Vũ Sinh Hiên: Câu chuyện của những cây đại thụ - Cha già Vũ Ngọc Bích CSsR

 

 

 

 

 

 

Câu chuyện

của những cây đại thụ

                                                         Vũ Sinh Hiên

1. Hồi ức của

    Linh mục Giu-se Vũ Ngọc Bích CssR

 

 

Vào chuyện

 

DÒNG CHÚA CỨU THẾ (DCCT) có mặt tại Việt Nam từ 1925. Chỉ hai năm sau, các cha đã nghĩ tới việc đào tạo nhân sự cho Dòng, các chú đệ tử đầu tiên đã được thu nhận để được gửi học ở Tiểu Chủng Viện An Ninh (4 chú) hoặc tạm thời cho học ở Huế, cư ngụ trong căn nhà lợp tranh ở vườn nhà ông Đốc Sắc (8 chú). Năm 1928, Đệ Tử Viện Huế được chính thức thành lập với vị giám đốc tiên khởi là cha Eugène larouche, một trong ba vị thừa sai đầu tiên sang Việt Nam (hai vị kia là cha Cousineau và thầy Barnabé). Con số các đệ tử chính thức đầu tiên này là 28, trong đó có chú Trần Hữu Thanh, 13 tuổi.

 

20/7/1954, hiệp định Genève chấm dứt chiến tranh Đông Dương lần thứ I và chia đôi Việt Nam làm hai miền, lấy vĩ tuyến 17 có con sông Bến Hải làm ranh giới. Cha Giu-se Vũ ngọc Bích được Bề Trên chỉ định ở lại Hà Nội, cùng với hai linh mục Canada và hai tu sĩ người Việt, giữa lúc tất cả các linh mục của các dòng tu đều đã rời Hà Nội. Lần lượt hai cha Canada được yêu cầu rời khỏi miền Bắc và hai tu sĩ người Việt qua đời trong trại cải tạo, một mình cha Bích đã kiên cường nhẫn nại giữ đền Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp ở Thái Hà, nay thuộc quận Đống Đa thành phố Hà Nội.

 

Lúc này đây, hai cha Vũ Ngọc Bích và Trần Hữu Thanh đã ở tuổi gần 90 (chú thích của DIA: tính vào năm 2003 khi tác giả ghi lại) đang sinh sống tại cộng đoàn DCCT Hà Nội. Thân xác các ngài đau nhức và mệt mỏi vì bệnh tật và tuổi tác, nhưng trí óc vẫn minh mẫn, bộ nhớ ghi rõ nét từng ngày tháng, từng sự kiện, của Dòng Thánh, của Giáo Hội, của Quê Hương. Câu chuyện của hai cha sẽ là những thước phim quý giá ghi lại những năm tháng đã qua. Tất cả đã là dĩ vãng, đơn thuần chỉ còn là những bài học cho hậu thế. Người kể cũng như người nghe chỉ còn biết tạ ơn và cậy trông vào sự quan phòng của Thiên Chúa. Với hồng ân của Ngài, Ngài đang dẫn dắt Tỉnh DCCT Việt nam, trong yêu thương ân cần.

 

Xin mời hai cha vào chuyện…

Hà Nội, những ngày sau Tết Quý Mùi 2003.

 

Cha Vũ Ngọc Bích kể:

 

Vào đầu thế kỷ 20, một thanh niên tên là Vũ Hài đang giúp cha chính xứ Dưỡng Điềm, mong là rồi đây cha xứ sẽ cho đi học trường Latinh để làm linh mục. Nhưng mẹ của cậu không bằng lòng, bắt cậu về lập gia đình. Cậu Hài và người anh của cậu xây dựng gia đình. Lập gia đình rồi, vợ chồng anh Vũ Hài được cử đi Trí Lộc, xứ Yên Bình để cấy rẽ ruộng nhà chung. Lúc chưa có con, ông Hài đã thưa với Chúa là nếu có con trai sẽ dâng cho Chúa. Con đầu lòng là con gái, ông đặt tên là Vũ Thị Tin. Bốn năm sau ông Hài có con trai, ông đặt tên là Vũ Văn Tín. Chú bé Tín  vẫn thường hay ra đồng giúp bố mẹ coi lúa và đùa giỡn ở cánh đồng như bắt châu chấu, bắt cà cuống, câu cá… Nhà làm ruộng mà không có trâu, ông Hài phải đi thuê. Lên 6 tuổi, cậu Tín được học chữ Quốc Ngữ. Lên 7 tuổi, cậu được một thày kẻ giảng ở Tôn Đạo giới thiệu cậu với cố Tin đang là chính xứ ở đây.

 

Mới ở với cố được hai tháng thì mẹ cậu Tín nhờ một ông chú lên xin cố cho cậu về, bà mẹ nhớ cậu quá. Đó là vào năm 1921. Cậu lại tiếp tục đi học. Đến kỳ hè năm 1923, một ông già đang làm việc tại văn phòng Đức Cha Marcou Thành, một người họ hàng của gia đình đã đổi tên cậu Tín là Vũ Văn Nghị. Ông già này mà cậu Nghị phải gọi là cậu, hỏi ý cậu có muốn đi tu không. Cậu Nghị trả lời rằng thích lắm, nhưng mẹ không cho “Được rồi, để tao vào nói chuyện với mẹ mày”, ông đã thuyết phục được bà mẹ cậu Nghị cho cậu đi theo ông. Hôm sau, ông già dẫn cậu Nghị lên chào cha Kính, cha xứ Yên Bình. Biết được ý định của hai cậu cháu, cha Kính bảo: Thế thì ở đây với cha. Bấy giờ ông già mới nói rằng đã trót hứa với cha Đào, một linh mục mới chịu chức, để cậu Nghị làm con của ngài.

 

Hai cậu cháu lại tiếp tục đường lên Trì Chính, đáp xà-lúp của người Trung Quốc, ngược sông Đáy, lên ga Cầu Yên, vào Thanh Hoá bằng xe lửa. Từ ga Thanh Hoá phải đi bộ 2 cây số mới tới được xứ của cha Đào, xứ Thái Yên. Câu đầu tiên của cha Đào là hỏi tên tuổi, vừa khai tên là Nghị, ngài phán ngay một câu: “Tao đổi là Bích”, cậu Bích cũng chưa hiểu ất giáp ra làm sao thì vài ngày sau cậu tình cờ cậu đọc được danh thiếp của cha xứ: Phạm Bích Đào. Té ra cha bố muốn dùng tên đệm của ngài mà đặt cho cậu. Bích Đào cũng là tên một cái động ở Ninh Bình. Cậu Bích mau lẹ nhập bọn với các chú khác con đỡ đầu của cha xứ. Sau một năm ở Thái Yên, cậu được gửi đi trường Thử Ba Làng. Lớp của cậu năm ấy gần 54 người. Sau ba năm ở trường Thử, cậu Bích theo học trường Latinh Phúc Nhạ trong 6 năm, từ lớp Sáu đến lớp Nhất, như vậy cậu đã tốt nghiệp trường Latinh năm 1933.

 

Trong thời gian học ở trường Latinh, như tên gọi tiếng Latinh là môn chính. Mỗi năm chúng tôi có một cha giáo, dạy đủ môn: Việt Pháp, Toán, Sử Địa… Tôi được gửi về giúp xứ Ninh Bình trong hai năm  từ 1933-1935. Chính trong thời gian này, tôi được ơn Chúa soi sáng và gọi tôi vào Dòng Chúa Cứu Thế. Chính xứ Ninh Bình khi đó là cha Delmas. Tôi trình bày sự việc với ngài, ngài bảo tôi phải cầu nguyện và nếu quả là ý Chúa, ngài sẽ gởi đi Dòng Chúa Cứu Thế, nơi mà mới năm ngoái đây ngài đã gởi cậu Hưng, tức cha Fx Trần Văn Hưng, người cùng quê với tôi. Sau hai năm giúp xứ Ninh Bình, Đức Cha gọi tôi đi học Lý Đoán, ngày nay là vào Đại Chủng Viện. Đức Cha chọn một số để gởi đi học ở Xuân Bích, Hà Nội, trong đó có tôi. Một đàng tôi đến thưa với cha Delmas để vấn kế ngài. Ngài bảo tôi cứ về trình diện với Đức Cha đúng ngày, tức là 14/8/1935. Một đàng tôi vào yết kiến Đức Cha Marcou Thành để xin được học Lý Đoán tại địa phận nhà, Đai Chủng Viện Thượng Kiệm, Đức Cha chấp thuận và nói sẽ tìm thày khác thế chỗ tôi để gởi đi Xuân Bích Hà Nội. Tôi vẫn hằng ngày khấn Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp cho tôi được toại nguyện, đồng thời liên lạc với cha Delmas thuờng xuyên. Tôi nhập học triết học như mọi anh em khác ở Đại Chủng Viện Thượng Kiệm. Ngày 03-10-1935, lễ thánh nữ Tê-rê-sa- Hài Đồng Giê-su, các thày được đi du ngoạn, riêng tôi xin phép cha Giám đốc người Pháp để được ở nhà, với lý do lên gặp Đức Cha, khi đó là Đức Cha Nguyễn Bá Tòng, đặc trách các thày chủng viện. Tôi trình bày vấn đề với Đức Cha, Đức Cha nhìn tôi: “Thày nói chi lạ vậy? Tôi mới chân ướt chân ráo về địa phận, thày xin đi, rồi các thày khác cũng xin đi, tôi biết làm sao đây? Thôi cứ về, học như thường.” Buổi chiều anh em đi du ngoạn về, không ai hay biết chuyện gì. Tôi cũng sang trình bày với cha linh hướng là cha Phan Đình Phùng, khi đó ngài chưa làm Giám mục. Ngài khuyên tôi cầu nguyện và nếu đây là ý Chúa thì việc sẽ thành.

 

Gần đến kỳ nghỉ hè, vào khoảng tháng 05/1936, chúng tôi ôn thi trước lúc kết thúc năm học. Học riêng từng người và chọn nơi nào tuỳ thích: trong lớp, ở nhà cơm, ngoài vườn… Tôi đem sách vở xuống nhà cơm ngồi ở bục đọc sách và ôn bài. Ngó ra ngoài, thấy Đức Cha Tòng đang từ phía phòng cha Giám đốc tiến về phía tôi, nghĩ bụng là thế nào Đức Cha cũng sẽ tạt vào nhà cơm. Quả nhiên ngài vào, tôi đứng dậy, ngài đặt tay lên vai tôi: “Con ở lại với cha nhé!” – “Thưa Đức Cha con đang ôn bài đây”. Tôi đã cố tình thưa lại với Đức Cha bằng một câu rất thật là tôi đang học bài, nhưng ai muốn hiểu sao thì hiểu, trong khi đó cha Giám đốc Phan Đình Phùng lại mách nước cho tôi: “Thày cứ nghỉ hè, rồi nếu “chuồn” được trong kỳ nghỉ thì tuỳ thày. Tam thập lục kế, kế này là thượng sách. Khi vào đến Nhà Dòng rồi viết thư về.”

 

Tôi là người cuối cùng rời Đại Chủng Viện đi nghỉ hè. Tôi xin ông bác ruột của tôi biệt phái cho tôi một thanh niên để dọn đồ, phải gánh hai cái hòm. Tôi dọn sạch, chăn màn, chậu rửa mặt… Ông bác tôi ngạc nhiên, nghỉ hè mà dọn hết đi làm gì. Tôi chỉ xin ông bác tôi giữ giùm, ăn với bác một bữa cơm rồi đi. Hồi còn ở trường Latinh Phúc Nhạ, hễ nghỉ hè là về chỗ cha nuôi, cha Đào, hoặc lên Ninh Bình với cha Delmas. Lần này tôi lên thẳng chỗ cha Delmas với quyết tâm trốn. Ngài đánh điện cho cha Dionne, Bề Trên phụ tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế ở Huế để báo ngày giờ tôi sẽ đến Huế.

