LỜI MỞ ĐẦU
“Chắc chắn hiện đang có sự mất mát khủng khiếp về ý nghĩa của Ki-tô giáo. Và, sự hiện hữu của giáo hội cũng đang thay hình đổi dạng. Rõ ràng, xã hội xưa nay thấm nhuần đạo đức Ki-tô giáo lúc này đây đang nứt rạn thành từng mảnh. Trong hoàn cảnh đó, tương quan xã hội và Giáo hội cũng đang có biến chuyển và chừng như đang hướng dần về một hình thái xã hội hết chất Ki-tô. Đạo của Đức Ki-tô không còn tạo được sự canh tân nơi tư duy chung của xã hội nữa.” (Lời của Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI khi ngài còn làm Hồng y trưởng Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin đáp lại với ký giả Peter Seewald đăng trong sách Muối Cho Đời do Phong trào Giáo dân Việt nam hải ngoại ấn hành năm 2006)
Trong bối cảnh xã hội như trên và từ một hối thúc âm ỷ và triền miên nào đó, tác giả Trần Ngọc Mười Hai vẫn tiếp tục viết chuyện phiếm đạo đời trong tư thế của một nhân chứng trước những diễn biến như thác đổ của kiếp người thuộc thế kỷ 21. Đề tài chuyện phiếm đạo-đời dưới ngòi bút của Trần Ngọc Mười Hai vẫn gần gũi - thân quen, khác nào như tin tức thời sự mỗi ngày. Có khác chăng, vì đó được Tin Mừng soi dọi. Mở tập sách Chuyện Phiếm Đạo-Đời, nguời người sẽ bắt gặp những vấn nạn của đời thường, như: chuyện sống đạo không chỉ bằng lời nói, mà còn phải bằng chính đời sống của mình nữa (Anh đi về đâu mà bụi đường …); hoặc, đâu là vai trò đích thực của Đức Mẹ (Đấng Trung gian Cầu bàu …) hay như chuyện chiến tranh và đâu là bình an đích thực (An ninh, an bình và bất an); và, thế nào là niềm vui đi Đạo... khi bị thử thách? khi Chúa không nhậm lời? (Diù nhau đi chung một niềm thương); vấn nạn về cái chết (Bàn tay đưa anh ra khỏi lòng người) và thế nào là cầu xin? (Nguyện cầu hay xin xỏ).
Hình thức mà Trần Ngọc Mười Hai chọn để chuyên chở những suy tư Đạo-đời của mình, thường được khởi đầu bằng một giòng nhạc quen thuộc nào đó như :
- Nếu vắng anh, ai dìu em đi trong chiều lộng gió. - Rồi mai, tôi đưa em xa kỷ niệm.. ; hoặc - Em, ngồi đây với anh trong cuộc đời này; và - Đêm qua chưa mà trời sao vội sáng..vv..và vv…
Tiếp theo là các trích dẫn Tin Mừng của thánh sử nào đó, như Matthêu đoạn 7, câu 20 trong bài: Nếu vắng anh .., chẳng hạn. Kiểu cách trình bày như vậy, khiến có nguời thắc mắc là làm sao mà trong Tin Mừng của các thánh sử lại có những câu ca mùi mẫm như vậy. Đúng! làm sao trong Tin Mừng theo thánh Matthêu mà lại có câu “Nếu vắng anh, ai dìu em đi trong chiều lộng gió” cho được? Thế nhưng, cái giả thiết “Nếu vắng anh ..” lại chính là tình huống được đặt ra để tác giả dẫn người đọc vào câu chuyện sống của mình. Chẳng thế mà, khi kết luận cho bài viết, tác giả nói rõ hơn là “Nếu vắng anh, hay nếu vắng Cha, vắng Thày, thì ai sẽ dìu chúng ta đi trong chiều lộng gió …. của đời người.
Đó là cách thức nhẹ nhàng và bóng bảy, mà có lẽ chỉ thấy có nơi Trần Ngọc Mười Hai, mặc dầu hình thức chuyện phiếm vẫn được một số người xử dụng.
Một thí dụ khác, là trong chuyện phiếm: “Em đứng lên gọi mưa vào hạ”. Qua câu chuyện này, Trần Ngọc Mười Hai muốn nói đến sự bình an thật sự trong tâm hồn, dù bình an ấy rất nhỏ. Bình an đó, khác nào như những cơn mưa trong mùa hạ oi bức. Những giọt mưa hoà bình đó, đổ trên muôn người. Nguời giàu cũng như người nghèo. Nam cũng như nữ. Già cũng như trẻ. Vì rằng, ai cũng cần có hoà bình. Mưa an bình. Mưa hồng ân.
