Tin Tức‎ > ‎

2012-08-14: 50 năm cung hiến thánh đường Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp – Huế

VRNs (14.08.2012) – Thừa thiên Huế – Kết hôn nét đẹp dáng Đông phương,

Tầng cổ lầu chuông tháp nguyện đường.

Vươn thẳng trời cao hồn tín hữu,

Kính hoa ngũ sắc cười trong sương. (sưu tầm)

 

 

HÀI HÒA KIẾN TRÚC ĐÔNG – TÂY

Thánh đường Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp thuộc phường Phú Nhuận, Thành phố Huế, nằm trong một thế đất có hình tam giác được hình thành bởi hai con đường Nguyễn Huệ – Nguyễn Khuyến giao nhau. Nhà thờ nhìn về hướng Đông, trông ra đường Nguyễn Huệ chạy xuống ngã tư chợ An Cựu.

Nếu đi theo hướng từ Nam ra Bắc, vào đến thành phố Huế, vừa qua chợ An Cựu gặp ngã tư rẽ trái vào đường Nguyễn Huệ, từ đàng xa khách hành hương có thể tận mắt chiêm ngưỡng một quang cảnh tổng thể của ngôi Thánh đường Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp. Ngay tại đỉnh tam giác của khuôn viên Thánh đường là tượng Chúa Cứu Thế uy nghiêm, hai tay chỉ vào Trái Đất, bàn tay xòe ra, rộng mở như muốn ban muôn ơn lành cho nhân loại. Tiếp sau tượng Chúa đến tiền đường nhà thờ là một khoảng sân rộng. Một không gian mở ra như chào đón và mời gọi con người bước vào trong cõi thánh thiêng với Thiên Chúa.

Tiền đường nhà thờ nổi bật là một mảng gương màu sắc dịu và ấm áp, viền vàng bao bọc nền xanh. Xung quanh mảng gương màu là một xâu chuỗi nhiều hạt, rải đều, như nhắc nhở mọi tín hữu, con cái Mẹ Hằng Cứu Giúp siêng năng lần hạt mân côi. Muốn thấy hết vẻ đẹp của tiền đường nhà thờ, phải nhìn từ lòng nhà thờ nhìn ra. Vào những sáng đẹp trời, khi nắng hồng vừa lên, không quá rực rỡ mà cũng không quá gay gắt, những mảnh gương lắp lánh một màu tươi sáng như vừa được nhúng dưới nước đưa lên. Mảng gương màu hiện rõ dưới ánh nắng ban mai, tạo nên một không gian sâu lắng và dịu dàng trong Thánh đường. Nếu những ai để tâm hồn lắng đọng khi chiêm ngắm tiền đường nhà thờ, sẽ thấy mình như được nâng lên cao và tan biến trong một không gian thánh thiêng và tận hưởng những phút giây hiệp thông dịu vời với Thiên Chúa.

Muốn thưởng thức thêm vẻ đẹp của Thánh đường Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, chúng ta phải nhìn từ hai phía tả hữu nhà thờ. Mỗi cánh nhà thờ là một quần thể kiến trúc Đông – Tây hài hòa và xinh xắn: Những chiếc tháp nhỏ kiểu Tây phương xen lẫn với những mái ngói uốn lượn dáng rồng Đông phương nằm thành từng cụm, gần gũi khắng khít. Bên dưới mỗi tháp nhỏ là một khuông kính màu cao vút, thanh nhã. Dưới tầng mái cuối cùng là những ô cửa bằng đá hình vòng cung, trông thật mạnh mẽ và huyền bí. Càng nhìn càng bị cuốn hút vào nét đẹp của nó.

Trung tâm nhà thờ xuất hiện kiêu hùng một ngọn tháp ba tầng hình bát giác, với ngọn tháp cao vút như chạm đến mây trời. Ba tầng tháp nằm chồng lên nhau gần gũi, trông như đình chùa Việt Nam, nhưng lại kèm theo một chóp tháp cao vút kiểu kiến trúc Gô-tích. Một điều thật thú vị, nếu đứng trên tầng 3 của tháp chuông ta có thể quan sát được toàn cảnh thành phố Huế, với núi Ngự sông Hương tạo cho xứ Huế một phong cảnh thật nên thơ và hữu tình.