 

Ngày 23/6/1936 là lễ quan thày Đức Cha Gio-an Baotixita Nguyễn Bá Tòng. Ngày áp lễ, cha Delmas cho tôi đi theo để mừng lễ Đức Cha. Đến nhà gạo, ngài gửi ô-tô và bảo tôi đợi ở đó, ngài vào một mình, kẻo nếu thấy tôi, Đức Cha lại hỏi chuyện đi, ở thì hỏng cả. Ngày 25/6/1936 tôi đi Huế, dĩ nhiên là bằng xe lửa, chỉ sợ là ở ga Ninh Bình, nếu có cha thày nào bắt gặp thì hỏng cả, bởi thời ấy, khi đi ra khỏi địa phận phải có phép Đức Cha. Cha Delmas bày kế: để vào Thanh Hoá mới đáp tàu. Ngài đưa tôi vào Thanh Hóa bằng ô tô của ngài. Tới Thanh Hóa, trong lúc ngài vào thăm các cha bạn thuộc Hội Thừa sai Paris thì tôi chỉ được phép đóng đô ở nhà ga cho đến lúc tàu chạy để tránh gặp mặt bất cứ ai. Ngài còn cung cấp cho tôi những tài liệu về DCCT để tôi tìm hiểu. Trong suốt năm học Triết ở Thượng Kiệm, anh em thấy tôi đều đặn nhận thư của cha Delmas mà không hề biết được toan tính của tôi.

 

            Ở ga Huế, cha Dumas đợi tôi với chiếc ô tô nhà ông Đốc Sắc. Về Nhà Dòng, điều đầu tiên làm tôi ngạc nhiên là khi đi qua phòng may, nghe chuông đồng hồ đổ, các thày ngừng tay đọc một kinh Kính Mừng, rồi lại làm việc tiếp. Sáng hôm sau, tôi được vào Lăng Cô. Mấy tuần lễ đầu tôi sinh hoạt chung với các chú, đợi sang tháng sau, tháng 7-1936, sẽ đi Hà Nội. Ngày 20-7-1936, tôi đáp tàu về Huế và 2 ngày sau đi Hà Nội. Cha Roméo Gagnon, Bề trên phó Nhà Tập, đón chúng tôi ở nhà ga Hà Nội, thuê 3 cái xe kéo để chở 5 anh em. Cha Boissonneau đang đợi chúng tôi ở cửa, ôm hôn từng người và nói một câu khôn ngoan đầy khích lệ: “ Entrer pour ne pas soritr” ( Đã vào là không ra nữa nhé!). Đến cuối tháng 7 chúng tôi cấm phòng và đến ngày 14-8-1936, chúng tôi mặc áo dòng.

 

Thời gian ở Nhà tập sẽ là 1 năm. Mỗi tuần vào ngày thứ bảy, chúng tôi đọc kinh Phụng Vụ về Đức Mẹ do thánh Bonaventura đặt. Bản kinh gồm 5 ca vịnh bắt đầu bằng một chữ trong tên của mẹ. Chữ M là của Nguyễn Xuân Lộc, tất cả các câu ca vịnh này đều bắt đầu bằng chữ M. Tôi là chữ A. Tôi đưa sáng kiến là hàng ngày, mỗi người đọc ca vịnh có chữ của mình để xin Đức Mẹ ban ơn bền đỗ cho 5 anh em. Tôi còn xin Bà Bề trên dòng kín Cát Minh chỉ định 5 chị để cầu nguyện riêng cho 5 anh em chúng tôi. Tôi nghĩ rằng chúng tôi đã được nhờ nhiều ở những lời cầu nguyện này, mặc dù chúng tôi không biết các chị và các chị cũng không biết chúng tôi.

 

            Trước lúc vào Nhà Tập, chúng tôi được đi khám bệnh tổng quát. Nguyễn Xuân Lộc chớm lao, phải nghỉ 6 tháng, không được cùng chúng tôi dâng lời khấn. Trong 6 tháng ấy, thày Lộc vẫn sinh hoạt kinh nguyện với anh em, sau đó khấn riêng một mình và ra Nhà Tập cùng lúc với chúng tôi ngày 15-7-1937. Vào những ngày 25 mỗi tháng, anh em Nhà tập chúng tôi làm việc kính Chúa Hài Đồng, có nguyện ngắm cuộc đời thơ ấu của Chúa trước hang đá mà chúng tôi dựng mỗi tháng.

 

            Vừa ra Nhà Tập, chúng tôi được được đi nghỉ ở Mẫu Sơn, Lạng Sơn. Hồi đó, chúng tôi đi xe lửa từ Hà Nội lên Lạng Sơn, bởi vì Học Viện cũng ở Hà Nội, do đó tôi được nghỉ tất cả là 6 lần ở Mẫu Sơn. Nhà nghỉ của chúng tôi nằm trên một ngọn đồi trọc, ít cây cối và cảnh quan không được đẹp bằng ngọn đồi của Nhà Dòng ở Đà Lạt. Năm đầu tiên ở Học Viện là thời gian học Triết học, đối với tôi là học lại bởi tôi đã học tại Đại chủng viện Thượng Kiệm. Ở Học Viện, cha giáo của chúng tôi là cha Létourneau. Các sách giáo khoa đều bằng tiếng Latinh, chương trình hồi đó chỉ gồm có 5 năm, 1 năm Triết học và 4 năm Thần học. Chúng tôi được thụ phong linh mục vào ngày 6-6-1942 ở Hà Nội, hồi đó chưa có tập tục về làm lễ Mở tay và tiệc liên hoan ở quê nhà. Tác phẩm thơ “Tiếng đèn chầu” của tôi được sáng tác nhân dịp này, thực ra tôi đã tập làm thơ ngay từ những ngày ở Tiểu chủng viện Phúc Nhạc, bút hiệu Hoàng Thước, tên một loài chim, đã được tôi nhận ngay từ những ngày ở đây, năm 1930.

 

            Tôi thích làm thơ từ hồi còn nhỏ, lúc mới 6-7 tuổi, tôi theo học một ông đồ, ông dạy cả chữ Nho và chữ Quốc ngữ. Ông còn dạy chúng tôi trồng hoa cảnh, tiếp cận với thiên nhiên, những tiếng kèn đồng và tiếng sáo trong dàn nhạc ở quê tôi cũng đã giúp tôi nhiều trong việc sáng tác thơ văn. Thế rồi những buổi dâng hoa, các bài vãn, vè của xứ đạo đã gieo vào hồn tôi một tâm tình thơ đạo:

 

                        Lạy ơn bà thánh trinh đồng

                        Cổ đeo tràng hạt, tay bồng Chúa con

                       

Và cả những câu ca dao đạo:

                       

                        Các thày đọc tiếng Latinh

Các cô con gái thưa kinh dịu dàng

 

            Tôi thích lục bát ngay từ lúc tấm bé là do những vần thơ Đạo trên đây đã gieo vào hồn tôi. Ở trường Thử Ba Làng, chúng tôi được học làm thơ với phương pháp của cha Hồ ngọc Cẩn, dùng lục bát để dạy sáng tác lục bát:

 

            Bình hai sáu tám trắc tư

            Phải lo giữ trọng kỳ dư mặc tình

            Bằng không giữ trọn cho tinh

            Hai trắc bốn bình thế lại cũng xuôi

            Tám trên sáu dưới hòa đuôi

            Sáu còn hòa sáu chẳng nguôi vận nào

 

            Vừa chịu chức linh mục xong, tôi được cử làm phó xứ Thái Hà, năm 1943. Trước tôi chưa có linh mục DCCT Việt Nam nào làm việc ở giáo xứ này, 4 anh em cùng lớp với tôi đều về Huế cả. Lúc đầu các cha Canada còn được đôi chút dễ dãi, sau quân đội Nhật cấm các ngài thi hành mục vụ, một mình tôi làm hết mọi việc như dâng lễ, giải tội, làm các phép. Lúc bấy giờ ở Nhà DCCT Hà Nội có khoảng 10 cha và thày người Canada, các ngài không bị tập trung ở một nơi như đã áp dụng ở Huế, nhưng phải trình diện mỗi tuần. Ngày 15-10-1943, lễ thánh Têrêsa Cả, quân Nhật xin mượn Nhà Dòng để đóng quân, Bề trên lo lắng, chúng tôi đã nghĩ đến việc sẽ phải sơ tán về 1 tu viện anh em nào đó như nhà các cha Đa Minh ở Bắc Ninh chẳng hạn. Tôi được sai đi cùng với 1 huynh trưởng hướng đạo dẫn đường để thăm dò tình hình ở Bắc Ninh, cách Hà Nội 30 cây số, chúng tôi phải đi bằng xe đạp. Đi thì đi, vì vâng lời, nhưng trong thâm tâm tôi vẫn trông cậy vào một giải pháp do Đức Mẹ sắp xếp. Ở Nhà Chung Bắc Ninh, chúng tôi gặp đức cha người Tây Ban Nha, ngài chỉ cho một căn nhà đang xây cách Bắc Ninh 2 cây số, chỉ mới có tường và mái, thậm chí cửa nẻo cũng chưa lắp, không thể ở được, chúng tôi trở về lại Hà Nội. Lần đầu tiên đi xe đạp trên một đoạn đường xa như vậy, tôi mệt mỏi vô cùng, tôi bàn với anh huynh trưởng hướng đạo là ra về bằng xe lửa, anh không chịu. Anh bèn mua một sợi dây thừng và kéo xe của tôi để tôi khỏi phải đạp. Về đến cầu Long Biên, chúng tôi ghé vào uống nước ở nhà một bà cô của anh hướng đạo, được bà cho biết là quân Nhật không có ý định trưng dụng Nhà Dòng Thái Hà nữa. Bà biết được tin này là do bà vừa đi khấn ở đền Đức Mẹ về.

 

            Sau đó, tôi được đi nghỉ 1 tháng ở Ba Vì. Cái bệnh đau lưng của tôi bắt đầu từ hồi này. Tôi đi nghỉ cùng với cha Matthieu, chúng tôi được một người dân tộc tặng cho một cái hũ khá nặng, tôi cố gắng đeo về đến nhà và cột sống của tôi bị ảnh hưởng cho đến ngày nay. Đồng thời với những công việc ở giáo xứ, tôi làm tuyên úy cho đoàn Hùng Tâm Dũng Chí thay cha Trépanier vào Nhà Tập thứ hai. Trong số các đoàn viên thiếu nhi hồi ấy, có một số đã xin vào DCCT mà hiện nay người thì làm linh mục như cha Đăng, cha Hoàng Minh Tuấn, người thì về đời như các anh Nguyễn Hữu Đắc, Vincent Thịnh…

 

            Sau khi đi nghỉ ở Ba Vì về, tôi được Bề Trên chỉ định về dạy học ở Đệ Tử viện Huế mà các cha Đặng Văn Đào, Lê Trung Nghĩa, Hoàng Diệp, cha Phát là những học trò đầu tiên của tôi, tôi dạy Việt văn và Latinh. Ngày 9-3-1944, Nhật đảo chính, tôi đang ở Huế. Đến tháng 10 thì được tin cha Dong bị chết ở Văn Điển, Bề trên lại đổi tôi về thay cha Dong ở Nam Định. Chuyện cha Dong bị tử nạn là như thế này: trưa hôm ấy, khi anh em đang dùng cơm trưa thì có một người đàn bà Pháp đến Nhà dòng nói rằng chồng bà ta đang bị bệnh nặng phải đưa về Hà Nội chạy chữa, bà muốn có một linh mục đi theo để giúp ông về phần thiêng liêng. Cha Laliberté, khi đó là Bề Trên Nhà Nam Định, đề nghị cha Dong lên đường, bởi đã lâu cha chưa về Hà Nội, nay nhân tiện có có xe, cha Dong đứng lên và đi ngay. Khi xe về đến Văn Điển, gần Hà Nội thì bị máy bay Mỹ bắn. Năm 1965, khi phải dời nghĩa trang của Nhà Dòng lên Thanh Tước, con số anh em đang yên nghỉ tại đây tất cả là 10 người. Khi bốc hài cốt cha Dong, chính tay tôi còn nhặt được viên đạn trong hộp sọ của ngài. Ngài cũng gốc Phát Diệm, đã vào Tiểu Chủng viện Phúc Nhạc rồi sau đó xin vào Dòng. Những anh em khác là cha Fizète ( tên Việt là Đức), cha Mitchaud

(người đã xây các cơ sở của Dòng ở Hà Nội: 1931 xây Nhà Dòng, 1935 xây nhà thờ và 1937 xây nhà Học Viện), thầy Antoine( thầy trợ sĩ người Việt), thầy Hiếu (thầy Học Viện, người Phùng Khoang), một thầy ngoài đời dạy học cho đệ tử viện, cha Hiệp (người mà tôi được lệnh Bề Trên hướng dẫn về địa phận Bùi Chu để lãnh nhận chức linh mục từ tay Đức Cha Hồ Ngọc Cẩn. Ngài bị chết năm đói Ất Dậu 1945 khi đi cứu tế đồng bào)… và sau cùng là chú đệ tử, chú Vinh, chết đuối năm 1952, cùng lớp với anh Đặng Hữu Phúc, Vũ Sinh Hiên.