Đây, có thể là một cố tình của Trần Ngọc Mười Hai để chuẩn bị cho việc ra CD audio các chuyện phiếm sau này. Khi nghe chuyện phiếm – chứ không còn đọc nữa – mà lại cùng một lúc được nghe những nhạc phẩm quen thuộc của một thời dĩ vãng nào đó, làm nền. Làm “hậu cảnh“ cho những giòng chảy suy tư, thì quả là có tác dụng và gây thích thú nơi người nghe.
Nói cho cùng, thì hoài bão của Trần Ngọc Mười Hai có lẽ cũng chỉ mong được rằng: “Chuyện kể vẫn nhẹ nhàng. Chỉ có thế. Nhè nhẹ và làng nhàng. Kể lại để nghe cho vui. Chứ tuyệt nhiên không muốn thuyết phục ai và cũng không có ý giảng và thuyết như một bài chia sẻ, ở nhà thờ. Nói cho cùng, mỗi lần phiếm, bạn và tôi không kỳ vọng coi đó như một bài giảng, để thuyết phục người đời. Phiếm loanh quanh. Phiếm nhè nhẹ, chỉ để mua vui với bầu bạn trong giây phút. Những mong bầu bạn sẽ cùng bần đệ, ta cứ tiếp tục phiếm nhẹ như thế, trong mai ngày. Rất cầu và cũng rất mong.” Vũ Nhuận
“Nếu vắng anh, ai dìu em đi trong chiều lộng gió?” (Mt 7: 20)
Lại một đầu đề cho chuyện phiếm. Đầu đề không mang dáng dấp của những khuyên răn, như trong Đạo. Đầu đề luận phiếm hôm nay, là câu hỏi có lời lẽ thanh tao, ý tưởng nhẹ. Thanh và nhẹ, như bản nhạc trữ tình mà nhiều nghệ sĩ, trong đó có nhạc sĩ Anh Bằng, đã từng viết. Hôm nay, bạn và ta hãy khơi mào chuyện phiếm bằng đề nghị nhỏ: hãy cứ đổi thay cách xưng hô anh-em, thành mẹ-con, chú-cháu, cô-cháu vv… hẳn câu hát trên sẽ thành lời cầu êm ái, rất nên làm. Rất nên làm, là bởi trên thực tế, không có cha mẹ trần gian chỉ bảo hoặc hướng dẫn thử hỏi làm sao đàn con thân thương bọn mình có thể tự đứng vững. Đứng vững trong trời đất, trước những phong ba bão táp xảy đến với cuộc đời nhiều điêu đứng. Đời mình. Hoặc đời người. Quả thật, nơi đời thường ở huyện, người dân thuộc mọi lứa tuổi vẫn có những giòng chảy đầy hỏi han. Những ưu tư thắc mắc, rất khó trả lời. Ưu tư còn đó nỗi buồn, cả vào khi người đời nghe bậc hiền nhân quân tử vẫn đưa ra những xác quyết tựa như: “Tất cả là ân huệ ! Là quà tặng Chúa ban”. Vâng. Thắc mắc ưu tư vẫn đậm đặc nét u buồn, khi một độc giả “Chuyện phiếm”, đã nhè nhẹ đưa vào giòng chảy điện thư, những lời lẽ sau đây: “Đọc chuyện phiếm của ông, tôi nhận ra được một điều là: ở nhiều đoạn, ông có trích dẫn lời thơ hay ý nhạc của kịch tác/triết gia nào đó bảo rằng ‘tất cả là ân huệ Chúa ban’. Và ông, ông cũng đã trao đổi rồi còn chuyển tải ý tưởng ấy cho nhiều người, gọi đó là quà tặng hay đặc ân đặc sủng mình có từ Thiên Chúa. Vậy xin hỏi: Đạo Công Giáo chúng ta quan niệm thế nào về ân huệ, để anh em mình còn biết mà cảm tạ Đức Chúa.” Như mọi lần, khi tiếp nhận ý kiến phản hồi của bất cứ ai, từ hồi nào đến giờ bần đạo vẫn có thói quen để lòng mình trùng xuống. Suy nghĩ hồi lâu. Rồi mới bắt đầu gõ máy, từ từ phúc đáp. Phúc đáp lần này, trước nhất để trân trọng cái nhã ý mà độc giả nói trên đã có ý kiến phản hồi. Có ý kiến phản hồi, tức là bầu bạn/người thân đã quan tâm, đóng góp ý kiến. Đã hỏi han. Những hỏi han, thật ra là để gạn lọc tư tưởng, những gì bạn và tôi, ta từng tản mạn và phiếm đi phiếm lại nhiều cho thỏa lòng, về ân huệ. Để đáp ứng những hỏi han từ bầu bạn từng thắc mắc, lần này bần đạo chẳng dám đưa ra những bàn bạc cao siêu, nhiều ý. Hoặc, dám gợi lên những cao kiến viển vông ngông nghênh, và lòng vòng rất cứng. Nhưng, chỉ mượn ý mượn lời của vài đấng bậc vị vọng, từng thông suốt nhuần nhuyễn ý lực nhà Đạo, như các cụ đặc trách truyền thông vào độ trước, như Lm. Brian Lucas thuộc Tổng Giáo Phận Sydney, như sau:
“Nói về đặc ân – đặc sủng, hoặc “những ơn phước cả” mà nhà thơ họ Hàn tên Mặc Tử từng nói đến, tưởng có viết ra nhiều pho sách thậất Đạo hạnh để trả lời, cũng chẳng tài nào giải thích hết ý nghĩa của cụm từ này. Chí ít, là giải thích bằng một vài hàng tóm gọn. Có lẽ ở đây, ta cũng chỉ nên trích dẫn một số chương đoạn lược tóm trong cuốn “Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo”, hy vọng giải đáp phần nào những khúc mắc khiến ta tạm hài lòng: Ở đoạn 1996, sách Giáo lý Hội thánh Công Giáo có viết: “Mọi xác minh ta có được là do ân huệ đặc biệt Chúa ban. Ân huệ là đặc ân, đặc nhuận, tức sự hỗ trợ một cách “nhưng không” và chẳng do công lênh/tài cán gì của ta, mà Thiên Chúa phú ban, được công bố cho mọi người, ngõ hầu chúng ta đáp ứng lời kêu mời từ Ngài, mà trở nên con cái của Cha, những người con được bảo dưỡng. Những kẻ chung phần thừa hưởng cuộc sống thánh thiêng tự tại và vĩnh hằng, từ Đức Chúa.”(Ga 1, 12 – 18; 17, 3; Rm 8, 14 – 17; 2 Pr 1, 3 – 4). Tới đoạn 1997, ta lại có: Ân huệ là sự chung phần vào cuộc sống của Thiên Chúa. Ơn Ngài ban cho ta, là để hướng dẫn ta đi vào với sự mật thiết của cuộc sống Ba Ngôi Đức Chúa; nhờ có thanh tẩy mà mọi Ki-tô hữu mới được hiệp thông gia nhập vào ơn thánh sủng của Đức Ki-tô. Ngài chính là Đầu của Thân Mình Rất Thánh của Ngài. Với cương vị của người con đã bảo dưỡng, ta được phép gọi Thiên Chúa là Cha; hiệp thông trở nên một với Người Con Yêu dấu của Ngài. Vốn là con, các Ki-tô hữu chúng ta được nhận lĩnh sự sống của Chúa Thánh Linh, Đấng phà hơi thương mến của Ngài vào người chúng ta và kiến tạo nên Hội Thánh Chúa. Ở đoạn 2005, còn thấy nói: Vì thuộc giới siêu nhiên, ân huệ vượt lên trên kinh nghiệm của ta. Và, ta chỉ có thể nhận biết đó là ân huệ Chúa ban, bằng niềm tin tưởng mà thôi. Vì thế, ta chẳng thể nào trông chờ nơi những cảm nhận hoặc vào tài cán/công lênh gì của ta, để rồi mau chóng kết luận rằng: ta xứng đáng có được ân huệ; và nhờ đó, được cứu rỗi.” (x. Nghị quyết Công Đồng Triđentinô 1547 câu 1533-1534)
Đấy là những quả quyết rất chắc nịch từ Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo. Trong Sách Thánh, chắc chắn, bạn và tôi sẽ còn tìm gặp được nhiều chỗ, nhiều nơi nói đến ân huệ, đến đặc sủng Chúa thương ban. Như, trong Tin Mừng theo Thánh Gio-an, trích đoạn sau đây:
“Nếu chị nhận ra ân huệ Thiên Chúa ban và ai là người đang nói với chị, thì hẳn chị sẽ xin và Người ấy đã ban cho chị nước hằng sống.” (Ga 4, 10) Hoặc: “Nhờ quyền năng mạnh mẽ Thiên Chúa ban, các Tông Đồ làm chứng Chúa Giê-su sống lại. Và,Thiên Chúa ban cho tất cả các ông dồi dào ân sủng.” (Cv 4)