Huế ơi thương biết mấy cho vừa

Quê người thèm tiếng võng ban trưa

Thương Huế thu vàng chiều nắng nhạt

Giọng hò vời vợi vắng xa đưa

Huế đó tình đây còn muôn thuở

Núi Ngự sông Hương vẫn đợi chờ

Tuy xa nhưng vẫn gần gan tấc

Thương hoài áo lụa, nón bài thơ.

                                       (sưu tầm)

Ngọn tháp ba tầng này được làm bằng sắt do hãng Eiffel thiết kế và xây dựng. Ngôi Thánh đường nguy nga, với chiếc tháp cao vút hướng thẳng trời xanh, như muốn bày tỏ ước nguyện của con người luôn vươn tới cõi vĩnh hằng. Khi nhìn tổng thể ngôi Thánh đường, sẽ mang đến cho người xem một điều thật tuyệt vời cũng nằm trong ý tưởng thiết kế: nhà thờ có 9 tầng mái ngói. Có lẽ các bậc tiền nhân muốn gợi lên ý nghĩa: khi bước vào ngôi Thánh đường này là con người đang đi vào “thiên giới”, vào cõi của Thiên Chúa, như người ta thường nói: “chín tầng trời”.

Nếu với vẻ ngoài nguy nga tráng lệ kia làm khách thăm sững sờ, thì khi vào bên trong khách lại còn được thả hồn phiêu diêu hơn nữa. Lòng nhà thờ rộng thoáng, với vẻ kiến trúc và bố cục của nó đưa đến một tâm tình tôn giáo đặc biệt đó là cầu nguyện. Bạn thử ngồi một mình giữa lòng nhà thờ thì sẽ thấy mình nhỏ bé thế nào! Tất cả những kêu căng, tự phụ, ganh đua ồn ào… của con người ở bên ngoài, dường như bị biến tan trước vẻ cao siêu, trầm lắng và huyền nhiệm này. Chính nơi đây, con người được khơi gợi đi sâu vào trong nội tâm của mình.

Gần và giáp Cung Thánh, các đường cong uốn lên, mềm mại và chụm lại với nhau, gợi lên trong lòng người xem hình ảnh những bàn tay đang chắp lại. Những bàn tay đá thật trang nghiêm, trong một tư thế tĩnh lặng như không bao giờ biết mệt mỏi, cứ giơ cao và khép lại nguyện cầu.

Bao quanh Cung Thánh là hệ thống gương màu rực rỡ. Vào buổi chiều, khi nắng phía Tây chiếu vào, những mảng gương hiện lên một màu chói chang, nóng bức. Tượng Thánh giá với hình Chúa chịu treo trên đó, nằm trong một vùng sáng đến chói lòa, thật gợi hình và xúc cảm, đưa người xem đến bối cảnh lịch sử của chiều Thứ Sáu, chiều mà Con Thiên Chúa chịu kết án đóng đinh vào Thập giá. Ngước nhìn lâu, người ta sẽ được đưa vào cõi hủy mình ra không của Thiên Chúa làm người trong sự dâng hiến trọn vẹn.

 

HOẠCH ĐỒ KIẾN TRÚC

Trước khi có ngôi Thánh đường nguy nga tráng lệ này, giáo xứ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp – Huế có một nhà nguyện nhỏ, nay là nhà Hội quán làm nơi hội họp và phòng học, nằm phía sau ngôi Thánh đường hiện nay.

Căn cứ vào vài chỉ dẫn niêm yết ở phòng thánh, được biết: “Ngôi Thánh đường này dâng kính Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp. Đã được khởi công vào tháng 01-1959 và khánh thành (xức dầu và cung hiến) vào ngày 12-8-1962.

Hoạch đồ do Kiến trúc sư Nguyễn Mỹ Lộc thiết kế.

Việc đốc công do Tu sĩ Bùi Văn Khắc, Dòng Chúa Cứu Thế đảm nhận với sự hợp tác của 150 tay thợ.

Kích thước Thánh đường như sau: Đỉnh tháp cao: 53m, mái cao nhất: 32m, chiều dài trong lòng: 70m, bề ngang trong lòng: chỗ rộng nhất 37m, chỗ hẹp nhất 16m.