 

            Tôi đáp xe lửa về Hà Nội, đến Đồng Hới xe lửa bị ngưng. Tôi tìm cách vào nhà xứ Đồng Hới, đi bộ giữa lúc trời tối, được nửa đường thì mệt lử. Tôi bèn tạt vào một bót gác, ngủ vật vờ và bị muỗi tấn công suốt đêm. Sáng hôm sau tôi vào đến nhà xứ, nghỉ ngơi vài tiếng đồng hồ, rồi lại mua vé xe lửa tiếp tục đi Hà Nội. Về Hà Nội, nghỉ ngơi mấy ngày, rồi lấy xe đạp đi Nam định. Tôi phải đạp 80 cây số, đến Phủ Lý tôi mệt quá, vào nhà xứ Phủ Lý, gặp Cố Cao ở đây, xin ăn cơm rồi lại đi tiếp. Tôi không thể đạp xe được nữa đành phải thuê xích lô chở cả người lẫn xe. Về đến Nam Định đã chập choạng tối, ngay đầu tỉnh, các gái làng chơi ùa ra chọc ghẹo. Đến Nam Định gặp cha Thính đang ở đây, ngài ở nán lại với tôi vài ngày rồi lại vào Huế dạy học. Cha Toán thay cha Thính ở với tôi. Chúng tôi thường lấy báo ra đọc, đọc rất kỹ Cương Lĩnh của chính phủ Cách Mạng, nhất là đoạn nói sẽ miễn các thứ thuế. Tôi nghĩ bụng làm sao được, Nhà Nước lấy gì mà chi tiêu và tôi nghĩ đây lại là một trò mị dân để thu phục nhân tâm trong lúc khởi đầu cuộc Cách Mạng. Cha Bề trên nhà Nam Định khi đó là cha Francois Laliberté, ngài ở Hà Nội, do đó tôi giữ quyền Bề Trên. Cha Toán và tôi tham gia các cuộc biểu tình của quần chúng, đi bầu Quốc Hội khóa I.

 

            Ở giáo xứ An Phong, chúng tôi duy trì mọi sinh hoạt Phụng Vụ, các giờ hành hương kính viếng Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp như ở Hà Nội. Tôi còn nhớ hồi đó có các ông Phạm Đình Khiêm, Phạm Đình Tân hoạt động Công Giáo Tiến Hành ở đây. Đến tháng 12, cha Bề trên Laliberté về Nam Định với cha Sirois Sĩ. Cha Sĩ ở vài ngày rồi lại trở về Hà Nội cùng với cha Toán. Đêm 9-12-1946, bốn con chó của thày Théophane sủa dữ dằn, hóa ra Tự Vệ trèo cổng vào, đập của từng phòng một, bắt chúng tôi ra đứng ngoài hè, mỗi người chỉ khoác duy nhất một chiếc áo dòng. Họ dẫn chúng tôi về đồn công an huyện Mỹ Lộc, cách giáo xứ độ năm phút đi bộ và giam chúng tôi trong một phòng nhỏ, mọi chuyện đều phải giải quyết trong căn phòng này. Ba ngày sau, chính trị viên đến gặp chúng tôi, yêu cầu chúng tôi đi sơ tán bởi có khả năng Pháp sẽ đổ bộ vào Nam Định. Đi đâu thì tùy ý các cha các thầy nhưng theo ý ông, chỉ có Thái Bình là… thái bình.

 

            Chúng tôi đi bộ từ nhà giam đến bờ sông Nam Định, bến đò Tân Đệ mà bên kia là Thái Bình. Chúng tôi phải ngủ lại bên này sông một đêm, hôm sau đi đò ngang sang Thái Bình gặp Đức cha Santos Ubierna Ninh và xin được tạm trú. Ngài vui vẻ cho sáu anh em chúng tôi tá túc và còn sai người may quần áo cho chúng tôi (bởi lúc ra đi thì “quần nhất bộ, áo nhất manh”). Được vài hôm thì ông Chủ Tịch tỉnh Thái Bình vốn là người Công Giáo vào cho biết là có khả năng Pháp sẽ tấn công sang Thái Bình. Ông đề nghị Đức Cha và chúng tôi nên lánh sang bên kia sông Trà Lý. Tạm thời ở tại Tiểu Chủng Viện Mỹ Đức, khi đó các chú trường Latinh vẫn đang còn học. Chủ Nhật Quasimodo 1946, đang lúc các cố Tây Ban Nha ở tầng trên Chủng Viện thì có mấy anh thanh niên hốt hoảng chạy sang báo tin là quân Pháp đã chiếm Thái Bình. Cầu Bo nối Thái Bình với Mỹ Đức đã bị cấm lưu thông. Mọi người lấy làm lạ vì không ai nghe thấy một tiếng súng nào. Đúng lúc đó, quân Pháp từ Nhà Chung Thái Bình bắn sang Mỹ Đức mấy phát. Sáng hôm sau, mấy anh thanh niên mạo hiểm ra cầu Bo để xem tình hình. Cầu được phép lưu thông, nhưng họ không dám đi trên cầu mà dùng thuyền qua sông. Trên sông nhiều xác chết trôi lềnh bềnh, trong Nhà Chung, vỏ đồ hộp của quân Pháp vất bừa bãi. Ông Chủ Tịch khi gặp chúng tôi đã khoe là quân ta chiến đấu rất giỏi, chỉ tiếc là quân Pháp đến lúc nào mình không biết.

 

            Khi quân Pháp vào Nhà Chung Thái Bình, chúng đuổi hết dân chúng đang lánh nạn ở đây, ông bõ chui xuống hầm, chúng bắn theo nhưng may mắn không hề hấn gì. Còn cha xứ nhà thờ chính tòa, cha Trinh cát, bị quân Pháp bắt vì họ tìm được một lá cờ đỏ sao vàng trong nhà xứ. quân Pháp định đem ngài ra xử bắn. Lúc đó có một sơ Saint Paul, bà Angelique, nói tiếng Pháp giỏi đã đứng ra bênh vực cha và cha đã được bình yên.

 

            Chúng tôi lánh nạn ở Thái Bình mất hai năm. Trong thời gian này địa phận Thái Bình có hai tân linh mục chịu chức ở Tiểu Chủng viện Mỹ Đức. Tôi cũng được quen cha Nguyễn Tri Ân ở đây. Vấn đề của chúng tôi là làm sao về lại Hà Nội. Lúc này quân Pháp đã rút về Nam Định, các sơ Saint Paul cũng về theo. Chúng tôi bàn với nhau là các cha ngoại quốc đi xin giấy thông hành của chính quyền Cách mạng để hồi cư về Nam Định. Riêng tôi có ý định sang Phát Diệm để xin giấy của Đức Cha Lê Hữu Từ. cha Bề trên Laliberté đồng ý. Thế là cha Lượng dẫn một nhóm cứ dọc bờ sông mà đi bộ. Cha Lượng đi qua một đồn quân nhân tự vệ, bị gọi nhưng ngược gió nên không nghe, họ bèn đuổi theo. Trong hành trang của cha có các aó lễ xanh đỏ, họ bảo đây là cờ Tam Tài của Pháp, những người này là Việt gian, cha Lượng sửng cồ cãi lại, thế là họ cho đi. Ngày hôm sau tôi lên đường với một nhóm nữa, tới gần bến đò ngang do Pháp kiểm soát, tôi cũng gặp một nhóm tự vệ. Tôi nói là vừa đi nghỉ hè ở một xứ đạo gần đây, và quả thực gần đó có một xứ đạo. Các anh tự vệ chỉ đường và còn bảo là liệu cách mà qua bến đò Quan do Pháp kiểm soát. Tới đồn của Pháp, tôi dùng tiếng Pháp nói chuyện với một anh lính lê dương, anh ta lắc đầu quầy quậy và chỉ xuống dưới chân đê. Tôi nghĩ là xếp của anh ta ở dưới đó chăng. Tôi gặp một sĩ quan người Pháp, ông ta cấp cho tôi một giấy qua sông. Về nam Định, chúng tôi trọ ở nhà Khoái Đồng của các cha Đa Minh, rồi hai hôm sau thấy các cha Tây Ban Nha từ Thái Bình sang, tôi không hiểu giấy tờ ra sao. Chúng tôi mừng lễ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp ở Nam Định. Từ Khoái Đồng về nhà An Phong rất gần mà không dám về. DCCT Việt Nam mất cộng đoàn Nam Định từ đấy.

 

            Từ Nam Định chúng tôi về Hà Nội bằng đường thủy. Đến bến phà Đen vào một buổi sáng, chúng tôi được biết là đường phố đều đã bị xẻ nát hoặc bị các công sự của kháng chiến ngăn trở. Chúng tôi đành đi bộ về Thái Hà. Về đến Nhà Dòng, cha Trần Đức Khâm là người đầu tiên nhìn thấy chúng tôi, ngài mừng rỡ kéo chuông báo tin cho cả nhà, bởi trước đó cộng đoàn Nam Định bị coi là mất tích.

 

            Công việc đầu tiên tôi được Bề Trên giao phó là chức vụ Phó Bề Trên Nhà Tập mà giám đốc lúc bấy giờ là cha Boucher. Đến tháng 6-1949, cha Antone Tuyên và tôi cho tục bản nguyệt san Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp. Tờ báo này được thành lập năm 1935 mà vị chủ biên đầu tiên là cha Joseph Laplante. Khi đó chưa có các cha Việt Nam, các cha Canada viết bằng tiếng Pháp rồi nhờ người dịch sang tiếng Việt. Sau  đó, nguyệt san đã bị quân Nhật cấm phát hành. Cùng với việc tục bản nguyệt san là việc lập tủ sách Cứu Thế Tùng Thư. “Kẻ nữ tu thánh thiện”, “ Viếng Thánh Thể” là hai đầu sách vốn đã được xuất bản, nay chúng tôi cho tái bản vào dịp này. Trong tủ sách sau đó đã xuất hiện những sách của cha Antôn Tuyên như:”Tìm hiểu kinh Kính Mừng”, “ Ý nghĩa sự đau khổ”,…của cha Hồng Phúc: “ Nhìn lên ảnh Mẹ” và của tôi :” Đường lên núi Thánh”, “ Bước theo Thày”, Cô bé 12”…nhưng kể từ năm 1967 tôi viết khỏe hơn. Cho đến nay, tôi đã có được 123 bài báo và đầu sách, 5 tập thơ Hoàng Thước.

