyện cãi tranh/luận bàn giữa các bậc thầy/đàn anh, mà thấy nhớ. Nhớ rằng, khi ấy đàn anh/bậc thày của bần đệ cũng có những tư tưởng, rất ấn tượng như sau:

           

            “Trong tư thế ôm vào mình, nhiều nhận định và tư tưởng, Gm Robinson không thể đưa ra một cái nhìn tròn trịa, có nền tảng vững chắc, về niềm tin và cuộc sống của người Công giáo. Ngài không thể toàn bộ thực hiện được sự công bằng chính trực cho Hội thánh như bản thể sống động. Ở niềm tin Công giáo, cuộc sống này được nhận biết qua sự hiện diện của Chúa thánh Linh, bên trong Hội thánh đang triển nở. Nếu sách của ngài không được đọc dưới ánh sáng của thị kiến hữu cơ nơi Hội thánh Công giáo, thì cũng sẽ được đọc dưới lăng kính tiêu cực kèm theo đó là những mổ xẻ, phân tách, từng mảnh thịt.

            Khi đó, có lẽ các Giám mục Úc có thể nghĩ rằng cần cảnh báo, để nhỡ ra có thể có người đọc sách của Gm Robinson trong trạng thái như thế, đặc biệt là những độc giả có thể nghĩ mình đã có xác tín là sách được một giám mục viết ra.

            Giám mục Robinson đã chấp nhận là các giám mục ở Úc có quyền ứng đáp. Nhưng, ngài đã cảm thấy thất vọng vì các giám mục này đã không đả động đến những vấn đề then chốt được đưa ra. Đó là phạm vi có liên quan đến văn hoá Công giáo, kể cả qui chế đòi buộc linh mục ở độc thân và việc thực thi quyền lực, các thái độ khuôn đúc đối với tính dục và quyền bính. Và, cả về phạm vi theo đó có những thái độ gây tai hại cho mọi người, thái độ gây xúc phạm lạm dụng cũng như những gì ra như còn được che đậy. Ém nhẹm.

            Vấn đề vẫn còn đó. Vẫn chưa hồi đáp. Hồi và đáp từ những phê bình chỉ trích về sách của Gm Robinson, dù có thể chúng đã được bào chữa, thanh minh. Rõ hơn, là bởi: gốc rễ cội nguồn của bệnh lý đang nằm gần cạnh ở bên cội nguồn sự sống trong Hội thánh Công giáo, như ở trong cơ chế khác. Tức, những điều cần nghiên cứu học hỏi kỹ lưỡng và sâu sắc. Cần suy tư, tự kiểm để có thể đề cập các đề tài ấy. Thế nhưng, nỗi đau của các nạn nhân bị xúc phạm/lạm dụng về tình dục vẫn còn đó, kêu thất thanh. Những điều ấy cần được đề cập/sờ chạm một cách nghiêm chỉnh, mới đúng.

 

Gợi nhớ vấn đề nhức nhối và khúc mắc đang diễn ra ở đây, hôm nay cũng từa tựa những gì đã từng diễn ra, nhiều năm, hôm trước. Gợi ra, chỉ để nhớ. Nhớ đến để rồi vẫn còn gợi, vẫn còn đề ra. Đề ra một gợi nhớ, để nhớ rằng; dầu sao chúng ta hay chúng mình vẫn cứ là con người hay người con của một Giáo hội bằng xương bằng thịt. Giáo hội vẫn có thịt và có xương để gợi và để nhớ.

Nhớ như âm hưởng một giòng nhạc/vần thơ của ai đó, hát đâu đây:

 

Là muôn ngàn chuyện yêu đương!

Câu hát thần tiên

Và những mộng huyền mênh mang

Đầy kín hồn hoang

Man mác tình duyên

Thôi hết cuộc đời im tiếng…

(Francis Lai – Phạm Duy – bđd)

 

Thôi hết rồi, cuộc đời im tiếng. Thật ra cuộc đời mình không thể im tiếng. Dù cho tiếng ấy có là tiếng của người anh, người chị quanh tôi. Hay, của các đấng bậc. Bậc thầy. Bậc đàn anh, rất đáng kính.

Cuộc đời chẳng làm sao im được tiếng nói, tiếng kêu thất thanh hay những tiếng phàn nàn, buồn thảm về cuộc sống rất căng ở bên đây, bên kia. Của những người anh người chị ở khung trời Mỹ quốc, nhưng cũng là của bạn, của tôi. Nay xin mời tôi và bạn, ta san sẻ lời trần tình về một vấn đề đang nổi cộm. Vấn đề của thực tế đời thường rất thân và rất thương: chuyện xăng dầu. Rất trần. Và cũng rất tình, như sau:

 

Bốn đô một gallon xăng

Bốn trăm miles chẵn tốn bằng trăm đô

Còn chưa cộng thứ tiền toll

Tiền mua bảo hiểm, ô tô bảo trì

Xăng ơi, lên giá làm chi!

Cho tôi nuốt lệ mỗi khi ra đường

Tiền xăng giết chết tiền lương

Giết luôn tiền thưởng, tổn thương tiền già

Ngậm ngùi, nhung nhớ tình xa

Tơ duyên mai lỡ, lỗi là xăng cao

Chúc em hốt được thằng nào

Tiền vô như nước, xăng cao không tè.”

(thơ của tác giả Vô danh… và vô tư)

 

Trần Ngọc Mười hai

vẫn kính và yêu

các đấng bậc

trong cuộc đời.

                                   

           

 

 

 

 

 

 

Tình yêu đâu có tới hai mầu

tình yêu nào, chia sớt với ai đâu,

tình yêu bủa lưới tung chiếc lưới trói tròn

giây oan đưa ta vào con đường ai oán”

                        (Phạm Duy- Chiếc bóng bên đường)

 

(Mt 28: 19-21)

            Có một lần, len lỏi nơi vườn hoa văn nghệ của người Việt tại nước ngoài, bần đạo chợt nhận ra một tư tưởng lớn vừa thoáng nghe đã thấy đồng cảm. Tư tưởng ấy, đại để như sau:

           

“Tình yêu bao giờ cũng bền bỉ, lâu dài và tạo tinh thần tốt đẹp. Một sức sống mới cho nhiều người. Thế nên, tôi thích viết và chỉ viết tình ca thôi.”

(tâm sự nghệ sĩ họ Từ – Việt Luận, Úc 22/5/2008)

 

            Nghe tâm sự người nghệ sĩ, bần đạo lại có thêm một giòng chảy, để viết và lách. Viết về những gì mình cảm nhận. Cảm nhận và hỏi rằng, sao nhiều vị giảng thuyết nhà mình vẫn chia sẻ đủ điều, cả tình yêu thần thánh, nhưng sao có người chẳng muốn nghe, cứ ngủ vùi? Trong khi người nghệ sĩ trên, nói ít nhưng ca hát nhiều; ấy thế mà, lời ca/ tiếng hát của ông lại đi vào lòng người, hơn ai hết. 

Được biết, nghệ sĩ được trích dẫn ở trên đã hoàn tất đến 100 nhạc bản. Toàn về tình. Đi tới đâu, nhạc-tình-ngoài-Đạo của ông cũng lênh láng giòng chảy, rất yêu thương. Lênh láng, đến độ chẳng cần quảng cáo/rung chuông, vẫn có người ngâm nga, cứ hay hát.

Một lần khác, ngồi ghi lại ít suy tư/niệm ý về tình thương của Chúa, bần đạo được bạn bè/người thân lân la hỏi: lời của Chúa, sao bạn lại gọi là “chuyện phiếm”? Gọi thế, có bất xứng không? Có lèm bèm thơ văn “tình-ngoài-Đạo”, không? Nghe hỏi, bần đạo chẳng biết nói sao chỉ cười trừ, rất huề vốn. Chẳng dám phân bua. Và, cũng không chối. Chỉ cầu mong bè bạn rất cảm thông, cứ đọc tiếp. Đọc tiếp và đọc hoài, hẳn rồi sẽ cảm thông nhận biết bần đạo tài hèn sức mọn, bọn đàn em mà miễn lỗi.    

Về miễn lỗi, bần đạo còn nhớ trong buổi mạn đàm ngày ra mắt/góp mặt bạn bè/người dưng, bần đạo được dặn dò đôi ba ý: hãy cứ siêng năng mà viết và lách. Rồi ra, sẽ có vị bắt được băng tần lẻ bóng cùng ca vang cung đàn lạc điệu, phấn khởi thôi. Bởi thế hôm nay, bần đạo dám phiền bầu bạn đọc thêm lần nữa vài tư tưởng “mọn hèn”, những chữ là chữ.

Về những chữ, bần đạo ngồi nhẩm, cũng thấy khá nhiều vị quyền cao chức trọng trong giáo hội, đã có lời phán rất nhiều, biên chép không thiếu. Thế nhưng, vẫn bị đe nẹt/trù dập, nào đã thoát. Quả thật, trong số những người dám nghe/dám đọc những chữ và chữ lạ lùng của các cụ nơi vùng cao ở Úc, có vị đã cảm ứng viết thành lời thư phản hồi, khá dễ thương. Thương cho giòng chảy đậm nét sống. Trước nhất, là giòng chữ rất “phản hồi” của chính đấng bậc bị dập trù:

 

“Vị giám mục của Sydney vốn bị các Giám mục Công giáo Úc “từ” là vì “không am hiểu giáo huấn của hội thánh”, có nói: giáo hội đang tìm cách hạn chế cuộc tranh luận về việc lạm dụng tình dục.

Giám mục Geoffrey Robinson hôm vừa qua, đã đưa ra một phát biểu ứng đáp lại lời cáo buộc của Hội đồng Giám mục Công giáo Úc châu, vào tuần trước. Trong lời phát biểu, Đức giám mục Robinson nói ngài lấy làm thất vọng, nhưng không tỏ bày một ngạc nhiên.

Giám mục Robinson, nguyên giám mục phụ tá của Sydney, người đứng hàng đầu trong nỗ lực đưa ra các đề nghị cho Giáo hội Công giáo Úc, suốt một thập niên, nhằm khắc phục tình trạng lạm dụng tình dục. Ông từ nhiệm chức vụ này trong vô vọng, vào năm 2004.

Hội đồng giám mục Úc vừa phát hành một thông cáo không ký tên trên trang mạng của các ngài, nói rằng: Giám mục Robinson “không am hiểu giáo huấn nói về quyền bính của Đức Kitô và của giáo hội”.