Nói theo kiểu người đời, “có phần không cần gì lo”, tức là những ơn những quà tặng Trời cho, thảy đều do phần số, hết. Phần số hay số mệnh, là lối nói để chỉ ơn tiền định được Trời, được Đức Chúa phú ban cho những người ăn hiền ở lành. Những người có phần có số, được Trời Cao có mắt, vẫn dành để cho mình từ lâu. Xem như thế, nếu bạn và tôi có hát lời ca của nhà thơ Nguyên Sa trong nhạc bản “Nếu vắng anh” do nghệ sĩ Anh Bằng phổ nhạc, hẳn là ta cũng sẽ đồng ý với hết mọi người, rằng: không có anh (ở đây đổi thành nếu vắng Cha vắng Chúa, con cũng chẳng ra “cái tích sự” gì). Để minh hoạ cho một trong những điều mà ta gọi là “ân huệ, ân sủng”, xin bạn hãy để lòng mình trùng xuống, hít một hơi thật đầy vào lồng ngực, rồi đọc truyện kể sau đây, có lẽ đã xảy ra trên một đất nước XHCN:
Trên đoàn tàu, cô soát vé hết sức xinh đẹp cứ nhìn chằm chằm vào người đàn ông lớn tuổi áng chừng đi làm thuê, hạch sách: -Vé tàu! Người đàn ông lớn tuổi lục khắp người từ trên xuống dưới một thôi một hồi, cuối cùng tìm thấy vé, nhưng cứ cầm trong tay không muốn chìa ra. Cô soát vé liếc nhìn vào tay anh, cười trách móc: -Đây là vé trẻ em! Người đàn ông đứng tuổi đỏ bừng mặt, nhỏ nhẹ đáp: -Vé trẻ em chẳng phải ngang giá vé người tàn tật hay sao? Giá vé trẻ em và người tàn tật đều bằng một nửa vé, đương nhiên cô soát vé biết. Cô nhìn kỹ người đàn ông một lúc rồi hỏi: -Anh là người tàn tật? -Vâng, tôi là người tàn tật. -Vậy anh cho tôi xem giấy chứng nhận tàn tật. Người đàn ông tỏ ra căng thẳng. Anh đáp: -Tôi... không có giấy tờ. Khi mua vé cô bán vé bảo tôi đưa giấy chứng nhận tàn tật, không biết làm thế nào, tôi đã mua vé trẻ em. Cô soát vé cười gằn: -Không có giấy chứng nhận tàn tật, làm sao chứng minh được anh là người tàn tật? Người đàn ông đứng tuổi im lặng, khe khẽ tháo giầy, rồi vén ống quần lên. Anh chỉ còn một nửa bàn chân. Cô soát vé liếc nhìn, bảo: -Tôi cần xem chứng từ, tức là quyển sổ có in mấy chữ "Giấy chứng nhận tàn tật," có đóng con dấu của Hội người tàn tật! Với khuôn mặt như quả dưa đắng, người đàn ông đứng tuổi cố giải thích: -Tôi không có hộ khẩu của địa phương, người ta không cấp sổ tàn tật cho tôi. Hơn nữa, tôi làm việc trên công trường của tư nhân. Sau khi tai nạn xảy ra ông chủ bỏ chạy, tôi cũng không có tiền đến bệnh viện giám định... Trưởng tàu nghe chuyện, đến hỏi tình hình. Người đàn ông đứng tuổi một lần nữa trình bày với trưởng tàu, mình là người tàn tật, đã mua một chiếc vé có giá trị bằng vé của người tàn tật… Trưởng tàu cũng hỏi: -Giấy chứng nhận tàn tật của anh đâu? Người đàn ông đứng tuổi trả lời là anh không có giấy chứng nhận tàn tật, sau đó anh cũng cho trưởng tàu xem nửa bàn chân của mình. Trưởng tàu ngay đến nhìn cũng không thèm nhìn, cứ nhất quyết nói: -Chúng tôi chỉ xem giấy chứng nhận, không xem người. Có giấy chứng nhận tàn tật chính là người tàn tật, có giấy chứng nhận tàn tật mới được hưởng chế độ ưu đãi vé người tàn tật. Anh mau mau mua vé bổ sung! Người đứng tuổi bỗng thẫn thờ. Anh lục khắp lượt các túi trên người và hành lý, chỉ có hơn 50 ngàn đồng, hoàn toàn không đủ mua vé bổ sung. Anh nhăn nhó và nói với trưởng tàu như khóc: -Sau khi bàn chân tôi bị máy cán đứt một nửa, không bao giờ còn đi làm được nữa. Không có tiền, ngay đến về quê cũng không