 

            Sau đó, tôi đi dự các cuộc rước Đức Mẹ Fatima, lần đầu tiên là ở Hải Phòng, Quảng Ninh. Đây cũng là lần đầu tiên tôi đến Hải Phòng, rồi những chuyến đi quảng bá cho báo Đức Mẹ, vào tận miền Nam lục tỉnh: Mỹ Tho, Vĩnh Long, Sóc Trăng, Cà Mau, Bạc Liêu,…trong suốt mấy tháng liền. Tôi còn nhớ chuyện xảy ra ở Mỹ Tho trong chuyến đi này. Ở đây chúng tôi có một cổ động viên phát hành là ông Trịnh Công Tấn. Tôi nắm vững địa chỉ và tìm nhà ông không mấy khó khăn. Tiếc một điều là hai ông bà đi vắng, chỉ có hai cô con gái ở nhà tên là cô Sanh và cô Thanh. Tôi tự giới thiệu là linh mục chủ nhiệm. Các cô tiếp tôi vui vẻ. Cô Thanh còn khoe với tôi là mỗi lần nhận được bào, bài đâu tiên cô tìm đọc là  

“Chuyện Sáo”, mà không biết là “sáo của Đức Mẹ” đang đứng trước mặt. Tôi cũng dấu nhẹm điều này. Về Hà Nội, tôi có kể lại chuyến đi trên nguyệt san. Khi viết về câu chuyện ở Mỹ Tho, tôi có thêm một hàng: “Sáo đã cười khanh khách núp sau gáy cha chủ nhiệm”. Tôi hy vọng là cô Thanh khi đọc đến đây sẽ hiểu rằng Sáo và cha chủ nhiệm là một. Đến năm 1952, tôi lại thực hiện một chuyến đi nữa, nhưng lần nay chú trọng vào các tỉnh miền Trung, từ Nha Trang đến Sài Gòn. Tôi dành nhiều thời gian cho tờ báo cho đến khi đi Nhà Tập II năm 1954.

 

Tháng 3- 1954, tôi vào Đà Lạt với dự tính sẽ theo Nhà Tập II trong sáu tháng, cùng với các cha Nguyễn Xuân Lộc, cha Thừa, cha Định,…Tổng cộng là khoảng 10 cha. Cha trần Hữu Thanh khi đó đang giảng bên Thái Lan. Bề Trên Nhà Tập là cha Côté và cha giáo tập là cha Gérard Gagnon. Khi đó ở Hà Nội, cha Antôn Tuyên đã thay cha Boissonneau làm Bề trên nhà Hà Nội và như vậy là cha Tuyên là cha Việt Nam đầu tiên làm Bề Trên nhà. Hiệp định Genève được ký kết, làn song di cư vào Nam bắt đầu ồ ạt. Khi được cha Bề trên Phụ Tỉnh Louis Roy hỏi ý kiến xem những ai muốn về lại Hà Nội, hai cha tình nguyện là cha Bề Trên Nhà Tập II của tôi, cha Côté và cha Paquette khi đó đang ở Huế. Thầy Marcel  Văn cũng từ Đà Lạt về lại Hà Nội với cha Côté. Thầy Clément Đạt hiện đang ở Hà Nội lúc bấy giờ xin được ở lại cộng đoàn Hà Nội. Phần tôi sau khi đã cầu nguyện thì ngày 29-9-1954, lễ Tổng lãnh Thiên thần Micae, tôi là người tình nguyện thứ năm của cộng đoàn Hà Nội. Cha Bùi Quang Diệm đã dí dỏm trêu chọc tôi:”Lo mà rửa cổ đi nhé!”. Lúc này tôi cũng đã gần xong Nhà Tập II, từ Đà Lạt tôi xuống Sài Gòn để lấy vé máy bay đi Hà Nội. Vừa xuống đến Bảo Lộc, tôi gặp mẹ và chị tôi, chị Vũ Thị Tin, mới di cư vào. Lúc ấy tôi mới biết là bố tôi không chịu di cư vào Nam. Người vẫn tiếp tục giúp việc ở Đại Chủng viện Thương Kiệm. Bố tôi qua đời năm 1858. Cũng trong những ngày ở Bảo Lộc, tôi úp mở thưa với mẹ tôi là tôi có việc phải về lại Hà Nội.

 

            Ở Sài Gòn, các chuyến bay dân sự đã ngưng, tôi phải nhờ cha Trần Văn Hưng liên lạc với quân đội Pháp để nhờ máy bay quân sự. Ngày 6-10-1954, tôi đáp máy bay về Bắc, nhưng máy bay phải đáp xuống Hải Phòng rồi dùng xe hơi về Hà Nội. Hai cha Cananda là những người tôi gặp đầu tiên. Tôi bỗng dưng cảm thấy lạnh lẽo hoang vắng trong khu Nhà Dòng mênh mông.

 

            Như vậy cộng đoàn Hà Nội chúng tôi chỉ vỏn vẹn có năm thành viên. Lần lượt mỗi người “ra đi” mỗi cách, bắt đầu thầy Marcel Văn. Một hôm, thầy cùng anh nấu bếp của Nhà Dòng lên Nhà Chung. Khi đi cũng không nói rõ là đi đâu, đến bờ hồ thì hỏng xe. Trong lúc chờ sửa xe, thầy vào một tiệm hớt tóc và trong lúc chờ đợi đến lượt , thầy trò chuyện với những người chung quanh và đã tỏ vẻ thán phục ông Ngô Đình Diệm trong Nam. Trong số những người ngồi nghe, có một người lẻn qua đồn công an gần đấy để báo cáo sự việc. Khi thấy Văn hớt tóc xong, ra lấy xe và chưa kịp nổ máy thì công an ập tới bắt về đồn. Lúc đó chúng tôi đang dùng cơm trưa thì được tin. Đến chiều tôi lên đồn công an tìm hiểu sự việc. Mấy ngày sau chúng tôi được tin là thầy đã bị đưa đi trại giam Mỏ Chén ở Sơn Tây. Tôi có đi thăm nuôi thầy và được gặp gỡ trong vài phút. Mấy tháng sau lại có tin thầy bị chuyển lên Yên Bái. Đến năm 1958, một anh giáo viên gốc giáo xứ Đồng Trì bị giam cùng với thầy Văn được thả về đã kể lại cái chết của thầy. Khi thầy chết chúng tôi có nhận được giấy báo tử, nhưng không rõ chi tiết. Theo lời kể, thầy muốn vượt ngục và thầy đã chia sẻ ý định này với vài người bạn tù. Cán bộ biết được chuyện này và dựng một kịch bản, giả vờ giúp thầy vượt ngục đề nghị thầy hóa trang thành thiếu nữ, đích thân dẫn thầy ra khỏi trại giam vào nhà một ông trùm tại một họ đạo. Ông trùm này sẽ giúp thầy vượt biên sang Lào. Khi người dẫn đường đi khỏi thì hai cán bộ của trại giam ập đến bắt thầy Văn. Thầy bị đánh một trận thập tử nhất sinh và chết dần từ sau trận đòn ấy. Vậy thầy Marcel Văn là người thứ nhất trong số năm anh em chúng tôi đã ra đi.

 

            Người thứ hai là cha Paquette. Hồi đó có rất nhiều người muốn đi Nam, họ đến Nhà Dòng xin giấy giới thiệu của cha Paquette. Đương nhiên trong số này cũng có cả những cán bộ trà trộn vào. Tôi không rõ lắm về những loại giấy tờ này, thật hay giả để có thể đi từ Hà Nội xuống Hải Phòng đáp tàu vào Nam. Ngài lại còn cương quyết không cho treo cờ đỏ sao vàng vào những dịp rước kiệu Đức Mẹ. Tất cả những vụ việc này dẫn đến việc công an rất ghét cha Paquette. Họ tổ chức các cuộc họp nhân dân để tố cáo ngài. Hôm ấy tôi có việc phải xuống Nhà Chung, khi tôi đạp xe qua trụ sở công an Đống Đa bên kia đường thì thấy có cuộc họp của dân chúng khoảng 50 người. Tôi linh cảm là có chuyện liên quan đến cha Paquette, tôi quay xe về và nói nhỏ để ngài lánh mặt. Lúc ấy khoảng 8 giờ sáng. Không khí trong cộng đoàn chúng tôi trở nên nặng nề lo lắng. Y như rằng ngày 19-10-1958, lễ thánh Denis, quan thày cha Paquette, công an đưa giấy triệu tập cha, đòi ngài phải có mặt ở Sở Công an. Sau đó, công an cho người về lấy sách kinh và những đồ cần dùng. Họ đưa ngài lên Lạng Sơn, chỗ biên giới giáp Trung Quốc, họ chỉ đường cho ngài sang Trung Quốc.

 

Thực ra công an hai bên đã có những thỏa thuận ngầm với nhau. Ngài được giúp đỡ mua vé tàu hỏa sang Hong Kong và được các cha Thừa Sai Paris (MEP) giúp đỡ. Rồi cả tháng sau tôi mới nhận được thư ngài gửi qua vali công vụ ngoại giao của Ủy Hội Đình Chiến Quốc Tế. Bấy giờ tôi mới rõ chi tiết sự việc.

 

            Năm 1959,các linh mục ngoại quốc còn ở lại Hà Nội gồm có ba bốn cha thuộc Hội Thừa Sai Paris (MEP), các cha Đa Minh Lyon và cha Côté được tập trung tại 33 phố Nhà Chung và được mời ra khỏi Bắc Việt bằng đường hàng không. Như vậy cha Côté đã phải rời cộng đoàn Hà Nội. Cũng trong năm này, tôi nhận được bài sai làm chính xứ Thái Hà.

 

            Còn lại tôi và thầy Clement Đạt. Thầy Đạt rất năng nổ, giúp đỡ mọi người, nhất là anh chị em giáo dân từ xa về viếng Đức Mẹ vào những ngày thứ Bảy. Có khi có cả ngàn người cư ngụ trong Nhà Dòng. Thế là một loạt những công việc thầy Đạt phải lo toan với sự giúp đỡ của giới trẻ trong xứ: đăng ký tạm trú, cung ứng gạo củi mắm muối. Thầy trở thành cái gai đối với chính quyền. Một kịch bản được dựng lên: một thiếu nữ ngoại đạo ở phố Hàng Bột đến mua sách đạo trong nhà sách do thầy Đạt quản lý. Cô đến gần chỗ thầy, một anh công an đẩy cô về phía thầy, một anh khác chụp ảnh. Tấm ảnh được họ dung làm chứng cứ để tố cáo thầy có những quan hệ bất chính. Đấy là vào năm 1962, thời gian mà những dễ dãi của “chính sách xét lại” đã chấm dứt, bắt đầu gian đoạn khó khăn như tôi sẽ kể sau này. Mấy hôm sau, công an đưa ô tô tới Nhà Dòng. Họ đòi gặp tôi và thầy Đạt, bắt thầy dẫn đi xem các nơi làm việc. Sau một giờ đồng hồ khám xét, họ chở thầy lên Sở Công an, rồi chuyển lên trại giam Yên Bái. Thầy bị giam chung với cha Chính Vinh, linh mục Tổng Đại diện Hà Nội lúc bấy giờ. Thầy vốn bị bệnh bang, đời sống trong tù lại là dịp để căn bệnh bộc phát. Cha Chính Vinh đã giúp đỡ thầy trong cơn hấp hối. Thầy “ra  đi” nhưng tôi không nhận được tin tức gì cũng như giấy báo tử.

 

            Thời gian các cha Côté, Paquette và thày Đạt còn ở cộng đoàn là thời kỳ được gọi là sửa sai, tức là vào khoảng 1956-1957, sửa sai những sai lầm đã qua trong chính sách đã được áp dụng. Thời gian này tương đối dễ dàng, tôi có thể xin giấy phép đi dâng lễ, đi giảng ở Hà Đông, Thạch Bích, thậm chí xa như Bắc Ninh mà vẫn được. Tôi còn nhớ tôi đã về giáo xứ Cẩm Đường thuộc gíao phận Bắc Ninh, ở đây không có cha xứ, chỉ có một chị nữ tu Đa Minh trông coi nhà xứ và Thánh đường. Tôi cũng đã về giáo xứ Thiết Nham, cũng thuộc giáo phận Bắc Ninh. Ở những nơi này tôi thường tổ chức các kỳ Tiểu Phúc trong vài ngày, gói ghém trong những vấn đề giúp giáo dân ăn năn trở lại và thường mỗi bài giảng ngắn gọn trong 20 phút. Tôi chống lại việc lấy của cải của các địa chủ mà phân phát cho những người khác trong thời kỳ đấu tố, cải cách. Tôi yêu cầu những ai đã nhận những đồ này thì phải đem trả lại, giáo dân nghe tôi. Đức Cha Trịnh Như Khuê cũng có gửi một lá thư chung, một lá thư chung rất đặc biệt về lẽ công bằng. Ở giáo xứ Thái Hà, tôi phân phát lá thư này cho giáo dân, nhưng sau đó bị thu hồi.