Giám mục Robinson, đang trong chuyến thuyết trình tại Mỹ, nói: chúng ta có lý để đặt câu hỏi về quyền bính và tình dục trong giáo hội. Giám mục nói: “Các giám mục kể trên xem ra có ý nói rằng, trong kiếm tìm câu trả đáp về chuyện lạm dụng, chúng ta có thể tìm ra sự thật nơi các yếu tố khác góp phần vào chuyện lạm dụng, nhưng chúng ta có thể không hỏi những câu liên quan đến đường lối theo đó các giáo huấn, lề luật và thái độ đã nối kết với quyền bính và tình dục bên trong hội thánh có thể đã góp phần vào đó. Chúng ta có tự do đi theo các luận chứng đến tận nơi nào chúng đưa tới.” (theo trang mạng điện tử đã trích)          

Tin tức nổi cồn trên báo, thì như thế. Phản ứng của giới truyền thông ở Úc, cũng dâng lên. Phản ứng chống người bị đập, cũng có. Cảm thông với người bị vùi, vẫn còn. Còn và có, như một phản hồi chuyện vùi dập, thấy đâu đây:

  

“Tôi thất vọng thấy lãnh đạo hội thánh, tựa như các chính phủ Úc thời đã qua, quyết từ chối không nói lời “Xin lỗi” với những người trong giáo hội của ta từng xúc phạm đến, một cách đáng kể; và bảo đảm là các nguyên do có hệ thống hoá phải được tháo cởi để ta có thể cam đoan với nạn nhân của các lầm lỡ trong thời đã qua, sẽ không bị những người mới-mắc-phạm cũng như đã từng mắc phạm, lặp lại một lần nữa.

 

Ngay vào phút đầu của Tiệc Thánh, ta vẫn có nghi tiết hoá-giải mọi lầm lỡ vướng mắc hoặc sót quên. Lầm lỡ /sai sót về mặt cơ chế cũng nên được hình dung, vào khi ấy.

 

Tôi đã đọc đi đọc lại sách của Giám mục Geoffrey Robinson, từ bìa đầu đến bìa cuối, khi tác giả đề cập đến việc “Giáp mặt Quyền lực và Tình dục trong Hội thánh Công Giáo, đòi lại tinh thần Đức Giê-su” và thấy ý kiến thật sâu sắc khi Đức giám mục đề cập đến hạt giống/gốc rễ của những lạm dụng trong quyền bính giáo hội (trong đó lạm dụng tình dục chỉ là triệu chứng) và kết luận rằng: mục tiêu của cơ chế giáo hội KHÔNG phải là để phát triển sự trưởng thành của người đi Đạo Chúa, nhưng là để giữ chân các thành viên vẫn ở lại cấp độ nguyên thuỷ của niềm tin, nghĩa là  “chỉ biết đọc kinh, góp tiền và tuân lệnh”. Phần lớn cơ chế giáo hội không khích lệ bổn đạo chịu suy tư và hành động cho chính mình, cũng chẳng gánh trách nhiệm hành động của mình. Có lẽ, đó là một trong các nguyên do khiến có sự giảm sút số người đi nhà thờ - bị đối xử như trẻ nhỏ hơn là khuyến khích mọi người trưởng thành trong niềm tin và hiểu biết.”

(MFW – do Michael Waterhouse chuyển lên mạng)

 

Và, một ý kiến phản hồi ngắn gọn của một linh mục khác:

 

“Dĩ nhiên, Đức cha Geoffrey Robinson có lý – và ở đây ông rất can trường khi đề cập đến những vấn đề cần nêu ra và – đối đầu! Chủ nghĩa Giáo Quyền Tộc Trưởng không mang đặc trưng Ba Ngôi Đồng Đều, bởi chủ nghĩa này không phản ánh tương-quan ngang-bằng giữa các người tín hữu của Chúa, lại còn tạo ra giới tính nam - nữ nơi hình ảnh Thiên Chúa, và mọi người chúng ta đang sẻ san cùng một ơn Thanh Tẩy. (Lm Terry Herbert, MSC)

 

Kèm theo sau, là ý kiến khác của một nữ lưu trong Đạo:

 

“Những điều tôi muốn nói ở đây, là: tôi vẫn thấy nơi Giám Mục Geoffrey Robinson, một con người có phẩm giá vẹn toàn, biết thiết tha với Hội thánh. Hỡi Đức Cha Geoffrey, cha cứ tiếp tục hát lên “bài ca rất hay ấy” nhé! (Lorraine Murphy).

 

Nói cho cùng, trường hợp Giám mục Geoffrey Robinson có tiếp tục hát hay chăng bài ca hay ho hoặc “cung đàn lạc điệu” nào đi nữa, vẫn là chuyện dài ở huyện. Những chuyện, cứ kéo dài nhiều tháng ngày ngàn năm, mãi về sau. Nhiều trường hợp, có lẽ không kéo dài được bao lâu, đó là giọng “hát” của vị “cha già” ở Ý, Đức Hồng Y Carlo Maria Martini SJ, nhân buổi nói chuyện vào buổi tối ở Giê-ru-sa-lem, những ngày mới đây thôi. Cha về chầu Chúa ngày rất gần, nên vẫn hỏi.

“Cha già” Martini cũng có vấn đề hỏi Chúa. Cha vẫn ca ngợi Martin Luther. Vẫn cổ võ việc Hội thánh Chúa nên tỏ ra can đảm mà canh tân Giáo hội mình, đừng xa rời tinh thần Công Đồng Chung Vatican II, và nhất là đừng ngần ngại đối diện/đụng trận với giới trẻ. “Cha già Hồng y”, từng nhớ lại có lần ngài đến nhà tù nọ để lắng nghe các tội phạm và ngài cũng từng nguyện cầu với các chiến sĩ Vệ Binh Đỏ. Ngài dám rửa tội cho cặp song sinh, con của người cha người mẹ thuộc đám khủng bố/hiếu chiến; và, đôi trẻ song sinh này ra đời vào lúc cha mẹ các em đang hầu toà.

Có vấn đề, nên cha già mới hỏi. Cha hỏi nhiều đấng, nhiều người. Trước tiên, là hỏi Chúa:

 

“Sao Chúa không cho con ý kiến nào khá hơn không? Sao Chúa không để con mạnh mẽ hơn trong yêu đương, dũng cảm hơn mà đối đầu với các vấn đề của thời đại? Sao con lại được chuẩn bị quá ít về những gì xảy đến?”

 

Đôi lúc, cha già cũng xin Chúa để ngài yên lặng một mình, mà tự kiểm. Có lần cha già nói: giám mục là người lúc nào cũng phải gan dạ, dám nói và dám hỏi. Với Giáo hội, cha già Hồng y Martini đã từng nói và đòi: đã có lần, cha nằm mơ về một hội thánh chỉ biết sống trong khiêm tốn/nghèo hèn, không tuỳ thuộc quyền bính sức mạnh của thế giới/gian trần. Một hội thánh biết dành cho dân con mình được suy nghĩ khác với mình. Một hội thánh có can đảm ôm ấp nơi vòng tay ôm của mình, những người hèn mọn/nhỏ bé, từng lầm lỡ. Một hội thánh mãi mãi trẻ trung. Nhưng hôm nay, cha già không còn có những giấc mơ như thế, nữa. Khi ở độ tuổi 75, cha già quyết định phải nguyện cầu cho hội thánh. Vào tuổi 81 bây giờ, cha già vẫn yêu cầu hội thánh hãy tự biết canh tân chính mình. Điều cần thiết, là: hội thánh phải đi ra ngoài tìm gặp lại tương lai của chính mình.” (trích từ báo laRepubblica.it ngày 19/5/08 Marco Politi ghi)

 

Thế đó, là giòng chảy thông tin từ báo điện. Giòng chảy, làm người người nhớ đến “lời kinh hôm” trong thư của Phao-lô thánh nhân gửi giáo đoàn Philip, có nhấn mạnh:

 

“Phần đông anh em, đầy lòng tin cậy vào Chúa, theo gương tôi bị lao tù, đã thêm bạo dạn hơn nhiều, biết quả cảm giảng Lời Chúa. Kẻ thì vì ghen tương và kình địch; kẻ thì vì thiện cảm (với tôi) mà rao giảng Đức Kitô. Kẻ thì làm, vì lòng mến; bởi biết rằng, tôi đã được chỉ định lo bênh đỡ Tin Mừng. Kẻ, lại giảng truyền Đức Kitô vì ganh tị, ý không tinh tuyền, tưởng gây được khổ cực cho cảnh lao tù của tôi. Không can chi! Dù sao đi nữa, bởi lấy nê hay vì tình thật, miễn là Đức Kitô được rao truyền, thì tôi vui mừng, và tôi sẽ cứ vui mừng (luôn). Vì tôi biết: sự ấy sẽ trở thành nguồn cứu rỗi cho tôi, vì có anh em cầu xin và Thần Khí của Đức Giê-su Kitô tiếp sức. Đó là điều tôi ngóng đợi và cậy trông!” (Pl 1: 12-20).

 

Phao-lô thánh nhân, đề cập nhiều đến hội thánh, thời ngài sống. Thời của những cãi tranh, bất bình. Cãi và tranh, giữa người trong cuộc, như Phao-lô - Phêrô, Phao-lô - Apollô... Bất bình, giữa người trong/ngoài hội thánh. Như dạo nào, cũng có một Phao-lô Việt tộc khác, từng chất vấn nhà Đạo có là “Đường hay Pháo đài”, đã trần tình:

 

“…đối với Kitô-hữu, điều được mặc khải cao cả nhất, quan hệ nhất, Tin Mừng đáng kể nhất: đó là chính Chúa Giêsu Kitô, chính ơn cứu độ Ngài đem lại. Muốn ý thức tin Mừng ấy, không gì hơn là nhìn vào một con người như thánh tông đồ Phao-lô.

Không bao giờ Phaolô đã cần ai dạy lề luật cho mình. Không bao giờ Phaolô đã cần đến lời răn khuyên của các ông bà đức hạnh, các nhà luân lý. Đó là điều mà sau này Phaolô không ngần ngại nhắc cho những ai muốn biết.

Chính vì “đầy lòng biết ơn cảm mến”, mà Phaolô, mà người tín hữu chân chính, từ khi biết Chúa Kitô, có thể tự hào, nhưng niềm tự hào khác hẳn sự tự mãn của con nhà lương thiện, hạnh kiểm tốt, và niềm tự hào này không còn sức gì có thể lung lạc được. Cho dầu phải nông nỗi nào đi nữa.

Xin cho được một lần ca tụng Phaolô, Tông Đồ của Đức Kitô Giê-su. Nhưng ca tụng Phaolô thì vẫn chỉ là nói về Đức Kitô, tôn vinh Đức Kitô. Con người Phaolô, cuộc đời Phaolô không là gì khác ngoài lời mời gọi “Anh em hết thảy”, “Chư thánh” ở Rôma, ở Côrinthô, ở Êphêsô, ở Philíp, Côlôsê hôm qua, ở Hànội, ở Huế, ở Thanh Hoá, Bắc Ninh, Đà Lạt, ở Phan Thiết, ở Sàigòn… hôm nay, vào cả trong cùng một niềm tin, một niềm vui với ngài. Niềm tin không nao núng và niềm vui bất tận.”