Tổng cộng sở phí theo thời bấy giờ là 47 triệu đồng (lúc bấy giờ giá vàng khoảng 3.000 đồng 1 lượng).

Đặc điểm ngôi Thánh đường:

Không có cột. Trừ các đòn tay và rui được làm bằng gỗ, mái lợp bằng ngói, phần còn lại đều bằng xi-măng cốt thép hoặc bằng đá xanh. Tháp bát giác có 3 tầng và một chóp, tất cả đều bằng sắt do hãng Eiffel lãnh thầu. Ở tháp có 4 quả chuông (nặng 1,5 tấn) được điều khiển bằng điện và có hệ thống tự động. Hai bên nhà thờ có hai hiên rộng 4m có thể làm lối rước kiệu khi thời tiết xấu. Bàn thờ chính bằng đá cẩm thạch lấy tại Ngũ Hành Sơn (Đà Nẵng), mặt bàn thờ là một khối đá nguyên (dài 3,6m; rộng 1,2m; dầy 0,2m).

Với ý tưởng của các nhà thết kế muốn có một Thánh Đường bên ngoài đồ sộ như một thành trì Trên Núi, mà bên trong lại sáng sủa, thanh nhã, hiếu khách và trang nghiêm. Khả dĩ biểu hiện được phần nào uy quyền và dung nhan của Người Trinh Nữ, Mẹ Hằng Cứu Giúp.” (Trích vài chỉ dẫn – niêm yết tại phòng áo Nhà Thờ).

 

ĐÔI NÉT LỊCH SỬ HÌNH THÀNH GIÁO XỨ

Giáo xứ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp Huế trực thuộc Dòng Chúa Cứu Thế – Huế và thuộc Giáo Phận Huế.

Năm 1923, đáp ứng lời mời gọi của Tòa Thánh muốn có một hội Dòng chuyên lo giảng cấm phòng cho giáo sĩ và giáo dân tại Đông Dương, Thánh Bộ Truyền Giáo đã giao công việc này cho Dòng Chúa Cứu Thế đảm nhiệm, và Bề Trên Tổng Quyền giao lại cho tỉnh Dòng Sainte Anne de Beaupré – Canađa phụ trách. Ngày 14.10.1925, ba vị thừa sai tiên khởi: cha Hubert Cousineau, cha Eugène Larouche và thầy Barnabé rời Canada lên đường đến ViệtNam. Ngày 30.11.1925 các Thừa Sai đặt chân đến Huế, tạm trú ở Tòa Giám Mục, đời Đức Cha Allys đến ngày 26.10.1926. Sau đó các ngài ngụ tại nhà ông bà Đinh Doãn Sắc ở đường Hàm Nghi nay là Trần Phú. Và Tu viện Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam được chính thức thành lập ngày 25.3.1929 với thánh hiệu bổn mạng là Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, và cha Hubert Cousineau được cử làm Bề Trên đầu tiên của Tu viện DCCT Huế.

Do nhu cầu giáo dân ngày càng đông, ngày 05.06.1954 Giáo phận Huế đã ký bản hợp đồng với Dòng Chúa Cứu Thế, quy định ranh giới địa lý và giao cho Dòng coi sóc Giáo xứ với tên gọi là Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp.

Thuở ban đầu giáo xứ có một Nhà Nguyện bên cạnh Tu Viện. Nhu cầu giáo dân ngày càng đông, nên ý tưởng về một ngôi nhà thờ lớn, bề thế nguy nga được đặt ra. Đó là Thánh đường Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp hiện nay với kiến trúc pha lẫn Âu-Á, mang dáng dắp Tây phương và Đông phương, phảng phất tân-cổ, nổi bật hồn dân tộc Việt Nam. Nhà thờ mới được xây trên khu đất hình tam giác, nguyên là một đám ruộng nằm bên phải Nhà thờ cũ, với khuôn viên rộng thoáng, có tượng Chúa Giêsu Cứu Thế, hai tay chỉ vào Trái Đất, bàn tay xòe ra, rộng mở như muốn ban muôn ơn lành cho nhân loại.