 

            Cũng trong thời gian tương đối dễ dãi này, tôi đã lên tận Yên Bái để giảng Đại Phúc. Một câu chuyện khôi hài làm tôi nhớ mãi là ở khu tự trị Thái Mèo, khi hát bài “Lạy Mẹ là ngôi sao sáng” và nhân nói đến chuyện “vượt biển thế gian”, các cháu nhỏ người Thái, người Mèo ở đây đã hỏi tôi “thuyền” là cái gì, bởi vì trong đời các cháu chưa hề nhìn thấy, hồi đó vấn đề truyền thông đại chúng, sách báo còn rất hạn hẹp chứ không như hôm nay, với truyền thanh truyền hình khắp nơi. Khi về xứ Nghĩa Lộ của cha Khoa, cha đã bố trí dân chúng ở các họ đạo đến rước tôi. Hai con ngựa dành cho ngài và tôi được dắt đi giữa hai hang giáo dân hoan hô, cứ y như Chúa vào thành Jerusalem vậy. Cán bộ địa phương bực mình lắm về cảnh này. Tôi ở lại Ngĩa Lộ trong suốt 1 tháng mùa Chay, đó là vào khoảng tháng 3 -1957. Sau đó tôi về Phú thọ, giáo xứ Hiền Quan, có 4 giáo họ, giáo họ nào tôi cũng dừng lại, dâng lễ và giảng, giáo dân đi theo nghe. Cha xứ không dám giảng và nói nhỏ với tôi “Sao bạo phổi quá vậy?” , nhưng rồi chuyện gì phải đến đã đến, tôi nhận được giấy triệu tập của công an về thị xã Bắc Giang. Tôi được giấy phép của quận Đống Đa cho đi nhiều nơi, trong nhiều tháng và giấy phép của tôi chưa hết hạn. Hồi đó, Bắc Giang và Bắc Ninh còn là 1 tỉnh, tỉnh Hà Bắc. Ông trùm và tôi lóc cóc xe đạp đến công an Bắc Giang , đợi 2 tiếng đồng hồ thì thấy xe ô tô công an tới, té ra là công an từ Hà Nội lên. Họ bảo tôi là giấy Đống Đa cấp cho tôi là giấy giả và yêu cầu tôi phải trở về Hà Nội ngay ngày hôm sau, ngày lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống năm 1957. Sáng hôm sau, 1 thày kẻ giảng cùng đi với tôi, tới Bắc Ninh ghé ăn cơm rồi đi tiếp, công an bố trí 2 cán bộ đi theo chúng tôi từ đây. Khi chúng tôi qua cầu Long Biên, chúng tôi chủ tâm đi vòng vo xem họ có theo không, thì ra họ vẫn theo. Về đến cổng Nhà Dòng, chúng tôi chưa thèm vào, cố tình đi quá một chút để vào đồn công an Đống Đa trình diện, sau đó chúng tôi mới về Nhà Dòng và 2 anh công an cũng theo chúng tôi về tới đây. Như vậy, tôi đã có chuyến du hành dài từ tháng 3 đến tháng 6 năm 1957. Cũng trong thời gian này, Đức Cha Trịnh Như Khuê, trên đường đi kinh lược các xứ đạo, đã bị chặn xe và tịch thu giấy tờ, từ đó ngài không đi đâu được nữa.

 

            Năm 1959, Ủy Ban Nhân dân quận Đống Đa mà trụ sở ở Hàng Bột mời tôi đến và đặt vấn đề mượn tòa nhà trước đây là Đệ Tử viện để làm trường học. Tôi nói ngay là tôi không có quyền, các ông ấy phải hỏi ý kiến Bề Trên của tôi ở Saigon. Họ trả lời” Ông không có quyền thì chúng tôi có quyền”. Tôi sẽ không bao giờ quên câu nói này. Khoảng 2 ngày sau, họ đến trong lúc tôi đi vắng, có thày Clément Đạt ở nhà, họ làm một tờ giấy và yêu cầu thày Đạt ký tên, họ mời thêm một giáo dân cao tuổi ở đây, ông Cai Tần, vào ký tên, liền ngay sau đó họ đưa học sinh vào. Mới được 1 niên khóa, Ủy Ban đổi ý muốn dung tòa nhà này làm bệnh viện. Lúc đầu còn có một cái cửa ngăn đôi 2 tòa nhà, trước đây là Nhà Dòng và Đệ Tử viện, chúng tôi vẫn cư ngụ bên Nhà Dòng; sau họ nêu lý do bệnh viện quá tải, mượn một số phòng của Nhà Dòng. Đến năm 1972, họ đề nghị để bệnh viện sử dụng toàn bộ Nhà Dòng và họ sẽ xây cho tôi một căn nhà gần nhà thờ. Việc thiết kế và xây dựng ngôi nhà xứ này, tôi không hề được hỏi ý kiến. cấu trúc của căn nhà rất bất tiện, cà 2 tầng trệt và lầu đều được chia thành những phòng nhỏ và nhà vệ sinh ở cuối dãy. Sau này tôi phải đập bớt tường của tầng trệt để làm phòng khách, cũng vậy, ở tầng lầu để làm nhà nguyện, tôi đã phải tu bổ nhiều lần.

 

            Khi mượn cả 2 tòa nhà này, chính quyền không hề đá động gì đến cái ao trước nhà Dòng, tôi vẫn cho thuê để thả cá. Trước đây vùng này chưa có nước máy thì đồng bào quanh vùng vẫn vào đây gánh nước, coi như là 1 cái giếng lớn. Gần đây, bệnh viện định xây một căn tin trên bờ cái ao này, tôi và giáo dân đã phản đối, việc xây cất đành bỏ dở. Tôi vẫn có ý định xin lại tòa Nhà Dòng, vốn được xây từ năm 1931. Ngoài 2 tòa nhà này thì khu nhà chơi của Đệ Tử viện được xây từ năm 1942, 4 góc có 4 phòng để các hội đoàn sinh hoạt. Vào đầu thập niên 50, các phòng này được dùng làm phòng học cho các chú đệ tử. Ông chủ cũ của khu đất này là một người Pháp lai tên Lajustquet đã bán lại cho Nhà Dòng. Tóm lại, trong suốt thời gian đã qua, từ năm 1954 đến nay, tôi chưa hề ký giấy bán hoặc tặng bất cứ cơ sở nào của DCCT Hà Nội cho bất cứ ai.

 

            Sau khi thày Clément Đạt bị bắt, cũng là lúc bắt đầu thời kỳ khó khăn. Còn một mình, trên nguyên tắc tôi không được đi đâu ra khỏi thành phố Hà Nội, nhưng nếu xin thì vẫn được cho và đương nhiên vẫn được theo dõi, ngay những lúc đi rất gần, từ đây xuống nhà thờ Hàng Bột để giải tội giúp cha chiểu mà cũng bị nhóm Liên Lạc Công Giáo(mà tôi gọi lệch Lạc Công Giáo – LLCG) theo dõi sát khiến sau đó tôi phải ra về bằng cửa sau. Giáo xứ Thái Hà bị coi là một ổ gián điệp, những người ra vào thăm tôi đều bị ghi số xe. Tôi bị cô lập, không mấy ai dám lại thăm tôi, tôi chỉ còn 2 người thân cận nhất là 2 ông bõ, 1 ông kéo chuông và 1 ông làm bếp. Những người trong nhóm LLCG trên đây thường được công an nhờ vả mỗi khi có chuyện phải xin ý kiến của tôi. Chẳng hạn dưới thời ông Ngô Đình Diệm ở miền Nam, xảy ra vụ tuyệt thực của tù nhân ở nhà tù Phú Lợi, những người trong nhóm này đến yêu cầu tôi làm lễ cầu hồn cho các tù nhân đã bị chết trong vụ này. Họ còn huy động một số người ở Hàng Bột và Thái Hà đến làm áp lực với tôi. Tôi trả lời là khi làm lễ cầu hồn phải biết là cầu cho ai, tên thánh là gì, chứ bâng quơ nhứ thế này thì để tôi phải xin ý kiến Đức Cha. Đức Cha truyền cho tôi không làm, tôi vâng lời và nhóm trên đây đã vô cùng bực tức. Một lần khác, có một vụ gì đó xảy ra ở miền Nam, họ không yêu cầu tôi làm lễ, họ chỉ đòi tôi kéo chuông để măc niệm. Khi đó, cha Côté còn ở đây, tôi bảo thày Đạt ở nhà còn tôi lên Hàm Long gặp cha Quế. Tới giờ những ông LLCG đến mà không thấy tôi, họ bèn trèo qua cửa sổ vào gác chuông và tự động kéo chuông., không biết các cậu quýnh quáng làm sao mà bị điện dựt, quả chuông chỉ kịp rung lên vài tiếng.

 

            Còn chuyện bị mời lên làm việc là như cơm bữa. Có lần giữa giờ hành hương Đức Mẹ, tôi đang đứng trên bục giảng thì một anh công an sắc phục vào, đến tận chỗ tôi đứng và mời tôi đi giữa sự ngơ ngác của giáo dân. Cũng chẳng có chuyện gì gấp gáp, khi về đồn công an, họ hỏi tôi về việc tiếp đón những người hành hương, trong vài phút, rồi cho tôi về, tôi lại tiếp tục giờ kính viếng Đức Mẹ. Một lần nữa, họ mời tôi đi vào lúc 8 giờ tối, đến nhà một thường dân ở phố Cửa Nam. Gia chủ không có nhà, một anh công an tiếp tôi, hỏi han linh tinh. Sau đó bưng lên cho tôi một bát cháo nóng hổi, tôi cám ơn không ăn vì không có thói quen ăn ngoài bữa, nể lời ép uổng, tôi lấy thìa múc vài giọt trên mặt tô cháo, ở dưới là thuốc độc đấy. Có một anh làm việc ở Ủy Ban Nhân dân quận Đống Đa đã khoác lác nói với bạn bè rằng ở khu Đống Đa này có 2 ông linh muc, ông Chiểu và ông Bích, chúng tôi muốn thủ tiêu lúc nào cũng được. Một tuần lễ sau, trong lúc anh ta ăn cơm ở phố Nam Đồng này thì chết đột ngột.

 

Giữa bao nhiêu thử thách ấy, tôi vẫn điềm tĩnh, trông cậy ở Chúa và… đủng đỉnh trên chiếc xe đạp Trung Quốc khắp đó đây trong thành phố Hà Nội, nhất là đoạn đường từ Thái Hà về Nhà chung, ít nữa 2 lần 1 tuần. Chiếc áo chùng thâm trên chiếc xe đạp đã là hình ảnh quen thuộc ở phố phường. Có lần từ nhà thờ Hàng Bột ra, tôi nghe được một tiếng càu nhàu của một chị bán hàng trước cửa nhà thờ: “Cái ông của nợ này ngày nào cũng gặp”, hình như màu đen đem lại xui xẻo trong việc buôn bán của chị. Một lần khác, vừa từ nhà các sơ Sainte Marie ra, gặp 2 bố con, cậu con hỏi bố :” Ông này là ai vậy?”, chắc có lẽ cháu bé thấy bộ trang phục lạ mắt và hiếm hoi trong xã hội Xã Hội Chủ Nghĩa. Ông bố trả lời: “Ông ấy tu sơ!”. Tôi phục vụ rất nhiều cộng đoàn, dòng tu trong việc ngồi tòa và giảng dạy, kể cả với các cha MEP., các cha Đa Minh mà người rời Hà Nội cuối cùng là cha Lénart. Mới đây ngài có trở lại thăm Hà Nội. Chiếc xe đạp sau đó bị bắt cùng với cháu tôi là Nguyễn Xuân An, khi đó cháu gia nhập hội dòng Emmaunuel. Tôi mua một chiếc xe Phượng hoàng và đạp cho đến lúc không đạp được nữa.