(Phaolô Nguyễn Ngọc Lan, Chủ Nhật Hồng Giữa Múa Tím, Cơ sở Hy vọng 2002, tr.279)

 

Trích dẫn lời của tân/cựu hay đương kim giám mục/hồng y/linh mục, bần đạo cũng chỉ muốn nói lên một điều: Tin Mừng ta rao giảng, vẫn luôn là rao báo và giảng giải cho ai? ở đâu? khi nào? Và, khi trả lời được câu hỏi này, cũng cần nhớ lại “bài sai” Chúa gửi. Ở mọi nơi. Vào mọi lúc:

 

“Vậy các ngươi

hãy đi thâu nạp môn đồ khắp muôn dân,

thanh tẩy chúng

nhân danh Cha và Con và Thánh thần,

dạy chúng giữ hết mọi điều

Ta đã truyền cho các ngươi. 

Và này, Ta sẽ ở với các ngươi

mọi ngày cho đến tận thế.”

(Mt 28: 19-21)

 

            Như mọi lần, để có một vài phút thư giãn trong khi vẫn nghe cãi và tranh, những lời vàng sôi nổi, bần đạo dám đính kèm nơi đây một truyện kể ngăn ngắn. Truyện về thói thường của con người, sống ở đời. Rất thân thương và cũng thương thân, như ở dưới:

 

“Tôi vừa đạt tuổi 65. Thấy có bổn phận phải nhanh chân chọn bác sĩ chăm sóc ngay liền mặt để còn gửi giấy chứng cho hãng bảo hiểm của tôi.

Sau khi trải qua hai lần xét nghiệm cũng khá căng, bác sĩ trị liệu của tôi bèn phán một câu rất nặng ký: ở tuổi này mà cụ được như thế, là tốt quá rồi còn gì.

Hơi có vẻ ngại ngần về lời phẩm bình trên đây của vị lương-y-như-từ-mẫu có trọng trách thăm nom đến sức khoẻ bản thân, tôi vội hỏi:

-Vậy, bác sĩ có thể cho biết tôi có sống đến tuổi cửu thập được hay chăng?

-Thế, cụ có hút thuốc/uống rượu gì không?

-Không đâu, thưa bác sĩ. Ma tuý hay quỷ tuý, gì cũng không. Trăm lần không ngàn lần không, bác sĩ ơi!.

-Thế, cụ có hay la cà chuyện vãn/vui chơi bạn bè, gì không?

-Cũng không luôn. Tôi chỉ quanh quẩn ở nhà. Lo toan mọi thứ, vẫn một mình.

-Cụ có thường hay sơi thịt trừu/sườn nướng gì không, ạ?

-Thứ ấy lại càng không. Có vị bác sĩ nọ bảo với tôi: bò trừu rặt loại đỏ thịt không tốt, chẳng nên ăn. 

-Thế, cụ có hay ra ngoài phơi nắng, dạo mát thường xuyên chăng?

-Lại càng không, tuốt luốt.

-Vậy thì, mấy chuyện “ấy” ấy, bài bạc, séc nặng với séc nhẹ, cũng thường chứ?

-Không bao giờ. Mấy chuyện này mất sức lắm, bác sĩ ạ. Chẳng bao giờ mơ nữa là.

Nghe thế, bác sĩ nhìn tôi một hồi, rồi bảo:

-Thế thì, cụ tính sống đến 90 để làm gì?

 

Nhân sinh cửu thập hay chỉ muốn thất thập, đâu là vấn đề của nhà Đạo, bấy lâu nay. Cãi tranh -tranh cãi về quyền hành/tình dục, hay gì đi nữa, mà làm gì. Dục hay quyền, nhiều lắm cũng chỉ là chuyện trăm năm, một cuộc đời. Một đời có quá nhiều thứ để bận tâm, không lo toan.

Lo toan, là bởi “tình yêu đâu có tới hai màu”. Dù màu đó, có là màu của chính chuyên những là nhà Đạo, hay chỉ là màu của đời thường. Cũng hồng hồng - tía tía, đỏ - trắng – đen, rất tinh vi. Dù màu đỏ ấy, có là màu của một đời đi Đạo, thì luôn vẫn chỉ có một tình yêu. Yêu Chúa. Yêu người. Tình yêu trinh trong, con cái Chúa. Sống ở đời. Khắp mọi nơi.

 

Trần Ngọc Mười Hai

vẫn ưu tư khắc khoải

về những cãi tranh

nơi người đời

trong nhà Đạo

 

 

           

 

“Con quỳ lạy Chúa trên trời”

sao cho con lấy được người con yêu.
Đời con đau khổ đã nhiều,
từ khi thơ dại đủ điều đắng cay.
(Phạm Duy – Con quỳ lạy Chúa trên trời)

 

Lc 4: 31

            Mỗi lần nghe lại bài này, bần đạo có cái tính xấu, rất dễ cười. Bần đạo cười, chẳng phải vì đó là bản tính thông thường, của người Việt. Gặp gì cũng cười. Buồn, cũng cười. Buồn cười. Vui, cũng cười. Cười trừ, cười chút chơi. Sở dĩ bần đạo cười, vì thấy người nghệ sĩ viết nhạc tuổi thì già, mà sao cụ vẫn đòi “cho con “lấy” được người con yêu”? Bần đạo còn cười, vì nhiều lúc thấy mình cũng lẩm cẩm, vẫn như thế. Mỗi lần quỳ lạy Chúa, vẫn cứ xin và xin. Xin, chứ không ở trong tư thế nguyện cầu đầy cảm tạ. Ở đâu đó. Chốn thánh hiền.

            Mới đây, trong chuyến viếng thăm chốn thánh hiền nhà Đạo ở Giêrusalem, bần đạo đã thấy dân gian nhiều sắc tộc, vẫn mau đến với “tường than khóc” ở mạn Tây Đền thờ. Nhưng nào thấy ai những than cùng hát “con quỳ lạy Chúa, sao cho con lấy được người con thương”, đâu!

            Nguyện cầu/van xin đất thánh hiền, người Do thái vẫn cứ: tay cầm sách (chừng như là Sách Thánh) đầu gục gục liên hồi. Bất tận. Có vị còn nhanh tay chân cài lời khấn nguyện nơi khe tường. Những, thì thầm thanh âm gì đó, chẳng biết có là khóc lóc nỉ non, với xin xỏ. Nhưng, người người tới đây chứng kiến “bức tường khóc than”, rồi nguyện cầu. Từ dạo ấy, bần đạo cứ suy tư rất nhiều về động thái cũng nên có, lúc cầu xin.     

            Về lại nhà, chốn vắng tạm dung nơi mình ở, bần đạo bắt gặp truyện dân gian thời hiện đại, mang dáng dấp một cổ tích “rất khó tin, nhưng có thật”. Như sau:

 

“Gã đàn ông hôm ấy, như thường lệ, vác cần câu ra ngồi cạnh giòng chảy, có nhiều cá để cắm câu. Vừa đến nơi, gã nghe đâu đó, có tiếng thì thầm, gọi rất nhẹ: “Cứu tôi với! Vớt tôi với!”… Nhìn quanh nhìn quất, gã cứ tưởng mình đang mộng mị giữa ban ngày. Mãi một hồi chẳng thấy ai, lòng những chán ngán, gã quay về chỗ cũ, lại cứ nghe như có tiếng kêu cứu, rõ mồn một: “Cứu tôi với! Hãy vớt tôi”

Vội nhìn xuống giòng nước, thấy có chú nhái bén như bị ngộp nước, muốn lên bờ. Thấy thế, gã ta bèn hỏi:

-Có phải, ngươi muốn cùng ta chuyện vãn, hay muốn giúp?

-Đúng thế! Tôi kêu gào khản cả cổ, bộ ông điếc hả? Thôi được, ông cứ ra tay cứu vớt tôi đi, lôi đuợc tôi lên bờ rồi cũng đừng quên trao tặng một nụ hôn, bởi có thế, tôi mới  biến thành một thiếu nữ đẹp nhất đời, làm vợ ông.

-Khoan đã! Làm gì mà rối lên thế?

-Ông hãy cứu tôi nao, dẫu có lòng nào cũng đừng quên tặng thêm một nụ hôn trìu mến, liền sau đó bạn bè ông sẽ điên tiết lên mà ghen tị! Và, tôi hứa sẽ trở thành người vợ hiền không cần cưới. Người đàn bà đẹp nhất trần gian, cho ông sướng.

Gã đàn ông chăm chú nhìn chú nhái bén thêm một hồi, rồi chạnh lòng. Ông bèn ra tay cứu vớt. Xong đâu đó, lão lo sợ nhái ta lại gặp nạn thêm lần nữa, bèn bỏ chú nhái bé nhỏ vào túi áo phía quả tim. Chợt phút chốc, nhái bén nhà ta không thấy gã làm bất cứ cử chỉ âu yếm nào như đã dặn, bèn lên tiếng:

-Ơ kìa, sao lão lại ngốc đến thế, hả giời! Lão có nghe tôi nói gì không? Đã bảo là: hãy tặng tôi một nụ hôn trìu mến, để tôi trở thành người đàn bà đẹp, vợ của lão, cơ mà!

Gã đàn ông vội lôi chú nhái bé nhỏ từ trong túi ra nhìn ngắm một hồi, rồi nói:

-Không! Ta chẳng dại gì mà làm thế. Ta đây, chỉ muốn có người ở cạnh biết nói năng đề huề, mà chẳng hề thích thú gì mấy mụ trẻ người nhưng non dạ, suốt ngày cứ lải nhải, những đòi với hỏi. Những xin với xỏ.

 

            Lải nhải những xin cùng xỏ, chắc chắn không thể nào là động thái của con dân nhà Đạo, được. Nhất thứ vào thời nay. Thay vào đó, phải là thái độ có nhận thức, rất biết điều. Biết, cả vào khi nghiêm túc, lúc nguyện cầu. Cả khi có những động thái nguyện cầu, rất hiểu biết. Quyết không xin. Nguyện và cầu, mà chẳng cần gì đến đứng hay quỳ. Chẳng cần liên lỉ, rất hồi lâu.

Suy nghĩ mãi về nguyện cầu, bần đạo vẫn tự hỏi: nguyện và cầu, phải chăng là kinh kệ dài dài, có những lời lẽ rất hay xin? Tự hỏi và tìm kiếm ánh sáng bé nhỏ ở cuối đường hầm, bần đạo bắt gặp một cuốn sách về Đạo, do bạn bè gửi tặng mãi từ lâu, nhưng chỉ có dịp nghiềm ngẫm trên chuyến bay đường dài đến đất thánh, mới đây thôi. Sách là sách của vị Giám mục khá nổi tiếng tên gọi là John Shelby Spong, giáo hội bạn. Sách, là sách về thần học kinh thánh từng gây nhiều tranh cãi, ở nhiều nơi. Tranh và cãi, ở nhà Đạo. Chốn phương Tây. Ít đọc kinh. Nhưng, vẫn nguyện cầu. Nguyện cầu như đầu đề sách, nổ lách cách, như: “ Giải cứu Thánh Kinh, ra khỏi chủ thuyết căn để”.     