Vào tháng 01 năm 1959 nhà thờ được khởi công xây dựng, và ngày 12-08-1962, Ðức Giám mục phêrô Máctinô Ngô Ðình Thục đã xức dầu hiến thánh nhà thờ và bàn thờ. Kể từ đó, các hoạt động tông đồ – mục vụ luôn được duy trì. Đặc biệt là việc hành hương kính Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp được tổ chức đều đặn vào mỗi chiều thứ bảy hằng tuần.

Theo lời kể của các bậc cao niên trong xứ: Giáo xứ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp Huế gồm những giáo dân từ các họ đạo Xuân Thiên, Hà Thanh, Hà Úc, Quy Lai, Vĩnh Lại… vào những năm chiến tranh (1945 – 1954) đã di tản lên Huế, ở dọc hai con đường Nguyễn Khuyến và Nguyễn Huệ, bao quanh là đồng ruộng và ao hồ. Cùng một số giáo dân ở các vùng khác nữa, như các huyện Phú Vang, Phú Thứ, Quảng Điền, Hương Thủy, Hương Trà, Phong Điền… tất cả họ là những người dân vì lý do thời cuộc hoặc kế sinh nhai, đã đến quy tụ và sống gần nhau làm thành họ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp.

Vào những năm 1960, 1968 và 1975 lại có thêm những đợt di dân mới đến, họ định cư ở cánh đồng An Cựu, và Họ đạo lại mở rộng và đông thêm. Đến năm 1994 cha Bề trên Micaen Nguyễn Đình Lành đã cho một số giáo dân mới đến có hoàn cảnh khó khăn ở ngay trong phần đất nhà Dòng.

Họ đạo Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp có thể nói là một Họ đạo tập hợp giáo dân của nhiều Giáo xứ khác góp về. Họ đã đến và sống nương tựa bên nhau, gần gũi và khắng khít. Dẫu thời gian có vô tình đến mấy, dẫu cuộc đời có khắt khe hay bạc nhược, và dẫu cuộc đời có bạo tàn nhiễu nhương, thì lòng người cũng vượt lên tất cả để cùng gánh vác nhau, cùng thông cảm nhau mà bước tới. Người ta thường nói: “Đất lành chim đậu”! Với Giáo xứ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp thì “đất lành” ở đây phải được hiểu là cái tình gắn bó của lòng người với mảnh đất cùng chung chia cảnh ngộ. Để rồi từ đó hình thành nên một xứ đạo, mà trung tâm của nó là ngôi Thánh đường, với những nét kiến trúc khắng khít và gần gũi làm thành một quần thể thống nhất, thể hiện được mối tình liên kết của từng người con trong xứ đạo, cho dẫu là đến từ nhiều phương trời khác nhau.

 

KHÚC QUANH LỊCH SỬ

Ngày 26-03-1975, thành phố Huế chuyển mình sang một khúc quanh lịch sử. Những biến cố trọng đại xảy đến chớp nhoáng, dồn dập. Dân chúng và các Tu Viện tại Huế di tản tán loạn vào miền Nam. Nhưng sau này, nhiều người lũ lượt kéo nhau về lại. Sau biến cố 1975, Tu Viện Dòng Chúa Cứu Thế Huế chỉ còn vỏn vẹn hai linh mục và một thầy: cha Micaen Nguyễn Ðình Lành, cha Phêrô Hoàng Diệp, và thầy Fidéli Nhuận, một cha làm Bề Trên, một cha làm quản xứ, còn thầy phụ trách phòng thánh và đoàn Lễ sinh.

Công việc mục vụ lúc này chỉ còn thu hẹp trong ngôi thánh đường, đặc biệt chú ý đến việc trang bị các kiến thức giáo lý cho mọi thành phần giáo hữu: giới gia trưởng, các bà mẹ gia đình, giới trẻ, thiếu nhi. Mặc cho sự biến loạn của thời cuộc, việc kính Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp vẫn tiếp tục đều đặn. Hai cha cứ luân phiên nhau, người này giảng, người kia giải tội. Trong bối cảnh này đã nảy sinh các buổi hòa ca, dao ca, do cha nhạc sĩ Hoàng Diệp chủ xướng, với sự cộng tác của nhiều Giáo xứ bạn, nhằm mục tiêu thu hút lương dân đến nhà thờ. Trong các buổi hòa ca và dao ca đó, luôn có một bài giảng ngắn gọn, súc tích nhằm riêng cho lương dân. Hình thức truyền giáo này đã được rất nhiều giáo xứ bắt chước, áp dụng trong các dịp lễ lớn.