 

            Tôi thường dẫn ca đoàn giáo xứ Thái Hà đi tham dự các ngày chầu lượt của các giáo xứ quanh đây hoặc đi du ngoạn vào những ngày lễ lớn, ngày nghỉ Tết. Cái chuyện đi đâu cũng đem theo cả đoàn con cái như vậy là điều không được công an ưa thích. Năm 1960, có ông Quang (em cha Đăng- DCCT) vào ở đây với tôi, giúp tôi các việc trong xứ, ngoài chuyện học hành với tôi, với hy vọng có thể gầy dựng Ơn gọi mới trong hoàn cảnh mới này. Hôm Chầu lượt ở xứ Kẻ Bạc thì ngày hôm trước tôi có rao ở nhà thờ để các em ca viên chuẩn bị cho chuyến đi. Sáng chủ Nhật, công an vào rất sớm, bảo là có biết dự định của tôi, đi Kẻ Bạc với ca đoàn. Họ tung tin là giáo dân Kẻ Bạc đang bận lao động nước rút, sẽ không có thì giờ tiếp đón cha con chúng tôi. Tôi định bụng sẽ đi nơi khác và nói ý định này với anh Quang. Ra đến cổng, chúng tôi rẽ phải đi Kẻ Sét (làng Tám), anh công an ngồi ở cổng ngỡ ngàng hỏi chúng tôi :”Cứ đi à?” – “ Cứ đi chứ!” anh Quang trả lời , nhưng anh công an hiểu là chúng tôi cứ đi Kẻ Bạc. Anh đi theo về tận Kẻ Bạc, còn chúng tôi chơi quanh quẩn ở nhà thờ làng Tám, vào chầu Mình Thánh rồi ra về. Ngày hôm sau, gặp ca đoàn ở Cửa Bắc, các anh các chị nói là chờ mãi ở Kẻ Bạc mà không thấy Thái Hà đến. Tôi hiểu là công an đã có ý đánh lừa cha con chúng tôi để cuộc gặp gỡ  ở Kẻ Bạc sẽ bớt đông đảo. Như tôi đã kể trên đây, giáo xứ Thái Hà chúng tôi và giáo xứ Hàng Bột là hàng xóm. Ca đoàn Hàng Bột đông đảo, trong khi Thái Hà chúng tôi ít người, một số ca viên của Hàng Bột có lên cộng tác với chúng tôi. Một lần, ca đoàn Thái Hà chúng tôi cũng “xuất hành” như mọi khi, trong ca đoàn có một anh ca viên Hàng Bột cùng đi, sau đó anh bị bắt đi cải tạo, chết trong trại giam, vợ anh vẫn còn sống ở Hàng Bột.

 

            Riêng cá nhân tôi, thỉnh thoảng cũng làm một chuyến đi xa, như có lần tôi đi thăm cha Khoa (anh của cha Thiện, hiện là chánh xứ nhà thờ Camelo – Tân Bình- TP.HCM) ở xứ Phú Nghĩa, huyện Thạch Thất, Hà Tây. Trước khi đi, tôi có cẩn thận báo với công an quận Đống Đa và dĩ nhiên họ báo cho sở. Tôi đi với 2 người ở Phùng Khoang là ông Giảng và ông Lợi. Chúng tôi đi bằng 2 xe gắn máy. Công an sở theo chúng tôi bằng ô tô, nhưng họ không vào nhà xứ Phú Nghĩa mà lên thẳng huyện Thạch Thất. Nửa giờ sau, công an huyện Thạch Thất đến nhà xứ hỏi giấy tờ, tôi bảo chỉ có CMND. Họ bảo linh muc đi đâu thì phải có giấy riêng, giấy CMND thì không đủ. Họ yêu cầu tôi để lại CMND và ra về ngay. Tôi chấp hành. Về đến nhà, có một anh công an của Đống Đa tức giận bảo chúng tôi là phải lên sở mà lấy lại CMND, nhưng rồi mấy ngày sau họ đem trả tôi đủ. Tôi còn tập hợp các bài “Chuyện Sáo” in thành tập và phát cho giáo dân đọc. Công an Hà Tây bắt gặp một tập ở nhà một giáo dân, họ báo cho công an Đống Đa và công an Đống Đa đã khám xét nhà tôi. Ngoài các sách báo về đạo, có các sách phê bình cộng sản bằng tiếng Pháp, họ tịch thu những quyển sách này. Một lần khác, công an sở đưa xe mời tôi lên sở làm việc rồi lại đưa xe trả tôi về Nhà Dòng. Bà con giáo dân lo lắng không biết chuyện gì. Thực ra cũng là vấn đề sách báo và đòi khám xét nhà. Như vậy 2 lần tôi bị kiểm tra hành chánh về vấn đề sách báo. Một trong 2 lần đúng lúc có một anh trong ca đoàn đang giúp tôi ở trong phòng, anh bị buộc phải quay mặt vào tường trong lúc công an thi hành nhiệm vụ.

 

            Những chuyến đi xa khác thường của tôi nữa là chuyến về quê nhà Phát Diệm, như có lần về dâng lễ cầu nguyện cho tổ tiên. Đó là vào năm 1974. Khi đi qua nhà thờ Tôn Đạo, tôi định bụng sẽ rẽ qua Dưỡng Điềm, quê tôi. Luôn có người đi xe đạp theo sau. Tôi vào nhà xứ đúng lúc cha chính xứ, cha Luật, không có nhà, tôi bèn vào nhà một giáo dân gần đó, không ngờ lại là nhà của một LLCG. Đến lúc cha xứ về, chúng tôi đang trò chuyện thì công an đến hỏi giấy, tôi đưa CMND, anh công an bảo phải có giấy tờ gì khác nữa, bởi vì tôi là linh mục. Cha Luật tranh cãi với anh công an bởi vì trời đã tối, tôi được chấp thuận cho ngủ lại. Sáng hôm sau, sau khi đã hành lễ, từ Dưỡng Điềm tôi đi Phát Diệm bằng thuyền. Đến Trì Chính, tôi nghỉ chân ở nhà một người quen thì công an lại vào hỏi giấy tờ, còn tôi, tôi đang có ý định đi Cồn Thoi, anh công an lại yêu cầu tôi dời Phát Diệm ngay. Chị chủ nhà biện bạch, yêu cầu để tôi cơm nước đã rồi hãy đi. Lời yêu cầu này được chấp thuận. cơm nước xong, tôi thuê xích lô về Cồn Thoi, phải đi qua Ty công an Phát Diệm và tôi vẫn bị theo dõi. Chập tối thì tôi đến nhà xứ Cồn Thoi. Sáng hôm sau tôi dâng lễ rồi lại đi thăm 2,3 gia đình họ hàng. Chiều đến, có một chị Mến Thánh Giá mời tôi lưu lại để sáng hôm sau hãy đi Phát Diệm. Sau cơm tối, công an đến cả chục người như quân dữ đi bắt Chúa vậy. Tôi được mời về đồn và cùng đi với tôi có một anh cựu đệ tử, anh Du, chúng tôi được đưa xuống một cái thuyền cùng với 2 anh công an để về Phát Diệm, thuyền đi suốt đêm, muỗi mòng được bữa no. Ở đồn công an, người ta trách chúng tôi là đã không vào xin giấy tờ để đi Cồn Thoi, chứ nếu có xin giấy thì họ đã lo liệu mọi chuyện tốt đẹp. họ nói vậy thôi. Chuyến về Phát Diệm này tôi tởn đến bây giờ.

 

            Tuy nhiên, tôi vẫn còn có dịp trở về quê Phát diệm mấy lần nữa. Năm 1981, Đức Cha Phó giào phận Phát Diệm là Đức cha Nguyễn Thiện Khuyến qua đời. Đức cha Phaolo Bùi Chu tạo muốn tôi làm Giám mục Phó cho ngài, tôi cùng thế hệ chủng viện với ngài, tôi học dưới ngài 4 lớp. nhưng chính quyền Phát Diệm vẫn chưa xóa được ấn tượng về Đức Cha Lê Hữu Từ, một linh mục dòng. Mỗi lần Đức Cha Tạo nhắc đến yêu cầu này, chính quyền đều trả lời: “Cụ cứ từ từ, thế nào rồi cũng sẽ có”. Năm 1987, chính quyền ở Nam Định (khi đó là tỉnh Hà Nam Ninh ) trả lời với Đức Cha Tạo là tìm ở trong tỉnh linh mục nào cũng được, còn cụ Bích ở xa quá chúng tôi không nắm vững. Đức Cha Tạo hội ý với Đức Hồng Y Căn và Đức Cha Sang, cả hai vị đều nhất trí là phải hy sinh một linh mục Hà Nội thôi. Thế là cha Nguyễn Văn Yến, chánh xứ Gia Trạng (Kẻ Chanh), được đề bạt vào chức vụ này. Kẻ Chanh là giáo xứ tận cùng của địa phận Hà Nội, lại rất gần Phát Diệm, chỉ cách một chuyến đò ngang.

 

            Trong những năm chờ đợi giải quyết việc Giám mục Phó Phát diệm thì xảy ra việc cha Nguyễn Thế Vịnh qua đời. Ngài là chủ tịch Ủy ban Liên Lạc Công Giáo, là gốc Phát Diệm, xuất thân từ Đại Chủng viện Thượng Kiệm, học trên Đức Cha Tạo 1 lớp. Trong lúc đưa xác cha Vịnh về quê quán Phát Diệm, tôi xin được quá giang xe của Ủy ban LLCG, bây giờ đã đổi thành Ủy ban Đoàn Kết Công Giáo(ĐKCG), trên xe mọi người trong Ủy ban nhìn tôi với ánh mắt không mấy thiện cảm. Đến Phát Diệm, ban tổ chức bố trí các khách về dự tang lễ cư ngụ trong một ngôi nhà ở Trì Chính. Cha già Phaolo Nguyễn Chu Trình nói nhỏ với tôi để gợi ý là cả hai chúng tôi nên vào Nhà Chung nghỉ, nhân thể vấn an  Đức Cha Chính. Nhưng có một anh ĐKCG nhất định không cho tôi đi, năn nỉ tôi ở lại với phái đoàn. Sau này, tôi mới vỡ lẽ ra là nếu để tôi vào Nhà Chung với cha già Trình, sợ rằng Đức Cha Tạo sẽ phong chức chui cho tôi. Sáng hôm sau, trong lễ tang, Đức Cha Tạo chủ tế, Đức Cha Phạm Tần (giáo phận Thanh Hóa) đứng bên phải và bên trái, Đức cha chỉ tôi mà không phải là cha Tổng Đại diện Trịnh Quang Thiều hoặc cha già Nguyễn Chu Trình. Cánh ĐKCG ngồi hàng đầu xì xầm là đã làm Giám mục đâu mà ngồi cao thế! Buổi chiều về lại Hà Nội, tại trụ sở của Ủy ban ĐKCG, có nhiều linh mục, cả các vị từ miền Nam ra, các nữ tu và giáo dân ăn uống bừa bãi, nói năng lung tung. Tôi không tỏ thái độ gì, tôi chờ tàn tiệc để nhờ xe về lại Thái Hà.