            Không cãi và cũng chẳng tranh, bần đạo nay mời bạn mời tôi, ta thử lắng nghe những điều đấng vị vọng đã đề nghị, với bạn Đạo cùng người thân, một động thái nguyện cầu có Lời Chúa, trong Kinh Sách:

 

“Tôi vẫn tin rằng, chìa khoá để giúp ta hiểu rõ Thánh Kinh Lời của Chúa cần phải có, sẽ không nằm ở bài học bản văn Kinh thánh từng chữ nét, rất nghĩa đen. Nhưng, bằng kinh nghiệm. Từ những kinh nghiệm ấy, văn bản Lời Kinh đã được viết thành Lời.”

(Gm John S Spong, Rescuing the Bible from Fundamentalism, HarperSanFrancisco 1992, t.245)

 

            Tuy nhiên, để có được tư thế nguyện cầu đúng qui cách, thiết tưởng cũng nên nghe thêm ý kiến của Giám mục Peter Ingham (Chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Úc) từng phát biểu tại Thượng Hội Đồng Giám Mục La Mã 2008, như sau:

 

“Chúng ta cầu, là để nhận ra rằng: Chúa đang chuyện vãn với ta, ngang qua Lời Ngài, trong Kinh Thánh. Cầu, để Lời Ngài đến mà đi vào tâm can của ta. Ngõ hầu, trong cuộc sống, ta sẽ là những người “làm cho Lời Chúa trở nên phong phú tốt đẹp hơn. Vào thế kỷ thứ IV, thánh Giêrônimô cũng đã nói: ‘Không biết đến Sách Thánh, là chẳng biết gì về Đức Kitô, hết’.” (xem trang nhà www.giadinhanphong.blogspot.com, DIA 64 tr.1)

 

            Thật ra, Chúa đang chuyện vãn với ta, hằng ngày. Từng giờ. Ngài không chỉ chuyện vãn, mà còn “lưu lại ở chúng ta” (Yn 1: 14). Năm lên 12, Ngài đã có những động thái tích cực khiến giới tinh thông nhà Đạo phải ngạc nhiên, sửng sốt:

 

            “Ngài giảng day họ.       

            và người ta kinh ngạc

về giáo huấn của Ngài.

            Bởi vì Lời Ngài

            là Lời có uy quyền.”

            (Lc 4: 31)

 

            Rõ ràng, là việc “quỳ lạy Chúa”, “xin cho con…”, không còn chỗ đứng trong động thái nguyện cầu của bà con. Thế nhưng, nghệ sĩ già nhà ta, vẫn cứ bảo:

                       

            “vì người ta đã chạy theo bạc tiền,

            âm thầm ôm mối tình điên…”

(Phạm Duy – bđd)

 

            Mải chạy theo bạc tiền, chứ đâu bận tâm kiếm tìm Lời của Chúa. Chính vì thế, nên người “mải miết” kia mới “ôm mối tình điên”, mới “chạy theo bạc tiền”, vân vân và vân vân. Và, càng ôm mối tình điên những bạc tiền, bàn dân thiên hạ nhà ta sẽ chẳng còn có thì giờ và đầu óc mà nghĩ đến Chúa. Đến Lời Ngài. Có nghĩ chăng, cũng chỉ là:

 

            “Cầm bằng Chúa định nhân duyên, bẽ bàng…”

(Phạm Duy – bđd)

 

            Đành là thế, nhưng nếu biết lưu tâm và để giờ ra mà suy niệm, mà đọc Lời Chúa mỗi ngày, hoặc mỗi tuần, cũng nên đọc theo tư thế mà vị Giám mục chủ trì Hội Đồng Giám Mục Úc đã dặn rõ:

 

“Người đọc Kinh thánh vào các buổi lễ, phải đảm bảo là người nghe nhận ra được Lời Chúa. Nghe rồi, còn phải hiểu và cảm kích nữa.” (x. Gm Peter Ingham, bđd)

 

            Làm sao có thể cảm kích và hiểu biết, nếu không có thói quen, những nghe và đọc? Nghe và đọc, là chuyện thiết yếu. Nhưng, nghe và đọc để hiểu rõ có cảm kích, có lẽ cũng nên xét thêm ý tưởng của đấng bậc Giáo hội bạn, Gm John S Spong, từng viết:

 

“Lời Chúa khi xưa, vẫn được các vị tiên tổ của lòng tin, đấng bậc từng cất bước đi vào  lịch sử của Đạo, đã nhận rõ sự hiện diện của Thiên Chúa, ở trong đó. Tiên tổ của ta, đã từng sử dụng Lời Chúa để tỏ bày kinh nghiệm sống của các ngài. Lời Chúa được ghi chép, luôn bị giới hạn bằng những suy tư của thời đại. Thời mà, trong đó các ngài vẫn sinh sống. Thời đại, có hằn ghi một văn hoá và thực tại, mà các ngài từng kinh nghiệm.

(x. Gm John S Spong, sđd tr. 245)

 

            Trở về với bài hát rất “quỳ lạy” của người nghệ sĩ thân quen đã có tuổi và có tên, để nghe thêm:

 

            “Chúng con hai mái đầu xanh,

            chấp tay khấn nguyện trung thành với nhau.”

(Phạm Duy – bđd)

 

            Khấn nguyện trung thành, không thể làm cho nhau/với nhau nếu như cả hai không tỏ bày lòng trung thành, với Lời của Chúa. Đấng, được hai “mái đầu xanh” và cả những người có mái đầu “lốm đốm”, từng “quỳ lạy Chúa”, đều đã biết đến nhu cầu cần tiếp xúc Lời Chúa, qua chuyện vãn/nguyện cầu với Kinh Sách.

            Nguyện cầu với Kinh Sách, là như lập trường của Lm Nguyễn Thế Thuấn, khi xưa từng nói:

                                   

“Thái độ của chúng ta trước Sách Thánh, cũng như trước Thánh truyền, là suy phục và kính tôn, như đáng phải có, trước Lời của Thiên Chúa. Các Giáo phụ, cũng như sách các Gương, theo sau (IV, 2) đã không ngại đặt Kinh Thánh song song với Mình Thánh Chúa. Kinh thánh là qui luật của Đức tin, vọng lại cho người mọi thời, tiếng của các tiên tri và cả giọng nói của Chúa Kitô. Tín thư của Hội thánh, đều cảm hứng từ nơi đó: Kinh thánh như vậy, là một mãnh lực cho tâm hồn, nguồn suối cho sự sống thiêng liêng.” (Lm Nguyễn Thế Thuấn, CssR Kinh thánh Lời Thiên Chúa, sách phát hành nội bộ, tr. 46)

 

            Nguồn suối thiêng liêng ấy, nay Chúa vẫn thông chuyển đến với mọi người. Mọi thời. Nguồn suối ấy, nay ăn khớp với những mơ ước của từng người. Để, ta được nối kết và san sẻ, ngõ hầu dựng xây thế giới mới. Thế giới của thương yêu. Hạnh phúc. Ở thế giới này, Thiên Chúa đổ tràn ân huệ, của sự sống. Ân huệ của tình yêu vẫn có giữa Cha, Con và Thánh Linh.

            Nguồn suối thiêng liêng này, còn là phương cách Đức Chúa tặng ban chính mình Ngài cho mỗi người trong ta. Quà Ngài ban, là Lời Hằng Sống. Là, chính sự sống của Ngài, được diễn tả bằng Lời. Bằng, những phán truyền từ ngôi Con, Đức Giêsu Kitô. Thành thử, có nghe và đọc kỹ lưỡng Lời Ngài, con dân chúng ta mới hiệp thông và chuyển đạt nguồn suối sự sống ấy, với muôn người.

            Nắm được chân lý ấy, người nghe và đọc Lời Chúa, mới cùng nghệ sĩ già, ta rong hát:

 

            “Chúa ơi!

            Thề rằng sóng gió biển dâu,

            Đã yêu trước cũng như sau, giữ Lời”

(Phạm Duy – bđd)

 

            Giữ Lời, không chỉ là giữ Lời đã nói. Đã hứa. Giữ Lời, còn là giữ sao để Lời Ngài trong Kinh thánh và qua Kinh thánh, mà mọi người tiếp xúc/giáp mặt, sẽ cảm hoá, giải thoát và cứu vớt. Bởi, ân sủng của Tình thương yêu Chúa ban, là tình sự sống động của Lời. Của Kinh thánh. Tiếp xúc Kinh thánh, là tiếp xúc với chính Chúa. Chính là nguyện cầu, mật thiết nhất.

            Đọc Lời, hiểu Lời và giữ Lời nhiều khi cũng cần đến cố gắng. Những cố và gắng tương tự như động thái rất vui, của đám trẻ nhỏ, ở bên dưới:

           

“Ở trường lớp Giáo lý rất nhẹ nhàng cởi mở, đấng bậc phụ trách có hỏi đám học trò nhỏ bày tỏ ý kiến với tâm tư về Kinh Sách, các cháu đã từng nghe và đọc. Nhiều em đã đáp ứng. Mỗi người một vẻ, tuy mười phân không vẹn mười, nhưng cũng tức cười như sau:

-Sách đầu tiên của Kinh Thánh, chắc là sách Kỷ lục Guiness (giống Genesis). Sách này có nói đến Cụ ông Adong và cụ bà Evà, được cấy tạo từ cây táo xanh!?!

-Vợ Ông Nô-ê được con cháu gọi là Bà Gio-an thành Arc.

-Còn, vợ ông Lót chính là cột muối lúc ban ngày và cột lửa vào ban đêm

-Samson Dalilah đã xơi tái quân PhaLệTin bằng giáo mác của các thánh Tông Đồ  

-Bánh không men, là bánh mì mà lại không có gì, ở trong đó.

-Ông cụ Môsê trèo lên đỉnh núi Êvơrét để thu nhận 10 điều răn Đức Chúa trời

-Điều răn thứ Bẩy, là: “Con không được ngoại tình”

-Tướng Giô-shua dẫn dân quân Do thái đánh lại bọn Geritol

-Vua Đavid chống lại địch quân Frankenstein, là dân sống vào thời Cựu Ước.

-Vua Salômôn có 300 người vợ và 700 quý phi nương nương.

-Chúa sinh ra là do Đức Mẹ Đồng Trinh Ngừa Thai.

-Dân con theo Đức Chúa Giêsu được gọi bằng giọng to tiếng lên tới 13 đề-xi-ben

-Thánh Paul rao giảng rất gay giống như mình ăn món chua cay mặn ngọt.

-Người sống thánh thiện là chỉ được có một vợ. Còn gọi là độc chiêu, độc cước..