về nổi. Nửa vé này cũng do bà con đồng hương góp mỗi người một ít để mua giùm, xin ông mở lượng hải hà, giơ cao đánh khẽ, nương bàn tay cao quý, tha cho tôi...” Trưởng tàu nói kiên quyết: -Không được! Thừa dịp, cô soát vé nói với anh trưởng tàu: -Bắt anh ta đi lau sàn các toa tàu, coi như làm lao động nghĩa vụ. Nghĩ một lát, trưởng tàu đồng ý. Một cán bộ lão thành ngồi đối diện với người đàn ông đứng tuổi tỏ ra chướng tai gai mắt, đứng phắt lên nhìn chằm chằm vào mắt vị trưởng tàu, hỏi: -Anh có phải đàn ông không đấy? Vị trưởng tàu không hiểu, hỏi lại: -Chuyện này có liên quan gì đến tôi có là đàn ông hay không? -Anh hãy trả lời tôi, anh có phải đàn ông hay không? -Đương nhiên tôi là đàn ông! -Anh dùng cái gì để chứng minh anh là đàn ông? Anh đưa giấy chứng nhận đàn ông của mình cho mọi người xem xem? Mọi người chung quanh cười rộ lên. Thừ người ra một lát, vị truởng tàu nói: -Một người đàn ông to lớn như tôi đang đứng đây, lẽ nào lại là đàn ông giả? Cán bộ lão thành lắc lắc đầu, nói: -Tôi cũng giống anh chị, chỉ xem chứng từ, không xem người, có giấy chứng nhận đàn ông sẽ là đàn ông, không có giấy chứng nhận đàn ông không phải đàn ông! Vị trưởng tàu tịt ngóp, ngay một lúc không biết ứng phó ra sao. Cô soát vé đứng ra giải vây cho anh trưởng tàu. Cô nói với cán bộ lão thành: -Tôi không phải đàn ông, có chuyện gì ông cứ nói với tôi! Cán bộ lão thành chỉ vào mặt chị ta, nói thẳng thừng: -Cô hoàn toàn không phải là... con người! Cô soát vé bỗng nổi cơn tam bành, nói the thé: -Ông ăn nói sạch sẽ một chút. Tôi không là con người thì là con gì? Cán bộ lão thành vẫn bình tĩnh, cười ranh mãnh, ông nói: -Cô là người ư ? Cô đưa giấy chứng nhận "người" của cô ra xem nào.. Mọi hành khách chung quanh lại cười ầm lên một lần nữa. Chỉ có một người không cười. Đó là người đàn ông trung niên bị cụt chân. Anh cứ nhìn trân trân vào mọi thứ trước mặt. Không biết tự bao giờ, mắt anh đẫm lệ, không rõ anh tủi thân, xúc động, hay thù hận.... (truyện kể do Trần Văn Giang sưu tầm)
Điểm đặc thù rút ra từ truyện kể ở trên cho thấy: làm trưởng tầu hay làm anh/chị soát vé tầu như truyện kể trên cũng đâu phải do công lênh tài cán gì của họ. Tất cả, chẳng qua chỉ là do ân huệ, hay còn gọi là đặc sủng từ người nào đó, mà ta có thói quen gọi là Trời cho. Chí ít, là người. Làm người. Nhất thứ lại là người có quyền cao chức trọng, ở ngoài đời hay trong Đạo đâu phải do cha do mẹ để lại. Như người đời vẫn nói con vua thì lại làm vua, con sãi ở chùa vẫn quét lá đa… Một khi ta đã biết tất cả chỉ là ân huệ, hẳn là ta sẽ có thái độ đúng đắn để xử sự. Xử sự với người thân quen hoặc không quen, ở mọi nơi. Xử sự với tất cả những người ta từng gặp và đang sống với – sống cùng, trong nhà Đạo, trong cuộc đời Tóm lại, “nếu vắng anh” hay nếu vắng Cha, vắng Thầy, thì không những bạn và tôi sẽ còn hỏi: ai dìu mình đi trong chiều lộng gió. Những buổi chiều có gió lộng, có mưa giông bão tố. Cả trời đen. Một trời và một đời toàn những nghịch cảnh, rất cứng của cuộc đời. Đời người. Đời mình. Nơi gian trần.
Trần Ngọc Mười Hai, nhiều lúc vẫn cứ hát và cứ hỏi, phải chăng đó là ân huệ từ nơi Chúa ?