 

            Lễ truyền chức Giám mục cho cha Guise Nguyễn Văn Yến ở sân nhà thờ Phát Diệm, tôi có dự. Như vậy tôi được về lại Phát Diệm quê tôi tất cả 5 lần: 2 lần dự tang lễ 2 Đức cha Phó Lê Quý Thanh và Nguyễn Thiện Khuyến, 1 lần về dâng lễ cầu cho ông bà tổ tiên, 1 lần dự đám tang cha Nguyễn Thế Vịnh và lần cuối là lễ phong chức Đức Cha Yến. Xong lễ phong chức thì có tin chính thức tại sao tôi không được chấp thuận làm Gíam mục Phó Phát Diệm. Có 3 lý do:

  1. Ông Bích là linh mục dòng, cũng như ông Từ (Lê hữu Từ) trước đây. Ông ấy sẽ đi theo vết xe của ông Từ.
  2. Ông Tạo đã bướng, ông Bích cũng bướng, làm sao mà lèo lái cả 2 ông một lúc được?
  3. Riêng ông Bích có tội nặng lắm là đã tổ chức rước kiệu Đức Mẹ Fatima ở Thái Hà. Bây giờ ông ấy về Phát Diệm cũng rước Đức Mẹ Fatima nữa thì rách việc. (Đức Mẹ Fatima đã từng phán là nước Nga sẽ trở lại).

 

Kể từ khi đất nước được thống nhất, tôi đã có 3 lần vào thăm miền Nam. Nhưng trước những chuyến thăm này, tôi không thể quên được một chuyến rất vui. Đó là vào năm 1976, anh Nguyễn Hữu Đắc, một cựu đệ tử DCCT và cũng là một đoàn viên Hùng Tâm của tôi như tôi đã kể trên đây. Anh đến thăm Nhà Dòng Kỳ Đồng, gặp một cha nào đó có nói một câu: “cha Bích ở Hà Nội mà chết thì không biết lấy ai mà thay”. Anh Đắc nghe lõm bõm, câu được câu chăng, anh không nắm được chữ  mà” rất quan trọng  trong câu nói. Vài hôm sau, anh lên Tân Hà, Bảo Lộc và tung tin là cha Bích chết rồi. Thế là bà con ở đây quyên tiền xin lễ cầu hồn cho tôi. Vài ngày sau, ông trùm xứ Phùng Khoang là ông Trần Văn Thông vào thăm mẹ đang ở Tân Hà, người người xúm lại hỏi thăm về tôi, mới vỡ lẽ ra tôi còn sống. Các bà bèn bảo nhau giấu nhẹm chuyện này, thôi thì dầu sao một lễ sống cũng bằng một đống lễ chết.

 

      Đến năm 1980, tôi được cha Lê trung Nghĩa, Bề Trên giám Tỉnh đón vào thăm miền Nam. Nhân dịp này, tôi định bụng là sẽ đến thăm một người cháu vừa mới được thụ phong linh mục, khi đến nơi thì người cháu cũng vừa vượt biên ra nước ngoài. Hiện cháu tôi vẫn tiếp tục làm linh mục ở Mỹ. Cũng trong lần thăm viếng này, tôi lên Bảo Lộc chơi thăm lại bà con làng nước. Đây là lần thứ hai tôi ghé Tân Hà, Bảo Lộc. Lần thứ nhất là vào năm 1954, trước lúc trở ra Hà Nội, tôi đến chào mẹ và chị mới di cư từ Bắc vào. Lần thứ hai tôi vào thăm miền Nam là năm 1988, lần này tôi có gặp cha Anton Tuyên, khi đó đang ở giáo xứ Trung Đồng , Rạch Dừa, Vũng Tàu. Khi tôi về lại Hà Nội thì được tin cha Tuyên qua đời.

 

      Chuyến vào Nam lần thứ ba là vào năm 1990 để sẽ đi Roma chữa mắt. Chuyện con mắt của tôi là như thế này: Vào một buổi chiều khoảng 5 giờ, năm 1987, tôi đang ngồi đánh máy ở phòng ăn, bản dịch cuốn sách về lòng sùng kính Trái Tim Chúa. Khi đó, trời đã xâm xẩm tối, tôi ngại bật đèn và cố gắng dán mắt vào trang sách; bỗng dưng tôi nghe giật một cái nhè nhẹ, trời tối sầm lại, hai mắt tôi bị lòa từ giây phút ấy. Tôi không đọc được sách nữa và chỉ còn nhìn thấy sự vật lờ mờ. Tôi chạy chữa ở Hà Nội, thuốc tây, thuốc ta nhưng các bác sĩ và các thày lang đều bó tay. Đức Cha Nguyễn Văn Sang gợi ý với tôi là nên ra nước ngoài để chữa chạy xem sao. Nguyện ước của tôi cũng phải đợi trong vòng 3 năm, từ 1987- 1990. Vào Saigon, tôi gửi điện cho thày Placide, đang làm việc ở Nhà Dòng Mẹ Roma. Thày lo cho tôi mọi chuyện, kể cả việc mua vé. Tôi có đem theo tiền từ Hà Nội vào, nhưng lại trao cho ông chủ tịch Hội đồng giáo xứ Vũ Ngọc Đang đem về, bởi tôi không phải tiêu pha gì. Trên máy bay, tôi lại may măn gặp 2 sơ Vincent de Paul đi cùng chuyến, các chị đỡ đần tôi nhiều chuyện.

 

      Tôi đến Roma ngày 22-8-1990, sau khi làm tất cả các xét nghiệm y khoa, các bác sĩ cũng không phấn khởi lắm và nói rằng nếu tôi muốn mổ thì mổ chứ không hy vọng. Mà quả thật sau ca mổ con mắt của tôi vẫn lờ mờ cũng còn đủ để phân biệt người nọ với người kia. Cái hạnh phúc lớn đối với tôi trong thời gian lưu lại Lamã là được hai lần được đồng tế với Đức Thánh Cha, được trao đổi với ngài một hai câu. Lần đầu trong thánh lễ dành cho Việt Kiều nhân kỷ niệm ngày phong thánh cho 117 vị tử đạo việt Nam. Hôm ấy tôi được đồng tế với Đức Thánh Cha, được ngài ban tặng cỗ tràng hạt và ngài đã làm dấu thánh giá lên đôi mắt của tôi. Lần thứ hai là do sự sắp xếp của thày Placide và của Đức ông Trần Ngọc Thụ, tôi được đồng tế với Đức Thánh Cha và được ngài tặng cho một tràng hạt nữa. Thật là một điều thiều xót nếu tôi không kể đôi điều về thày Placide. Thày được Tỉnh dòng Việt Nam gửi sang công tác bên nhà mẹ Roma có lẽ đã trên ba chục năm rối. Thày vẫn vui vẻ nhanh nhẹn, trẻ trung như hồi nào. Thày lại giỏi vi tính, thành thử công việc của thày tôi thấy rất khoa học. Tôi đã được thày đỡ đần nhiều trong những ngày lưu lại nhà mẹ ở Roma. Xin cám ơn thày Placide rất nhiều. Năm 1991 tôi về lại Việt Nam sau chuyến đi ra nước ngoài mà vì hai con mắt không tinh tường nên cũng chẳng thăm thú đước nhiều nơi, chẳng hạn như khi đến Pháp tôi rất muốn kính viếng Đức Mẹ Lộ Đức mà không thành. Tình trạng đôi mắt tôi cũng không khá hơn lúc đi, và đến khoảng 1997-1998 đôi mắt của tôi hoàn toàn mù.

 

      Đến năm 1992, khi mừng lễ Kim khánh linh mục, tôi đâm ra đau ốm nặng, tôi rất muốn từ chức chính xứ Thái Hà. Tôi trình bày vấn đề với cha Giám tỉnh Lê trung Nghĩa và trả xứ lại cho Đức Hồng Y Phạm Đình Tụng. Cũng trong năm này, qua nhiều vận động, thày sáu Trịnh Ngọc Hiên DCCT đã được chấp thuận chuyển ra học ở Đại chủng viện Ha Nội. Thày được thụ phong linh mục ngày 10-6-1994. Lập tức, tôi bàn giao cho tân linh mục và ngài đã vững vàng thay tôi cho đến hôm nay.

 

      Tôi ước ao nhà nước chấp nhận nhiếu anh em DCCT về đây làm việc , không đông như ngày xưa nhưng ít nhất cũng ba bốn anh em nữa. Một mình cha Trịnh Ngọc Hiên thì vất vả quá, mà ngài lại không bao giờ từ chối điều gì, tận tâm quá sức lẽ mình. Ngày 10-06-2002 vừa qua nhân kỷ niệm ngày ngài chịu chức, tôi bắt chước cụ Hồ mà tuyên bố:”Đâu cần cha Hiên có, đâu khó có cha Hiên” mà thật vậy, đâu mời ngài cũng đi, ngày cũng như đêm. Tôi ước ao mở rộng nhà thờ sang phía cái hồ và lấy lại ngôi Nhà Dòng để làm cơ sở sinh hoạt cho giáo xứ.

 

      Ước ao thì cứ ước ao, có thành hiện thực hay không là do thánh ý chúa và nỗ lục của anh em trong dòng. Phần tôi, lúc nào cũng trông cậy và lạc quan.

 

 

ĐỨC HỒNG Y

PHAOLÔ GIUSE PHẠM ĐÌNH TŨNG KỂ RẰNG….

 

Năm 1954 các cha DCCT ở Thái Hà vào Nam hết, kể cả cha Bề Trên Antôn Tuyên. Khi cha Vũ Ngọc Bích trở lại Hà Nội thì tôi đang làm chính xứ Hàm Long. Gặp ngài tôi có nói là có lẽ đây là do Chúa Thánh Thần soi sáng để ngài về giữ Nhà Dòng, giữ lấy đền Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp và giữ lấy xứ Thái Hà. Tôi nhớ có lần cha Bích lên nhà Chung, vai đeo bị, tay chống gậy. tôi hỏi: “Cha già đi đâu đấy? – Con lên để trả lại xứ Thái Hà cho địa phận”. Tôi bảo là không được, tôi đề nghị cha già bị gậy sang Ban Tôn giáo, nói với họ là lo liệu cho Thái Hà một cha xứ khác thay cha già. Tôi không nhận là vì giữa địa phận và Nhà Dòng đã có thỏa thuận rồi, xứ Thái Hà không thuộc quyền trông coi của địa phận nữa mà là của Nhà Dòng. Nhân cơ hộ ấy, sau nhiều vận động thì thày Trịnh Ngọc Hiên đã được gia nhập Đại chủng viện Hà Nội tiếp tục việc học, lãnh nhận sứ vụ linh mục ở đây và về tiếp tay cha già ở Thái Hà cho đến nay.

 

      Thái Hà sẽ trở thành trung tâm hành hương, do đó cần phải đòi hỏi để được mở rộng, mở rộng đường vào, mở rộng nhà thờ ra hướng cái ao. Còn nhân sự thì phải tăng cường Ơn Gọi, lúc này đang khá dồi dào, gửi vào Sài Gòn đào tạo rồi về làm việc như thày Thật, thày Phong ngày nay. Những khó khăn hôm nay thì đành phải vậy thôi. Công việc của Đức Mẹ thì rồi Đức Mẹ sẽ soi sáng an bài.

 

 

ĐỨC CHA F.X. NGUYỄNG VĂN SANG, GIÁM MỤC THÁI BÌNH KỂ RẰNG…

      Nói chung, DCCT đối với tôi có nhiều liên hệ. Hồi còn nhỏ, là học sinh, con nhà có đạo, tôi hay đến đền Đức Mẹ Hằng Cứu khấn vái, xin thi đỗ…Tôi có một chú em tên là Dung đã từng học ở Đệ Tử viện trong vài năm nên tôi cũng thường đi lại thăm hỏi. Năm 1954, khi đi di cư, gia đình tôi gửi đồ đạc ở DCCT. Trước đó tôi đã học hai năm ở Sài gòn, tôi theo chủng viện Xuân Bích di chuyển từ Hà Nội vào, rồi 1955 tôi tình nguyện trở về Hà Nội. Cha già Bích cũng trở về Hà Nội như tôi, tuy không đi cùng chuyến bay. Ở cộng đàon DCCT Hà Nội dần dần các cha Cananda bị trục xuất, các thày Marcel Văn và Clement Đạt bị bắt, chỉ còn lại một mình ngài. Người cuối cùng trong số các linh mục ngoại quốc bị trục xuất là cha Lorry, dòng Đa Minh. Trước đó có cả Đức Khâm sứ và cha thư ký của ngài.