 

            Chẳng phải trẻ con/con trẻ, ở bên Tây hay bên ta, mới có những ý nghĩ ngộ nghĩnh, đến như thế. Nếu các gia đình Công giáo tây ta không có thói quen đọc Kinh thánh, và hiểu cho đúng, rồi cũng sẽ như thế. Nhưng làm sao để có thói quen như thế, đó mới là vấn đề. Để tóm tắt, tưởng cũng nên trích dẫn một trường hợp, như sau:

 

“Khi tôi lên 12, mẹ tôi có tặng cuốn Thánh Kinh, như quà sinh nhật của Đức Chúa. Tôi đã có thói quen coi Sách mẹ tặng như sách gối đầu giường, nghĩa là luôn gần gũi bên tôi. Khiến tôi có nhiều dịp để mở ra, mà đọc. Tôi đã đọc và vẫn đọc. Từ đó, cũng lĩnh hội được nhiều điều rút tỉa từ Sách. Bố tôi mất truớc đó 4 tháng, do đó gia đình tôi lúc ấy như bị cuốn hút vào nỗi bất an triền miên. Và từ đó, Kinh thánh là nguồn an ủi giải thoát cho tôi vào lúc mình thấy mình bất an như thế…” (John S Spong, sđd tr. 13)

 

            Thật sự, Kinh thánh không phải là lá bùa để giải thoát ta khỏi mọi bất an. Nhưng Kinh thánh vẫn là nguồn an ủi, giáo dục và thánh hoá mọi người trong nhiều hoàn cảnh. Điều kiện. Không thể có nguồn ủi an đem đến cho ai, nếu người ấy không được giới thiệu và biết đến. Bởi thế, trong cuộc sống có quá nhiều bất an và bất ổn, cũng nên quan tâm đến việc ấy. Việc đọc và hiểu Kinh thánh, cho đúng cách.

 

 

            Trần Ngọc Mười Hai

            vẫn muốn nhắn nhủ

            chính mình

            và bà con mình

những điều như thế.

 

 

 

 

 

                                     

 

 

 

 

 

 

Hãy hát lên đi bạn ơi, bạn ơi

Để nụ cười sẽ luôn trên bờ môi.
Hãy hát lên đi bạn ơi, bạn ơi
Để cho cuộc sống thêm bao niềm vui.

(Sỹ Luân – Sát cánh bên nhau)

(Xh 3: 14)

            Với dân con nhà Đạo, thì thay vì ta mời gọi mọi người hãy ca và hát, như người nghệ sĩ viết nhạc mang tên Sỹ Luân ở bên dưới, có lẽ bạn và tôi, ta cứ rủ nhau vui lên mà ca hát:

 

            Chúa yêu trần thế!… Hallê – Hallêluyah

            Đã chết cho đời, Hallê – Hallêluyah

và đà sống lại

Hát lên người ơi!

Hallêluyah!

(Thành Tâm – Sĩ Tín – Hát lên người ơi!)

 

            Cứ thông thường, khi hát xong lời ca trên, có lẽ có người sẽ bảo: “Trí lớn gặp nhau.” Vâng trí lớn trí nhỏ, với người đời hay nhà Đạo, cứ như là gặp nhau. Gặp, trong câu ca. Gặp, qua tiếng hát. Và tiếng hát đi vào lòng người, để đến với nhau, sẽ không còn là câu ca thuở trước, rất nức nở: “Từ vực sâu u tối, con cầu xin Chúa, Chúa ơi!”. Vâng. Câu hát nức nở này, bạn và tôi hãy dành để cho các cụ cao niên chỉ nhớ đến ngày Chúa chịu nạn, rất Thứ Sáu. Còn bây giờ, ta cứ sống và cứ hát câu vui tươi, đầy nhiệt huyết. Mà thôi.

            Và bạn cùng tôi, ta cố hát thêm điệp khúc của Sỹ Luân, cứ hát tiếp lời ca sau đây:

                                               

            “Tình yêu sẽ luôn còn mãi

            Tình bạn sẽ luôn còn hoài.

            Để ta sẽ mãi mãi khắc ghi một thời thơ ấu, dấu yêu.”

(Sỹ Luân – bđd)

 

            Và với Lm Thành Tâm CssR, lời ca hưng phấn sẽ không là gì khác ngoài giòng chảy, như:

 

            “Hát lên người ơi! Hallê.. Hallêluyah

            Sáng tươi huyền diệu  Hallê.. Hallêluyah

            Là một kiếp người

            Được Chúa thương yêu.” (Thành Tâm Sĩ Tín – bđd)

 

            Người nghệ sĩ ngoài Đạo kêu mời ”hát lên… để cuộc sống thêm vui..”; trong khi đó, người anh linh mục nhà Đạo cũng lại bảo: “hát lên, người ơi!..” vì “kiếp người được Chúa thương yêu”. Thế tức là, có yêu là có hát. Có hát vui cuộc đời, thì “tình yêu luôn còn mãi”.

            Nhạc và thơ phấn khởi và thúc giục như thế, chắc chắn sẽ đi vào lòng người. Những rao truyền Lời Ngài nơi câu thơ - bài hát, chắc chắn không cần mời cũng có người biết đến. Chính vì có ca và có hát, nên những lời như Hal-lê-lu-ya, Abba.. đã trở thành thân quen, với nhiều người.

            Thế nhưng, sao ta lại chỉ hát tiếng Hallêluyah vào mùa Phục Sinh, Chúa sống lại mà thôi. Và chỉ hát ở nhà thờ? Đâu là nguồn gốc/ ý nghĩa của từ ngữ này? vv… Âu cũng là những thắc mắc của ít là một người. Một dân thường nhà Đạo, ở Sydney. Người dân đi Đạo này đã gửi về tuần báo Công giáo ở đây hôm 20/2/2008, và được giải thích như sau:

 

“Cụm từ “Alleluia” hoặc bên tiếng Anh, đuợc gọi là “Halleluia”, hay Halleluya, mang ý nghĩa nguyên thuỷ là “Chúc tụng Thiên Chúa”, hoặc “Kính mừng Đấng Có”. Từ ngữ này, xuất xứ từ một động từ bên tiếng Hipri - Do Thái “Allelu” và tên riêng của Thiên Chúa “Đấng Có” (“ia”, tức Đấng còn có tên là Gia-vê Thiên Chúa. Tên riêng Đức Gia-vê làm mọi người nhớ lời Thiên Chúa đã ứng đáp khi Môsê hỏi tên của Ngài để thuật lại với con cái nhà Israel. Và, Thiên Chúa nói: “Ta có sao Ta có vậy” (Xh 3: 14), tức Gia-vê Hiện Hữu.    

Thật ra, từ ngữ “ia” không phải là tên thường gọi để chỉ định Thiên Chúa. Đúng hơn, danh xưng đặc biệt để kêu tên Chúa đã được chính Ngài tỏ lộ cho dân Do Thái, qua câu “Ta Có”.

Sách Giáo lý Hội thánh Công giáo, có đoạn bình luận về tên gọi của Thiên Chúa, như sau: khi mặc khải tên gọi huyền nhiệm của Ngài, YHWH (tức “TA LÀ ĐẤNG CÓ”, hoặc “TA CÓ SAO TA CÓ VẬY”), Thiên Chúa nói Ngài là ai, và Ngài muốn được gọi như thế. Quả thật, tên gọi thánh thiêng của Ngài cũng huyền bí như chính Ngài là Đức Chúa Huyền Nhiệm. Ngài từng tỏ bày Ngài là Đấng “TA CÓ”, ngõ hầu bộc lộ cho thấy Ngài chính là Thiên Chúa Đấng luôn Có ở đây, bây giờ. Ngài Có là để cho dân Ngài được biết và để cứu rỗi họ.” (Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo , đ 206-207).

Thành ngữ “Alleluia” hàm ngụ tính thánh thiêng nơi tên gọi này, vốn được tìm thấy tại nhiều đoạn ở Cựu Ước. Chẳng hạn như, sách Tôbia có đoạn viết: “Các cửa thành Giê-ru-sa-lem rân lên ca vãn hân hoan, nhà nhà vang dội: "Al-lê-lu-ya! Chúc tụng Thiên Chúa của Israel! Và các kẻ được chúc lành sẽ Thánh Danh mãi mãi chẳng cùng." (Tb 13: 18).

Bản dịch bên tiếng Anh dùng từ “ia” để chỉ về “Thiên Chúa của Israel”. Và rõ ràng là, “Hallêluyah” là tiếng chúc tụng ngợi ca , rất vui. Và là tiếng chúc tụng Danh thánh của Thiên Chúa.

Một lần nữa, thành ngữ này lại thấy xuất hiện ở đầu bài và đoạn kết Thánh vịnh 113, hoặc tại các ấn bản khác của Kinh thánh như ấn bản phổ thông Vul-ga-ta hoặc Bản Bẩy Mươi, nơi câu đầu của thánh vịnh 114. Vào cuối thánh vịnh 113, ta có câu: “ Đấng gầy dựng cho người son sẻ, nên mẹ hiền sung sướng đông con. Alleluia!(Tv 113: 9). Một lần nữa, thành ngữ “Alleluia”, hoặc “Chúc tụng Đức Chúa”, đến vào lúc mọi người có niềm vui riêng biệt, niềm vui của người mẹ hiền cưu mang con mình.            

Thành ngữ “Chúa tụng Đức Chúa” còn được nhắc đến vào câu cuối của thánh vịnh mang tên “Hallel” , hoặc thánh vịnh chúc tụng ngơi khen: số 113-118. Đồng thời, thành ngữ vui mừng chúc tụng này còn được gặp nhiều lần ở các thánh vịnh số 146-150, vào cuối câu.

Trong Tân Ước, cụm từ “Halleluyah” chỉ thấy xuất hiện nơi sách Khải huyền, ở bối cảnh trong đó tác giả viết lời chúc tụng ngợi khen dâng lên Thiên Chúa trong buổi phụng vụ Nước Trời. Chẳng hạn như, câu “Sau đó, tôi đã nghe như có tiếng lớn của một đoàn người đông đảo ở trên trời tungHallêluya!”  Vạn thắng, vinh quang và quyền phép thuộc về Thiên Chúa chúng ta! Vì chân thật công minh, các án xử của Người!” (Kh 19: 1-2)

Thành ngữ này còn được lập lại nhiều lần khác trong cùng một chương sách, nơi đó có câu: “Và tôi đã nghe như có tiếng đoàn người đông đảo và như tiếng bàng đà thác lũ, và như tiếng sấm mạnh rằng: Hallêluya! Vì Người đã làm vua, Chúa, Thiên Chúa Toàn Năng. Ta hãy vui mừng hoan hỉ, hãy chúc vinh Người! Vì này đã đến rồi, tiệc cưới Chiên-Con, và hiền thê của Ngài đã trang phục sẵn sàng.” (Kh 19: 6-7)

Xem như thế, cả từ “Alleluia” lẫn “Hallêluyah” luôn được dùng như một bài vịnh để chúc tụng Thiên Chúa toàn năng, trong bối cảnh phụng thờ và vui mừng hoan hỉ. Cụm từ này được dùng trong phụng vụ của người Do Thái, và được để nguyên chữ trong các bản văn phụng vụ Hội thánh Công giáo thời tiên khởi. Đối với tín hữu Đức Kitô, đặc biệt là vào thời Chúa Phục Sinh, cụm từ này được dùng để tăng thêm ý nghĩa chúc tụng ngợi khen Thiên Chúa về sự Phục Sinh hiển thắng của Đức Giê-su Kitô, Con Thiên Chúa.