“Anh đi về đâu mà bụi đường vương trên mái tóc” (Yn 4: 5-42)
Trong phiếm đạo đường dài, một số bạn đã thuật cho bần đạo nghe, rất nhiều truyện kể. Kể về mọi thứ chuyện trên đời. Từ chuyện trời trăng mây nước, lại bước sang chuyện nhà Đạo. Chuyện sống Đạo giữa đời. Và với đời. Có bạn còn cho rằng: sống Đạo bằng ngòi bút hoặc với vi âm, vi tính, có loa phóng thanh lớn nhỏ, có truyền hình, truyền thông... bao giờ cũng là chuyện ngon cơm dễ làm hơn là sống thực ở đời. Chí ít, là sống nghèo sống khổ. Bởi, lúc nào “cái khó cũng bó cái khôn”, sao sống Đạo được? Để minh họa chuyện này, một đấng bậc thân quen trong thẩm quyền giáo phận, có kể lại cho nhóm người trẻ ngoan Đạo, chuyện “khó tin nhưng có thật” ở khu nhà ổ chuột đầy rác, sau đây: Cách đây không lâu, Caritas Úc Châu có gửi giấymời linh mục có tên nghe rất quen là cha Chris đi Phi-luật tân chứng kiến công việc mà cơ quan này thực hiện với người nghèo, vào mùa chay. Vừa đặt chân đến thủ đô Ma-ni-la, cha Chris đã được các vị đồng đạo hỏi ngay là ngài có muốn sống thử vài ngày với giới nghèo được Caritas giúp đỡ, không? Cha chưa kịp trả lời, thì mọi người quyết định là cha nên ở lại khu nhà chuột ổ nọ ít nhất hai ngày, mới hiểu được thế nào là… sống Đạo. Điểm hẹn cho cha, là khu “lao động” có cái tên rất mộng mơ: “Núi đồi mù mịt”. Tuy gọi là núi, nhưng chốn núi non này thật ra cũng không cao và cũng chẳng mù mịt gì cho lắm. Thật sự, thì 30 năm về trước, đây là chốn núi đồi nồng nặc mùi xú uế, chốn đi về của mươi ngàn con người, sống gần như là chuột rúc. Vùng này trực thuộc Ma-ni-la, được dân con nội thành lên đây tống khứ đủ mọi thứ xú uế bùi nhùi, rất khó coi. Mịt mù là ảnh hình của lớp mây bụi mù lởn vởn bao quanh, cộng thêm với mầu xanh nhem nhúa của đám nhặng/ruồi và ong bày vỡ tổ, khiến khu đồi đã trọc lại càng khó coi vì là nơi hẹn hò của hợp chất khí - bụi, gây lợm giọng. Vòng quanh ba mặt của ngọn đồi, là đám dân con thị thành chui rúc để tồn tại. Họ sống bằng cơm thừa canh cặn do người dân thị thành phế thải. Cha Chris cũng nghe nhiều chuyện về ngọn đồi bất hủ này từ các viên chức làm trong cơ quan cứu trợ Caritas, ở đây. Nhưng cha chẳng bao giờ lại có thể tưởng tượng rằng một ngày nào đó cha đặt chân đến đây, không để chứng kiến cảnh nghèo và khó mà thôi; nhưng còn để sống cùng và sống với người nghèo, cạnh núi rác bẩn thỉu, dăm ba bữa. Tuy chưa đến tận nơi chứng kiến sự cùng cực của lớp nghèo thị thành, nhưng cha Chris cũng đã hình dung ra những đau thương chua xót, những nồng nặc cám cảnh của chốn chợ đời ấy. Nhất thứ, là khi thấy cảnh những người là người đang nhung nhúc chui vào đống rác rưởi để moi móc kiếm kế sinh nhai, thì cha Chris đã không còn tin vào mắt thịt của mình nữa. Kìa, cạnh nơi cao vút đầy rác rưởi cuồn cuộn xú uế khí lợm giọng,là giòng nước đen ngòm uốn khúc vòng quanh. Nước uống thì chỉ từ mấy “phông tên” công cộng, mà thôi. Dọc con lạch đen ngòm lấm bẩn kia, khách ngoại cuộc thấy có nhiều căn gác lộ thiên bằng phên thùng bằng tôn/giấy lẫn lộn. Nơi đây, người người lớn nhỏ vẫn cứ tìm đến để tắm gội hay tiêu tiện, rất lộ thiên. Trong lúc đó, chiếc xe ủi cứ thản nhiên làm công tác xúc hốt vật bỏ phế hàng ngày. Và, dân cư đua nhau chạy ùa theo xe bốc hốt, chụp giựt, quyết tìm ra những gì có thể mang về đổi chác thành tiền thành bạc, nuôi thân. Tổ ấm cơ ngơi của đám dân nghèo hèn được vội vã dựng lên bằng những chất liệu vụn vặt không thể chống chọi lại thời tiết cay nghiệt, mưa nắng hai