 

      Cha Bích gặp nhiều khó khăn, cũng như tôi, bởi chúng tôi đã ở trong Nam một thời gian trước lúc trở về Hà Nội, do đó đã gây thắc mắc cho nhà cầm quyền. Lúc ấy tôi đang học lớp triết 2 Đại chủng viện thì Đức Cha Trịnh Như Khuê kêu gọi tình nguyện trở về địa phận, có một mình tôi về Hà Nội. Những năm tháng đầu cũng khó khăn lắm. Tôi bị công an mời làm việc, họ cứ cho là có nhiệm vụ gì từ trong Nam. Tôi tiếp tục học hành, gặp gỡ cha Bích đều đặn vì ngài thường xuyên lên Nhà Chung. Ngài là cái kho hiểu biết, thơ văn hay, tin tức nhiều. Sau đó tôi được biết ngài là chủ bút tờ nguyệt san Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp khi viết bài ký bút hiệu SÁO. DCCT Hà Nội gặp nhiều khó khăn không những chỉ vì do cha Bích từ trong Nam ra mà còn vì nhà nước vốn nghi ngờ các dòng, thứ nhất là dòng Tên, thứ nhì là DCCT. Dòng Tên không có ở Hà Nội. Đặc biệt là cha Paquette bị nghi ngờ là đưa người đi di cư, các cha khác bị vạ lây, chứ cá nhân của cha Bích thì hiền lành, giảng dạy sâu sắc, dí dỏm.

 

      Tôi chịu chức linh mục năm 1958. Tôi chỉ đi coi xứ trong thời gian ngắn rồi về làm thư ký cho Đức Hồng Y Trịnh Như Khuê. Cha Bích và tôi là hai linh mục chuyên giảng cấm phòng cho các Dòng. Hễ ngài ốm đau, có khi đang giữa tuần cấm phòng, ngài cho tìm tôi, tôi lại “nhảy dù” xuồng thay ngài. Hai anh em chúng tôi vui vẻ cộng tác.

 

      Khi tôi làm Giám Mục kiêm Giám đốc Đại Chủng viện, tôi mời ngài dạy và làm cha giải tội cho các thày trong bảy tám năm. Đại chủng viện Hà Nội vẫn tiếp tực sinh hoạt từ 1954 – 1960. sở dĩ đến năm 1960 bị tạm ngưng là vì có vấn đề nhà nước yêu cầu dạy chính trị trong Đại Chủng viện. Năm đó Đức Hồng Y Phạm Đình Tụng làm Giám đốc, cha Bích và tôi đều là giáo sư. Các Đấng không đồng ý vấn đề này. Khi Đức Hồng Y Trịnh Văn Căn làm Giám đốc Chủng viện, ngài tỏ ra mềm mỏng hơn. Ngài lập luận rằng mình là người Việt Nam, là công dân Việt Nam thì nếu có phải học Hiến pháp, Luật pháp việt Nam thì cũng là điều đương nhiên thôi. Đức Hồng Y Căn chấp nhận điều kiện này, chấp nhận luôn việc giảng viên nhà nước vào dạy. Ngược lại giáo phận sẽ có thêm linh muc, Đại Chủng viện sẽ đươc mở cửa lại năm 1965. Năm 1975, vấn đề này cũng được đặt ra cho các Giám mục miền Nam, cũng đã thảo luận nhiều và bây giờ thì tất cả các Đại Chủng viện đều có một chương trình giống như Đại Chủng viện Hà Nội.

 

      Hồi đó hầu như tất cả các địa phận miền Bắc đều tập trung học ở Hà Nội cả. Học trò của cha Bích và tôi ở rải rác khắp các địa phận. Cứ mỗi thứ tư, anh em linh mục chúng tôi lại họp mặt ở Nhà Chung. Cha Côté là cha giải tội của Đức Khâm Mạng. Thấy Đức Khâm Mạng lo lắng bối rối quá lẽ, chúng tôi đùa gọi cha Côté là “Redempterroriste”, do đã khủng bố Đức Khâm Mạng quá chăng! Riêng cha Bích lúc nào cũng hiền lành, thông minh, giỏi giang, khiêm tốn và kiên nhẫn. Người hiền lành đến độ có lúc bị đánh giá là quá mềm mỏng đối với những âm mưu vây quanh.

 

      Làm Giám Mục rồi, tôi vẫn thân tình với ngài, nhất là thời gian sau này, lúc ngài đau ốm nhiều, mù lòa, phải đi nước ngoài chữ chạy. tôi vẫn tiếp tay với ngài trong việc giúp đỡ những người nghèo và những người không đủ điều kiện đáp lại ơn kêu gọi. Rất nhiều người ngày nay trở thành linh mục, tu sĩ, nữ tu…. Là do sự nâng đỡ của ngài. Tôi thường xuyên đến thăm hỏi ngài, nhất là những lúc ngài ốm đau, kể chuyện cho ngài nghe. Nhưng nhiều khi chính ngài lại là người kể cho tôi nghe, bởi ngài năm một chỗ, nghe radio tin tức nhiều, giáo dân vào kể cho ngài nghe. Ngài là nguồn tin tức.

 

      Cái công lớn của cha Bích có thể tóm gọn như sau:

  1. Duy trì DCCT trong những năm khó khăn phức tạp. Không có ngài thì đã không còn Nhà Dòng ở Hà Nội hôm nay. Công này lớn lắm.
  2. Duy trì ơn kêu gọi cho các Nhà Dòng, Chủng viện…
  3. Về phương diện văn hóa, ngài sáng tác thơ văn truyền giáo, cho in ấn và phân phối.

 

Ây là chưa kể về phương diện thiêng liêng, tuy người nằm một chỗ nhưng vẫn là tấm gươngsáng về sự kiên nhẫn, các việc lành phúc đức người làm thì chỉ có Chúa biết . Lúc còn khỏe, chỉ với chiếc xe đạp trung Quốc màu đen, đi đi về về Nhà Chung một tuần hai lần, giúp đỡ giải tội, là cha linh hồn của Đức Hồng Y Trịnh Văn Căn và của nhiều Giám Mục khác. Hết giải tội lại giảng dạy, lúc nào ngài ốm thì tôi thay, tôi là “phó” của ngài. Cũng cần phải nói là tại vì người quá hiền lành mà một thời gian trước đây đã bị một số giáo dân kề cận lợi dụng. Còn ngài vẫn một mực hiền lành và thương yêu.

 

            Giáo xứ Thái Hà trước đây cũng như bây giờ là một giáo xứ lớn, thu hút giáo dân không chỉ ở Hà Nội mà còn khắp miện Bắc này. Tất nhiên phải giúp đỡ giáo xứ này hoàn thành nhiệm vụ đối với sự tín nhiệm của giáo dân. Đó là điều mà các Bề trên của Dòng trong Nam cần phải chú ý, đề ra một hướng phát triển, để giáo xứ trở thành bàn đạp cho việc truyền giáo. Tất nhiên là phải tăng nhân lực, ít nữa là phải có ba linh mục ở đây. Tôi biết những khó khăn về hộ khẩu, về hành chính. Trong Hội Đồng Giám Mục, chúng tôi cũng đề cập vấn đề này rất nhiều với các cáp chính quyền. Các vị nắm đằng chuôi cả : hộ khẩu. Nhưng tôi vẫn nghĩ là mình phải tìm nhiều cách, cách này không được thì cách khác, ví dụ cứ lâu lâu một vài vị trong Nam ra ngoài này giúp đỡ cha Hiên, đó là điều rất tốt. Các cha trong Nam thỉnh thoảng nên về thăm quê, ở lại vài tháng, thiếu gì việc để làm, dâng lễ giải tội,…rồi hễ xin được gì thì cứ xin. Tôi nói với mấy ông ở Ban Tôn Giáo là có lẽ tôi là người ra vào Ban này nhiều nhất, làm phiền quý vị. Các Đấng phải tìm hết mọi cách. Tôi nhận thấy ở Hà Nội có hai nơi là Thái Hà và Hàm Long quy tụ được nhiều giáo dân, nhất là giới trẻ. Tôi cũng hay về Hàm Long, với tư cách là Chủ tịch Ủy ban Giáo Dân của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam. Tôi không giảng, tôi dạy giáo lý, rất đông người tới nghe, cả công an cũng đến nghe. Không sao cả. Phải tìm cách giảng đạo. Tìm cho ra sáng kiến.

 

DÌ BASILE TÔN NỮ THỊ NGA, DÒNG THÁNH PHAO- LÔ KỂ RẰNG…

 

            Tôi sinh năm 1911, ở Huế. 20 tuổi đi tu, 23 tuổi mặc áo dòng và được sai về dạy học ở Nam Định rồi Bắc Ninh, Hải Phòng, sau cùng là Hà Nội. Năm 1954, Bề Trên cho các sơ trẻ dưới 40 đi Nam. Tôi tình nguyện ở lại. khi đó ở Hà Nội chúng tôi có cả thảy 18 chị em, trong đó có bốn, năm bà người Pháp. Năm 1960, các bà người Pháp này đều bị trục xuất khỏi Bắc Việt. ở Hà Nội, những cơ sở chủ yếu của Dòng Thánh Phao- lô thuộc tỉnh dòng Đà Nẵng là bệnh viện Saint Paul, trường Sainte Marie, cô nhi viện Hàng Bột là chỗ tôi ở từ trước đến nay và một vài nơi khác nữa nuôi trẻ mồ côi, trẻ lai Tây.

 

            Trong những năm sau 1954 ấy, thỉnh thoảng có đại sứ Pháp đến thăm và giúp đỡ chút đỉnh. Bà Giám Tỉnh khi đó là bà Madeleine Lê Thị Đông. Chúng tôi gặp nhiều khó khăn vì các cuộc thăm viếng này. Bà Đông bị bắt đi tù, tôi đi tiếp tế, cách Hà Nội khoảng 40 cây số, đi xe đạp cùng với mấy em. Rồi đến lượt tôi bị mời lên “làm việc”. Họ bảo là tội của tôi nặng lắm, nặng hơn cả của bà Đông nữa. Bởi tôi đã dịch thư cho ông Dooley (tức Đức Khâm Mạng) từ các vali công vụ ngoại giao, nguồn liên lạc duy nhất lúc bấy giờ. Nhưng họ cho biết là Nhà Nước khoan hồng, tôi phải đái tội lập công, trong Dòng, trong Giáo Hội có gì thì phải kể ra. Tôi trả lời là không bao giờ tôi nói, không bao giờ tôi làm điều này. Các ông muốn bỏ tù tôi thì bỏ tù. Họ giận dữ, nhưng sau hơn một giờ, họ lại nhỏ nhẹ: “Bà đừng kể gì cho ai nhé”. Rồi họ bảo tôi ở đây (cộng đoàn Hàng Bột) có một mình, nhà cửa quá rộng , họ đề nghị tôi lên Sainte Marie mà ở với những chị em khác, để nhà cho họ. Tôi bảo là người tu hành, nhà cửa này là của Hội Dòng, tôi chỉ là bề dưới được chỉ định trông coi, chứ bản thân tôi một túp lều cũng đủ. Họ đành chịu.

 

            Với cha Bích hồi đó, chúng tôi là hàng xóm với nhau. Ngoài việc cha đền đây giải tội dâng lễ cho chúng tôi (trong nhà khi đó có hai chị em, một bà già mất năm 1985), khi giáo dân có chuyện vui buồn trong gia đình, họ mời cha và tôi, cả hai cha con cùng đi, cùng góp mặt, chứ còn ai nữa đâu ở vùng Hàng Bột – Thái Hà này. Họp mặt trận, cũng lại hai cha con.

 

            Tạ ơn chúa đã gìn giữ hai cha con chúng tôi cho đến ngày hôm nay.

 

     

                 

 

 

           

 

 

 

 

 

 

Comments