Vì thế, “Alleluia” đã trở thành cụm từ tuyệt vời, giúp ta hân hoan mà chúc tụng. Hân hoan mà cảm tạ. Khi cất tiếng Hallêluyah như thế, ta cũng nên hiệp thông lòng – trí khi thốt lên lời ca chúc tụng và nâng lòng lên trong tư thế vui tươi ngợi ca Thiên Chúa. (Lm John Flader, The Catholic Weekly 20/4/2008, tr14)

 

            Dài dòng như trên, đức ngài linh mục ở đây chỉ muốn tầm nguyên ngôn ngữ cho đúng kinh điển, thế thôi. Nói nôm na, ta gọi là “nói có sách mách có chứng”. Sách ở đây là sách thánh, và chứng ở đây là chứng cứ lịch sử, với Giáo lý nhà Đạo, hẳn hòi.

            Chứng cứ ở đâu không biết, chứ như chuyện dân gian, đôi khi cũng đáng lưu tâm. Chuyện dân gian là những chuyện vui không mang tính chúc tụng ngợi ca, nhưng vẫn chứa đựng những nụ cười. Nhiều nụ cười còn mang dấu ấn nhà Đạo, những trăm phần.  Chẳng hạn như, mẩu chuyện vui xóm đạo bên trời Tây dưới đây, là một chứng cứ minh hoạ, để vui thôi:

 

“Vợ chồng vì phó tế/thầy giảng có thói quen ngồi chung dùng bữa sáng ngoài trời ngày của Chúa, rất thú vị. Bỗng dưng, người vợ sực nhớ ra điều gì, bèn đứng dậy vào bên trong, sửa soạn khăn áo tề chỉnh, để đi nhà thờ. Xong xuôi quay lại, chị vẫn thấy anh chồng ngồi ung dung trong chiếc áo ngủ, rất vô tư. Bèn hỏi:

-Bộ, hôm nay anh không ra nhà thờ dự lễ sao?

-Có lẽ không đâu, em ạ. Thật ra, anh chẳng còn muốn đi nhà thờ nhà thánh nữa đâu em à. Đi riết, rồi cũng chán. Chẳng có gì hấp dẫn hết.

-Anh nói gì kỳ vậy? Đi nhà thờ xem lễ mà anh kêu là chán, không hấp dẫn, nghĩa là làm sao?

-Tức là… Đấy kìa, em coi! Có những cụ cứ nhìn thấy anh đến nhà thờ, là không thích. Tình thật, anh cũng chẳng ưa mấy người ở nhà thờ. Cái gì mà, lúc nào cũng ê a, cứ hát tiếng Al-lê-lu-a, để cung nghinh Phúc Âm tung hô Tin Mừng Tin Vui mà mặt mày cứ chầu bậu, chẳng vui tí nào. Dứt khoát, kỳ này anh tự tha cho mình một bữa, đó em.

-Anh đừng có mà dài dòng lý lẽ lý sự. Em cho anh mười phút để sửa soạn quần áo và có hai lý do để ta đi nhà thờ dự lễ hôm nay, đó là: Năm nay, anh cũng đã tròm trèm xấp xỉ 60 mươi rồi còn nít nôi gì nữa, phải làm gương cho bọn nhỏ. Hai nữa, là: anh phải ra nhà thờ mà giải thích ý nghĩa phụng vụ ngày lễ. Nếu không, thì làm thừa tác viên/thầy tư thầy sáu, để làm gì. Anh nghe rõ chưa? Hallêluyah!

 

            Trộm nghĩ, xứ đạo nào mà có các bà các cô vừa ca bài “Hallêluyah” như vị phu nhân thầy tư/chức sáu trên đây, ắt hẳn nhà thờ mình lúc nào cũng đông vui. Có nhiều tiếng hát ca không chỉ để phục vụ và phụng tự, mà thôi; nhưng còn để cho đời thêm vui.

            Có lần, bần đạo được một số bạn trẻ tỏ bày tâm sự niềm ao ước được nghe nhiều, nghe mãi và nghe hoài những bài thánh ca vui tươi chúc tụng Thiên Chúa như bài “Hát lên người ơi!” như trên vào các buổi lễ, hầu đem tinh thần yêu thương và mừng vui đến với cộng đoàn. Vì, có tươi vui, người người sẽ yêu người, yêu đời. Suốt cuộc đời.

            Thành thử, cho dù có hiểu hay chẳng rõ Hallêluyah là gì đi nữa, bà con anh em mình vẫn cứ “Hát lên người hỡi!” Bởi lẽ, “sáng tươi huyền diệu, là một kiếp người được Chúa thương yêu.”

 

            Trần Ngọc Mười Hai

            Vẫn mong muốn

            bạn và mình luôn hát

            những tiếng để đời:

            Hallêluya!

 

“Đừng xa nhau nhé!”

Đừng quên nhau nhé !
Đừng chia nhau núi cao vực sâu.
(Phạm Duy – Đừng xa nhau)

(Mt 19: 21)

            Có 3 người, tất cả là bạn của bạn, hay còn gọi là: của “nhà tôi!”, để rồi nay thành “bạn ta”, tức bần đạo. Bạn của bạn, đến từ đất miền xa xôi cực Bắc, rất Mỹ Châu. Một vị, từ thủ đô hào nhoáng, xứ Hoa Kỳ. Hai vị kia, từ vùng sâu vùng xa, đất miền Calgary. Lần này bạn đến, không để vui chơi ăn nhậu, sau nhiều năm vắng bóng. Nhưng, đến để tìm lại tâm tình thuở nhỏ, hát cho nhau. Bạn đến, bọn tôi chỉ biết mời bạn ngồi nghe những tình tự day dứt, dứt quyết ở trên.

            Bạn, dù mới thân, tuy chưa quen không khí rất Đạo hiền, rất ưa hát. Nhưng, đã thấy thấm thía tâm tình, khó xa nhau. Tâm tình, được thấy và gặp ở lời ca/nơi tiếng hát, tiếp tục kể bên dưới:

 “Đời phai mau, người ghen nhau

            lòng vẫn cứ ngọt ngào,

            miệng ru nhau những ân tình sâu.

            Đừng xôn xao, đừng khóc giấu,

            Đừng oán trách phận bèo,

            Vì sông xa, vẫn trung thành theo.” (Phạm Duy – bđd)

 

            Với bầu bạn mới thân cũng vừa quen, thì lời khuyên chỉ như thế. Còn, các bạn từng suy tư dông dài những “Đạo vào đời”, thì bần đạo lại sẽ mời nghe Lời vàng, đầy khuyên bảo, sau đây:

 

            “Nếu anh muốn được trọn lành,

            hãy đi bán những gì anh có,

            mà cho kẻ khó,

            và anh sẽ có (cả) kho tàng trên trời,

            đoạn hãy đến mà theo Tôi.” 

            (Mt 19: 21)

           

            “Hãy đến mà theo tôi”, xưa nay vẫn là lời gọi mời, rất thân thương. Khẩn trương. Trìu mến. Duy có điều, là: người xưa vẫn hiểu câu nói đó như một gọi mời, đi vào cuộc sống có trầm lặng. Êm ắng. Rất đời tu. Có lẽ, vì quá câu nệ/gò bó với cõi “đời tu”, nên sự thể là: dạo gần đây có nhiều hiện tượng lạ kỳ ít phấn khởi, khiến bạn và tôi, ta không thể không quan tâm để ý, mà luận phiếm.

            Cách đây không lâu, tác giả Richard G. Malloy đã thực hiện một khảo sát nhỏ nhưng cũng sâu và rất sắc về tình thế cuộc đời có những “oán trách phận bèo”, rất đời tu. Nên, đức ngài đã có nhận định đầy con số, gây nhiều bức xúc, ưu tư như sau:

 

“Vẫn còn đó nỗi buồn, một sự kiện. Sự kiện, tựa hồ hồi 1965 ở Hoa Kỳ, thống kê đếm được con số người giữ Đạo ở nước này, thấy đã lên đến 45,6 triệu. Trong số đó, 48,992 vị là chủng sinh. Họ đeo đuổi công cuộc đào tạo vào thời đại học, đến khi trở thành linh mục, mới thôi. Năm 2006, số người đi Đạo ở đây vọt lên mức khá cao: 69,1 triệu. Nhưng, số chủng sinh tiếp tục đời dâng hiến Chúa, nay tụt xuống còn 5,642 vị. Cũng một tình huống tương tự, số các vị đeo đuổi cuộc sống tu trì, tức tu sĩ nam nữ, nay giảm sút còn tệ hơn nữa.” (x.Richard G Malloy, Đời tu trì thời Facebook, Người trẻ nay đi đâu? America 14/7/2008, tr.14)     

           

            Tựa đề trên, nếu hỏi rằng: người trẻ nay đi về đâu? có lẽ tác giả nay bức xúc hơn về cuộc sống “không tu trì” của đám người được gọi là: trẻ. Nay, ta hướng về các vị luống tuổi, đã hết tu, để rồi phiếm. Cứ phiếm và luận, về tình hình các vị già/trẻ vẫn còn hoặc đã hết tu.

            Làm sao tu, khi mà phần đông người trẻ hôm nay (hầu hết ở nước ngoài), ít còn biết đến Đức Giê-su. Ít lưu tâm đến chuyện nhà thờ. Đến niềm tin và cuộc sống rất tu. Tuổi trẻ hôm nay, đâu biết nhiều về những chuyện thuộc kiến thức chung, rất Công giáo. Thật ra, thì người trẻ ở trời Tây, cũng đã biết và muốn rõ đôi nét về các tín ngưỡng khác, hơn là bận tâm về truyền thống của Đạo mình.

            Có người trẻ, đã chạy đến với một linh mục không đến nỗi già, để khoe: tôi thật tình muốn nghiên cứu thêm đôi chút, về Phật giáo. Tôn giáo này, xem ra, khá tuyệt hảo! Nghe vậy, vị linh mục  không-còn-trẻ ấy kể lại câu trả lời của riêng ông: “Chà, ra thế! Thế, cô có khi nào nói đi thì nghĩ lại, rằng: mình sẽ tìm hiểu về Đạo giáo vốn dạy cho mình biết về Chúa; về Đạo của cô, để cô và tôi tìm cách mà sống cho tốt như Ngài, hơn không?” Cô bắt ngay vào chuyện và hỏi: “Đạo gì mà hay thế?” Vị linh mục bèn trả lời: “thì, Đạo Công giáo của cô, chứ đạo nào nữa, bây giờ!” Và ông nói thêm: “đó là sự tin tưởng, mà nhờ đó cô chịu thanh tẩy, có thêm được sức mạnh, để trẻ trung.”