Thật là một hồng ân mà Mẹ Hằng Cứu Giúp dành riêng cho con cái Mẹ: Ngày nay, nhà thờ tọa lạc trên một vị trí thông thoáng, dù ai đi ngược về xuôi ở bất cứ hướng nào cũng đều nhìn thấy rõ. Và biết đâu, một cái nhìn về phía thánh thiêng có thể làm cho con người thay đổi, hay chí ít cũng làm an lòng khách thập phương.

 

VẾT NỨT THỜI GIAN

50 năm nhìn lại với bao thăng trầm, ngôi Đền Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp Huế vẫn giữ được vẻ nguy nga tráng lệ. Có một thời vàng son vang bóng với các thừa sai Dòng Chúa Cứu Thế trẻ trung và năng động. Ngôi thánh đường này là trung tâm lui tới của mọi thành phần trong Giáo Hội và xã hội, để kín múc nguốn sức sống thiêng liêng. Rồi đến thời chiến tranh loạn lạc, ngôi đền Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp này lại dang cánh tay nhân lành ôm ấp và bảo vệ những người con khốn khổ dưới mưa bom lửa đạn. Như người mẹ hiền ấp ủ con thơ, dù cho đạn pháo có xé nát thịt xương, thì Mẹ Hằng Cứu Giúp vẫn kiên cường đứng vững để che chở cho đoàn con của Mẹ được an lành. Chiến cuộc đã đi qua, để lại cảnh heo hút và điêu tàn, nhưng với sự kiên trì của các thừa sai còn lại đã dần khôi phục ngôi thánh đường, và các hoạt động mục vụ trong giáo xứ được hình thành theo một cách thức mới trong xã hội mới.

Năm 1994 cộng đoàn Dòng Chúa Cứu Thế Huế được tăng cường thêm nhân lực. Đến năm 1997 tường rào bao quanh Tu Viện và nhà thờ được xây dựng. Và năm 1999 thánh đường được sơn mới. Kể từ đó, mặc cho thời thế đổi thay, giáo xứ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp Huế đã bắt đầu lại những công việc mục vụ ngày càng mạnh mẽ và sinh động. Tu viện và nhà thờ Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp Huế lại trở nên một trung tâm lui tới của nhiều người thuộc mọi giới, mọi thành phần xã hội như thuở ban đầu.

50 năm tọa lạc trên đất cố đô, trải qua nhiều biến động của lịch sử, ngôi đền Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp tráng lệ, cũng không tránh khỏi sự rạn nứt, hao mòn và đã dần xuống cấp. Chiến tranh đã khốc liệt, thiên tai cũng không kém. Thêm vào đó là thời tiết khắc nghiệt của xứ Huế: mùa nắng thì héo tàn cây cỏ, mùa mưa lại dầm dề suốt tháng. Ngôi đền được ví như một thành trì trên núi năm nào, giờ đây cũng phải chịu cảnh nứt nẻ, dột thấm và ẩm ướt của những cơn mưa dai dẳng. Đứng trước dịp kỷ niệm 50 năm cung hiến Thánh đường, hưởng ứng lời mời gọi của cha Bề trên chánh xứ, mọi thành phần dân Chúa đã hăng hái tham gia tu sửa hàng rào bao quanh nhà thờ. Nhưng với ngôi Thánh đường nguy nga rộng lớn kia, việc tu sửa vẫn còn nhiều khó khăn. Cho đến bây giờ, điều đó vẫn còn là một ước nguyện.

Tuy vậy, ngày nay nằm trong lòng thành phố Huế, nhà thờ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp và tu viện Dòng Chúa Cứu Thế vẫn luôn giữ được nét cổ kính, rêu phong, hiền hòa và êm đềm. phảng phất vẻ đẹp của “lối xưa xe ngựa hồn thu thảo.”

DCCT Huế
Comments