            Nghe lời bàn của linh mục, lâu nay ta cứ tưởng: những người trẻ, hễ đã rửa tội hoặc chịu phép thêm sức, bao đồng, là tự khắc thấm nhuần rất nhiều “sự”, trong Đạo. Hệt như thế, ta vẫn tưởng nam thanh nữ tú ngày nay, đều biết đến thánh Tôma, nhà thần học nổi danh, hoặc thánh Phanxicô, người đã đặt ra “kinh Hoà Bình”, thánh Âu Tinh, Don Bosco, là những ai. Thật tình, người trẻ hôm nay chỉ biết đến, những là: Elvis Presley, Michael Jackson, Madonna hoặc ai đó, ở ngoài đời. Có bạn, khi được hỏi: “xin hỏi bạn Vatican II là tên của ai? cái gì?”, đã nhanh nhẩu trả lời: “chừng như đó là tên của vị Giáo Hoàng nào đó, thời buổi trước!”        

            Cũng thế, có bạn mình lại cứ tưởng: người Công giáo ta thích hát “Kinh Hoà Bình” (của Kim Long), hoặc “Tình Ca 3” (của Thành Tâm), hơn các bài “Em ơi, Hà Nội Phố!” (của Phú Quang) hoặc “người con gái nói không là có, nói có là không…” Nhưng thật ra, ta lầm. Lầm khá nhiều, khi nghĩ rằng người trẻ đất Việt biết nhiều về các vụ “Thái Hà – Toà Khâm Sứ” xử loạn xạ 8 giáo dân…hơn những chuyện linh tinh, này khác. Sự thực, không phải thế. Những người trẻ các nơi –không riêng gì ở Việt Nam- chỉ thích sống kiểu “đại gia”, ăn chơi thả cửa. Tới đâu thì tới. Sống chết mặc bay. Dù “bay” đó, có là ông cha hay vẫn là các cụ cán bộ không-còn-là-đầy-tớ-dân.

            Bởi thế khi xưa, nghệ sĩ già vẫn nghêu ngao hát:

 

            “Đừng đi mau, để mãi mãi,

            là chiếc bóng đậm mầu

            còn theo nhau

đến muôn đời sau.” (Phạm Duy – bđd)

 

            Bóng đậm mầu, (chứ không phải “nhiệm mầu”) có thể là ảnh hình của đời, hoặc thày tu? Cũng có thể, là: cuộc sống hằng ngày của con dân nhà Đạo. Vẫn được dạy, như sau:

 

            “Vì kẻ được gọi thì nhiều,

            nhưng người được chọn thì ít”

            (Mt 20: 16/22: 14)

 

            Cái kẹt ở đây, vẫn là: người nhà Đạo, từ xưa tới nay cứ nghĩ: Chúa gọi, là Ngài gọi mời người đời sống cuộc sống tu trì. Sống đời tu trì, các cụ lại cứ nghĩ: đó là nhà của Chúa, tức nhà Dòng. Nhà xứ. Chứ đâu phải là…nhà ta. Tại gia! Chính vì thế, đó mới là vấn đề. Và vấn đề, là: nếu quan niệm “tứ hải gia huynh đệ” là nhà; hoặc: “”cái nhà là nhà của ta, công khó ông cha/Cha Ông lập ra”, thì vấn đề sẽ khác. Và, điều khác ấy, nay thành chuyện. Chuyện của con người. Ở huyện.

            Gọi thì nhiều, phải chăng như lời nghệ sĩ xưa rất già, nhưng vẫn trẻ ở lời thơ:

 

            “Dù mai sau dắt nhau mà qua cầu,

            mồ chôn sâu ánh trăng vàng mái lầu.

            Đừng xa nhau nhé,

            Đừng quên nhau nhé… (Phạm Duy – bđd)

 

            Xa nhau/quên nhau, cũng tựa như quên lời gọi mời của người Tình âu yếm, rất thân thương: “Hãy (cứ) đến mà theo Tôi!” Thật ra, nghe gọi mời đã từ lâu, nhưng người người lại cứ cắt nghĩa những mời và gọi ấy theo nhiều cách, đến nản lòng. Và, người nản trước tiên, là đám trẻ. Đám trẻ hôm nay, vẫn muốn biết Hội thánh nói chuyện cởi mở hơn về truyền chức thánh cho nữ giới. Về, cơ hội đồng đều cho cả hai giới tính. Người trẻ, vẫn muốn giáo hội trung thực và thẳng thắn trong chia sẻ những ưu tư. Chứ đừng, khư khư với “giới tính chủ nghĩa”, luôn áp đặt vào với “Nước Trời”.

            Người trẻ hôm nay, rất ưu tư về các món nợ nần, vẫn còn thiếu ở thời đại học. Vốn ưu tư, nên người trẻ mãi phân vân không biết có nên dấn bước vào chốn đời tu, hay sống đời gia đình, có lứa có đôi. Có một số trung tâm tài chánh/kế toán khi được hỏi, cũng đã đặt vấn đề khó khăn của lớp trẻ cứ lo toan việc trang trả nợ nần tiền học, suốt mười năm. Càng thấy khó hơn, khi họ phải đắn đo suy tính một đời tu. Dĩ nhiên, chuyện này chỉ thấy ở khung trời rộng mở, cõi trời Tây. Nhiều lo toan. Ít vô tư.

            Có “cõi tu”, nay vẫn ngại ngần về chủng tộc, và giai cấp. Bởi, cho đến nay hầu hết “cõi tu” ở nước ngoài đều thuộc lớp người da trắng. Họ những muốn, dòng thánh mình mang dáng dấp uy nghi cao sang của tầng lớp trung lưu hoặc hơn một chút. Nhiều thành viên sắc tộc khác ở Hoa Kỳ, còn thấy khó vì ít khi gặp cộng đoàn nhà tu nào thoải mái, có thói quen chuyên cung cấp thực phẩm của bản sắc dân tộc mình (dân Nam Mỹ, Châu Phi…) Có vị, chỉ thích cộng đoàn nào rất “tu” nhưng vẫn thấy phải thoải mái hơn, khi có âm nhạc và thức ăn, đúng sở thích. Có nơi, còn đặt vấn đề lối sống vừa phải, trung lưu.

            Một trở ngại khác, là học phí. Nhiều vị, những muốn tu trường Dòng, nhưng mỗi lần nghĩ đến học phí phải trả, cũng đành cáo lui vì lý do khiêm hạ: “có thực mới vực được Đạo”.

            Các lý do thoái thác cuộc sống đời tu -nhất thứ, ở nước ngoài- nay vẫn không thiếu. Không thiếu, và có khi còn có nhiều hơn, khi người người thấy rằng giới trẻ hôm nay suy nghĩ nhiều về các khác biệt, trong văn hoá. Văn hoá Đông-Tây. Văn hoá và lối sống có va chạm mạnh giữa thế hệ: già - trẻ. Cả quan niệm: trọng nam khinh nữ, của Đông Phương.

            Nói gì thì nói, ngày hôm nay người người vẫn cứ quên đi mất một chuyện. Chuyện ấy là, sức bật làm việc của Chúa Thánh Linh. Chúa làm việc, Ngài đâu có ầm ĩ, những khua chiêng. Nhưng, vẫn “thằng bé âm thầm, đi vào ngõ nhỏ”. Có lặng thinh. Im ắng. Có hy vọng. Hy vọng nhiều, như thời kỳ Hội thánh tưởng-chừng-như-là “hết thuốc chữa”, ở cuối thế kỷ thứ 15. Thế kỷ của những chuyện bê bối, đến lạc Đạo. Thế nhưng, Chúa Thánh Linh vẫn làm việc. Ngài làm việc theo kiểu rất lạ, không ai đoán trước. Và lúc ấy, đã xuất hiện một Y-Nhã, một Gio-an Thiên Chúa. Và, cả thánh nữ Têrêxa thành Avila, nữa.

            Hội thánh, nay dù ù lì hoặc đã chầm chậm, nhưng vẫn hy vọng. Hy vọng, ở cuối đường hầm, ta không đoán trước. Cũng chẳng thể nào đoán già/đoán non, tìm lý chứng. Hãy cứ hy vọng, và hy vọng. Rồi ra, ta sẽ có giải pháp mới, cho đời tu. Miễn là, Hội của các thánh vẫn biết nghe và biết nhận. Nghe và nhận, như truyện kể để minh hoạ, rất không lạ. như sau:

 

“Hôm ấy, người bàng quan/qua đường đã thấy bóng dáng anh thanh niên mù loà ngồi trước cửa một cao ốc. Lẳng lặng. Bất động. Anh chỉ lật ngửa chiếc nón, bên cạnh ghi rõ một câu: “Tôi mang thân phận mù loà, xin tiếp cứu”. Ngồi lâu, nhưng sao chẳng thấy ai cứu vớt. Vẫn chỉ có vài đồng bạc cắc cỏn con, khiêm tốn.

Chợt có bộ hành đang vội bước, thấy thế đứng lại. Ông bỏ vào mũ người mù vài xu, rất nhẹ. Nhẹ đến độ chẳng ai hay biết. Nhìn quanh không thấy ai để tâm đến sự việc ông làm, ông cầm tấm biển, lật mặt kia lên biên thêm vào đó, đôi giòng chữ.

Chẳng bao lâu, mũ của hành khất mù, đầy ắp những tiền, không chỉ có bạc cắc hoặc đồng xu. Đọc hàng chữ, người qua lại đã cúi xuống bỏ tiền, không do dự. Chiều đến, người khách lạ đã từng thay đổi tấm biển, giờ trở lại xem sự thể diễn biến ra sao. Người trẻ mù nghe tiếng gió biết ngay đó là vị khách đã làm nên sự việc, vào sáng nay, nên mới hỏi: “Có phải ngài là vị khách đã thay đổi chữ viết trên biển giấy của tôi, không? Xin cho biết: ngài viết vào đó, những gì?

Vị khách trả lời”

-Chẳng giấu gì anh bạn, tôi chỉ muốn nói lên một sự thật. Tôi viết đúng những điều anh nói, nhưng viết cách khác, thế thôi.                       

-­Dám hỏi khách lạ: phương cách và lời ấy như thế nào?

-Điều tôi viết, vỏn vẹn chỉ mấy câu: Hôm nay, trời quá đẹp, nhưng tôi không thể nhìn thấy.” Anh thấy câu nói của anh và câu tôi sửa, có gì khác nhau không?

-Phải nhận là quý khách thật sáng ý. Cả hai câu cho thấy, tôi đây mang thân phận kẻ mù, nên rất ngu. Điều ngài viết, nhấn mạnh một điều, là: mọi người vẫn may mắn hơn tôi. Được nhìn thấy bầu trời trăng sao, đời vẫn đẹp. Đó là vấn đề, thầy ạ. Xin cho tôi được phép gọi ngài là: thầy. Vì ngài đáng bậc thầy của kẻ vừa hèn vừa ngu này.

 

            Một lần nữa, truyện kể để minh hoạ hôm nay, đơn giản chỉ có thế. Nhưng, người kể hôm nay đã thêm một lời bàn rất ý nhị. Lại sâu sắc. Chí ít, là chuyện mà bần đạo vừa phiếm, ở trên. Lời bàn, là lời giản dị như sau: hãy cảm kích những gì mình đang có. Có thể, đó là việc sáng mắt. Có thể, là đời mình đang sống, vẫn đẹp. Vẫn thoải mái. Vì quá thoải mái, nên mình chẳng nhớ và nghĩ đến người khác. Nghĩ đến cuộc sống người khác, tuy có khác, nhưng vẫn sáng tạo. Đổi mới. Khác nữa là, cuộc sống ấy bạn mình muốn gọi là gì cũng được. Đời tu. Sống khổ. Gò bó, chắt bóp, hạn hẹp. Nhưng, lại là cuộc sống rất đẹp. Sống ý nghĩa. Sống thích hợp với lời mời khi xưa: “Hãy đến theo Tôi”.

            Đến theo tôi, là theo đường lối khác. Vẫn đẹp. Dù, đường lối ấy, ít người theo. Dù, cuộc sống ấy, tưởng chừng như thất bại. Lại rất tốt. Đẹp và tốt, một đời tu. Một cõi sống, những tưởng của người mù. Nhưng không phải. Bởi thế nên, hãy nhớ câu hát của nghệ sĩ già hôm trước, rằng:

 

            “Đừng buông mau! Đừng dứt áo!

            Đừng thoát giấc mộng đầu,

            Dù cho đêm có không bền lâu.” (Phạm Duy – bđd)

 

            Và, “giấc mộng đầu” đời tu hôm trước, nay có là vấn đề “bền lâu”, của Hội thánh, hay không?

Hỏi, là để dõi theo một trả lời. Ở đây. Mai ngày.  

 

            Trần Ngọc Muời Hai

            Vẫn nhớ và cứ hỏi:

về đời tu.

Bây giờ.

Và, mai sau.

 

 

 

 

Giây phút êm đềm, ngày ta gặp nhau

mắt môi thầm trao

những câu ân tình

biết bao là âu yếm…

(Phạm Duy – Romeo & Juliet)

(Yn 10: 11)

            Có lẽ bè bạn cũng như bần đạo, mỗi lần nghe lại nhạc bản “giây phút êm đềm” vừa trích dẫn ở trên, hẳn ta không tránh khỏi bận lòng. Bận nhất, là tư tưởng lòng thòng kèm theo một vài kỷ niệm êm đềm thời đã qua, về lại với ký ức. Rất chầm chậm. Đậm nét. Đậm hơn cả, là khi ý/lời nhạc bản cứ da diết đi vào lòng người, gồm nhiều thứ: tình yêu, say mê, vận mạng, khổ đau, hy sinh…

            Lòng người đi Đạo hôm nay, còn lòng thòng hơn thế. Bởi, tình tự ở trên chỉ tập trung vào hai chữ Yêu - Thương. Chứ, đâu nào chỉ có nghĩa: hy sinh, mà thôi. Với đấng bậc thuộc giống giòng hào kiệt người mình, các “cụ” lại hay nhấn mạnh đến chữ “hy sinh”, hãm mình, và… vác thánh giá. Làm như thể, Đạo Chúa toàn chủ trương những chuyện tiêu cực, như: khổ đau, phạt xác, lác đác những chuyện sầu buồn. Nếu Đạo Chúa chỉ là như thế, ắt hẳn đám trẻ-người-nhưng-không-non-dạ sẽ chẳng còn ham thích đi Đạo và giữ Đạo, buồn thấy “mồ”!

            Bần đạo hôm nay phiếm, là phiếm có sách và chứng đàng hoàng, không dám giỡn. Số là, hôm nọ, sau Đại Hội Giới Trẻ ở Sydney, có vị đấng bậc ghé họ đạo lẻ nọ để thuyết giảng một bài gọi-là-chia-sẻ về dụ ngôn “kho tàng giấu dưới ruộng”. Và, “đức ngài” nói rất nhiều, kể không thiếu các truyện tếu. Các cụ giảng về đức “hy sinh” và “hy sinh”. Dù cho, dụ ngôn “kho tàng dzấu dzưới dzuộng” và “cỏ lùng” hôm ấy chẳng bàn đến hy sinh và hãm mình.

            Hôm nay nhớ lại, bần đạo xin phép ghi lại vài câu phiếm về chuyện hy sinh. Và, trữ tình. Mà, không có hãm mình, phạt xác, hết. Phiếm, để đem niềm vui sống Đạo đến với bầu bạn. Có thế thôi. Chẳng dám chê bai “cụ” nào. Không phiền hà, bất cứ ai. Phiếm là phiếm thế này:        

            Nhiều thập niên trước, khi giảng về tu đức với đạo lý/sách phần, các “cố” nhà mình hay dùng ảnh hình Đức Chúa chịu nạn. Có mạo gai. Có đóng đinh. Chúa hy sinh nhiều. Đau khổ không thiếu. Các “cố’ khuyên ta hy sinh/hãm mình/phạt xác, rất nhiều. Chứ chẳng nói đến “tình yêu” được bao nhiêu. Dù đó, có là tình thương - yêu của Đức Chúa Trời. Các “cố” vẫn huý kỵ thứ tình yêu kiểu “Romeo” (lúc ấy ít nói đến người phụ nữ mang tên “Juliet”). Bởi, người xưa có câu: “Đàn ông chớ kể Phan/Trần, đàn bà chớ kể Thuý Vân/Thuý Kiều”. Huống hồ là, Juliet với Romeo, rất éo le.

            Nghe các “cụ” giảng về dụ ngôn Nước Trời vào Chúa Nhật thường niên, mà lại nói đến “hy sinh”, bần đạo về tìm đọc lại suy niệm của các bậc thầy thần học thánh kinh, chỉ thấy cắt nghĩa về tình thương yêu/đùm bọc cần có với cộng đoàn Hội thánh thời tiên khởi. Chứ đâu bắt phải hy sinh, hãm mình. Vả lại, Nước Trời đâu phải là nơi chốn địa dư đâu mà phải hãm mình và hy sinh để được “vào”. Nước Trời đã xảy đến với Hội thánh. Với cộng đoàn, ở thì hiện tại. Đâu có là, thì tương lai. Mai thời.

            Về hy sinh, tự điển kinh thánh chỉ trưng dẫn 5 đoạn Tin Mừng do thánh Gio-an viết, nơi chương 10. Gồm các câu 11, 13, 15, 17, 18, đại để như:

 

            “Tôi chính là Mục Tử nhân lành.

Mục Tử nhân lành hy sinh mạng sống mình

cho đoàn chiên.”

(Yn 10: 11)

 

            Nếu cố tầm nguyên hoặc tìm hiểu ý nghĩa cụm từ “yêu mến”, “yêu thương”, hay “thương mến nhau” như trạng thái cần có khi sống ở Nước Trời thời hiện tại, hầu như trang nào trong Tân Ước cũng hàm ngụ ý chỉ đó. Đó còn là mục đích nền tảng của mọi giảng rao, về Nước Trời. Nói cho cùng, hy sinh, hãm mình hay phạt xác, vác thánh giá vì Chúa, chỉ là để chứng tỏ tình thương yêu của mình. Yêu đến độ “bằng lòng”, “chấp nhận” ngay đến cái chết cho người mình yêu mến.

            Về chữ “hy sinh”, từ điển của tác giả Đào Duy Anh/Nguyễn Văn Khôn, đều cắt nghĩa: đó là hành động “bỏ tất cả như: danh dự, quyền lợi, tài sản, tính mạng của mình để làm việc gì”. Hành động ấy, ngoài đời thấy có nơi nhân vật Romeo và Juliet (chứ không chỉ mỗi nam nhân). Nơi nhà Đạo, mọi người gọi họ là thánh-nhân. Hoặc, đấng “tử vì Đạo”. Tức, chấp nhận cái chết vì Chúa. Cho Chúa. Cho Tình yêu. Ở Nước Trời. Chứ không nhằm hy sinh/phạt xác. Mà, thân-xác-là-Đền-Thờ của Chúa.

            Để diễn tả tình yêu có hy sinh cho người mình yêu, người đời kể rất nhiều. Viết không thiếu. Nhiều bài hát, kịch bản cũng như tiểu thuyết. Bản nổi tiếng ở phương Tây được nhiều người thích nhất, vẫn phải kể đến kịch bản hoặc bài về Romeo – Juliet. Trong đó, có những câu, rất thi vị, như:

 

            “Nhìn lá vàng rơi, xao xuyến hồn tôi

            còn đâu người yêu, và những ngày xưa

            thôi đã hết rồi, tình yêu đầu tiên

            giống như hạt sương, mát cho tâm hồn.

            Phút giây chợt tắt, theo áng mây sầu

            Ngàn năm buồn trôi, vì nhớ người

Người hỡi đang say hạnh phúc, thấu cho tình tôi…” (Phạm Duy – bđd)

 

            Bên trời Đông, cũng có nhiều truyện trữ tình, nói lên hai chữ “hy sinh” (nhưng không hãm mình, phạt xác) để người mình yêu vui sống, vẹn toàn. Dưới đây, là một trong các truyện minh hoạ:

 

“Cưới nhau được hai năm, chồng tôi bàn với tôi về quê đón mẹ anh lên ở với chúng tôi để bà được sống an nhàn những ngày cuối đời. Bố anh ấy mất sớm từ khi anh còn nhỏ, nên bà mẹ gửi gắm tất cả mọi hy vọng vào anh, một mình bà chắt chiu thắt lưng buộc bụng nuôi anh khôn lớn cho tới ngày học xong đại học.

Tôi đồng ý ngay và lập tức dọn dẹp dành riêng cho bà căn phòng có ban công hướng Nam, vừa có thể sưởi nắng vừa có thể bày vài chậu cây cảnh. Bước vào căn phòng chan hòa ánh sáng vừa dọn xong, anh ấy chẳng nói chẳng rằng bất chợt bế xốc lấy tôi và quay một vòng quanh phòng. Khi tôi sợ quá cào cấu anh xin anh bỏ xuống thì anh bảo:

-Nào, chúng mình về quê đón mẹ nhé!

Chồng tôi cao lớn, còn tôi thì bé nhỏ và thích được nép đầu vào ngực anh. Những lúc ấy, tôi có cảm giác như anh có thể nhét gọn tôi vào túi áo. Những bận hai người tranh cãi nhau mà tôi không chịu thua, anh bèn nhấc bổng tôi lên ngang đầu và quay tít cho đến khi tôi sợ hết hồn xin anh buông tha mới thôi. Tôi thích cái cảm giác vừa sợ vừa sung sướng ấy.

Mẹ anh sống ở thôn quê lâu năm nên rất khó có thể sửa ngay được những tập quán của người nhà quê. Chẳng hạn, thấy tôi hay mua hoa tươi bày ở phòng khách, bà có vẻ khó chịu. Cực chẳng đã, một hôm bà bảo:

-Các con thật chẳng biết chi tiêu gì cả. Hoa có ăn được đâu mà mua làm gì kia chứ?

Tôi cười:

-Mẹ ơi, trong nhà có hoa tươi nở rộ thì ai nấy đều vui vẻ

cả.

Bà cúi đầu lầu bầu gì gì đấy. Chồng tôi bảo:

-Ðây là tập quán của người thành phố, mẹ ạ. Lâu ngày mẹ sẽ quen thôi.

Bà không n