mùa. Cha Chris đã gặp mặt một số linh mục Dòng Tên phụ trách xóm đạo ở chốn mù sương khó thở này. Các linh mục ở đây vẫn cố vận động với giới có thẩm quyền để họ ra quyết định bãi bỏ cảnh tượng thiếu tôn trọng phẩm cách con người này. Cụ chánh xứ đưa cha Chris đến thăm gia đình một giáo dân để cha nghỉ tạm qua ngày. Nhớ lại, hôm leo đồi trèo núi để ghé anh Bing Lu vào một buổi chiều còn nóng bức. Nơi nào cũng thấy lúc nhúc tòan bọn trẻ nhỏ. Cha Chris trộm nghĩ: sao bọn nhỏ ở đây lại có thể đen đuốc bần thỉu, đến như thế. Sao chúng vẫn có thể nô đùa chạy nhảy suốt ngày, mà chẳng được học hành gì cả? Nghĩ tới đó, tâm can cha như quặn thắt . Bụng dạ lại cồn cào, muốn ói mửa. Đến nhà anh Bing Lu, cha thấy khác hẳn. Dù nghèo, nhưng nhà của anh gọn gàng. Ngăn nắp. Anh tiếp cha bằng cả tấm lòng như của người từng quen biết từ lâu. Thấy cha Chris có vẻ như ngứa ngáy vì bọn trẻ cứ xán lại bu quanh, rờ mó vào người cha. Anh Bing bèn kéo cha vào chỗ khuất người, đưa cho cha ly nước để uống cho đỡ cơn khát, xé cổ xé họng vào buổi trưa hè nóng bức. Cha Chris cảm thấy khó xử. Chưa biết có nên nhận lời uống ly nuớc chưa quen mùi vị, hay không. Làm sao để tỏ ra cha cũng biết san sẻ cảnh tình của người bần hàn? San và sẻ đến mức độ nào, đây? Dù khát đến khô họng, cha Chris định bụng từ chối. Tính là, để khi về nhà xứ sẽ dùng nước có đóng khằn trong chai. Cũng may lúc ấy, người con của anh trở ra đem cho cha một chai nước có nắp khóen. Thấy chai nước có thể uống được, cha nhận lời cầm lấy. Anh Bing lại đi tìm ly nhựa định rót ra cho cha. Nhưng cha định thần một lúc rồi cứ thế tu chai như hồi còn nhỏ. Trong một khỏanh khắc không lâu, cha Chris thấy mình lúng túng, chợt liên tưởng đến tình huống được kể nơi Phúc Âm, khi Đức Chúa ghé khu làng người dân ngoại xứ Samari. Ngài cũng lúng túng như người phàm, khi xin nước.
Truyện kể về cha Chris thấy lúng túng khi ở vào hoàn cảnh sống gần sống với người nghèo, vẫn là chuyện của mỗi người, trong chúng ta. Lúng túng với người nghèo cùng phái, cùng Đạo là chuyện còn dễ. Lúng túng khi tiếp xúc hoặc chấp nhận ở gần người nghèo, người khác phái khác phận, hoặc người khách lạ, địch thù, dân ngoại vẫn là chuyện khó xử nhiều hơn chỉ là lúng túng. Nơi đời thường, vẫn có những tình huống khó xử, khi giao tiếp và sống với người hôi thối/nghèo hèn về phần của cải lẫn thân phận. Đây có thể là những tình huống khiến ta có những nhận định hấp tấp, sai sót. Sai sót, mỗi khi ta đến với người nghèo, dù chỉ lân la chuyện trò cho qua, vẫn không biết cách xử sự thế nào cho phải phép. Nói gì đến chuyện tìm cách giúp đỡ. Và hấp tấp trong đối xử, vẫn là dễ sai phạm. Nhất thứ là khi ta lại có những xem xét và phán đoán. Thậm chí, có khi còn bị mang tiếng là có thái độ kỳ thị, đầy thành kiến... Giao tiếp với người nghèo, đã là chuyện khó. Nếu lại bảo: sống giống như, sống cùng và sống với người nghèo hèn, càng là chuyện khó hơn. Khó gấp bội. Khó trăm bề. Khó không thể tả được. Và, một khi thấy khó, người người thường có thói quen dễ bỏ chạy. Bỏ và chạy, để không còn vướng bận nỗi gì. Vướng và bận, dù chỉ trong tâm tưởng, mà thôi. Tuy nhiên sẽ còn khó hơn, khi người người nhận được lời khẳng định từ Đức Chúa ở đọan khác, cũng trong Tin Mừng theo thánh Gio-an, Chúa có nói: “Thật vậy, người nghèo thì bên cạnh anh em, lúc nào cũng có…” (Yn 12: 8)
Và, theo thánh Phao-lô, người nghèo nói chung chính là Ngài:
“Quả thật, anh chị em biết Đức Giê-su Kitô Chúa chúng ta, đã có lòng quảng đại như thế nào: Người vốn giàu sang phú quý, Nhưng đã tự trở nên nghèo khó vì anh chị em Để lấy cái nghèo của mình mà làm cho anh chị em trở nên giàu có.” (2Cr 8: 9)
Qua chuyện của linh mục Chris nghèo hèn công tác ở ở Ma-ni-la, hẳn người đọc cũng sẽ cảm thấy vững dạ:
“Tôi cảm thấy vui sướng khi mình yếu đuối, khi bị sỉ nhục hoạn nạn, bắt bớ, ngặt nghèo vì Đức Kitô: vì khi tôi yếu, chính là lúc tôi mạnh.” (2Cr 12: 10)
Xem như thế, có thể nói được là khi bạn và tôi đã thấy mình nghèo và hèn đi, thì đó là lúc mình mạnh hơn, giàu hơn bao giờ hết. Bởi, chính vào khi mình trở nên nghèo và hèn hơn cả, là lúc Đức Giê-su Kitô đang ở với mình. Mà, đã có Chúa ở với mình, thì còn ai mạnh và giàu hơn nữa chứ? Kinh nghiệm này, thánh Phao-lô tông đồ đã từng trải. Và, cũng như thánh Phao-lô, bạn và tôi cũng sẽ trải qua những kinh nghiệm rất “người” và rất “nghèo” nhưng không hèn, diễn ra đều đặn trong hành trình sống. Tới đây, có lẽ ta sẽ tự hỏi: những người nghèo khổ như vậy, mà vẫn sống được, trẻ con vẫn vui đùa chạy nhảy, vậy thì sức mạnh nào, niềm tin và cảm nghiệm nào đã giúp họ được như thế? Để trả lời câu hỏi này, mời bạn và tôi, ta hãy đọc truyện kể bên dưới về ý nghĩ của các em nhỏ, về cuộc đời. Về người đời:
Vào buổi vấn đáp các học trò nhỏ hôm ấy, cô giáo đưa ra một đề tài khá hóc búa: các em hãy liệt kê cho cô một danh sách gồm 7 thứ mà các em nghĩ là kỳ quan trên thế giới. Tức là: 7 thứ đẹp nhất trên thế gian này. Mặc dù trong đám học trò nhỏ, có nhiều điểm bất đồng trong chọn lựa, dưới đây là đôi ba danh sách do các trò nhỏ đưa ra, ngày hôm ấy. Danh sách “Bẩy kỳ quan thế giới”: 1. Kim Tự Tháp ở Ai Cập 2. Đền Taj Mahal ở Ấn Độ 3. Cảnh hùng vĩ Grand Canyon ở Mỹ 4. Kênh đào Panama 5. Tòa nhà Empire State ỏ Hoa Kỳ 6. Vương Cung Thánh Đường Thánh Phê-rô ở Rô-ma 7. Vạn Lý Trường Thành bên Trung Quốc
Trong lúc thu thập đề nghị của các em học sinh, cô giáo thấy có một em nắn nót chữ viết mãi chưa xong, cô bèn hỏi xem em có vấn đề gì không, mà sao lâu thế. Em liền đáp: -Cô chờ em thêm một phút nữa thôi, em đang liệt kê đây. Thật sự, có quá nhiều thứ em không đủ giấy để kể ra hết ở đây. Thôi em tóm tắt như thế này để cô xem nhé! Cô giáo nói tiếp: -Cứ nói cho cô biết em đếm được bao nhiêu rồi. Có thể cô và các bạn sẽ giúp em, ngay thôi. Người học trò nhỏ ngập ngừng trong khỏanh khắc, rồi nói: -Em nghĩ, Bẩy kỳ quan trên thế giới gồm có tất cả là: 1. Biết nhìn 2. Biết nghe 3. Biết sờ 4. Biết nếm 5. Biết ngã 6. Biết cười 7. Và biết yêu thương. Lúc ấy, bầu khí trong lớp học trở nên im ắng cách lạ lùng. Im đến độ, tiếng kim cúc rơi xuống đất cũng có thể nghe thấy được nữa. Truyện kể tiếp như sau: Những gì mà chúng ta thường ngày chỉ nhìn lướt qua, không để ý vì nó đơn giản và bình thường và nhận lấy như quà tặng trời cho, thì thật sự là kỳ quan, đáng ta chiêm ngưỡng. Bởi, thật ra những gì cao và quý nhất trong đời người và đời mình, thì chẳng thể nào xây dựng bằng tay hoặc mua được bằng tiền của. Rất đúng! Và, kỳ quan chuyện phiếm hôm nay, chính là: biết được là mình đang sống, đang được ân sủng từ Thiên Chúa hưởng 7 kỳ quan trên. Và giàu hay nghèo sẽ chẳng thành vấn đề, vì ta vẫn cứ được sống. Vẫn cứ trân trọng cuộc sống với các người anh, người chị đang cùng sống với mình. Dù trên “núi đồi mù mịt” đầy những xú uế, rác rưởi ấy hay ở chốn đền đài danh vọng chất chồng, những hôm nay. Ta cứ sống. Sống hùng. Sống mạnh. Sống vững chãi với người anh em đời thường, ở huyện. Huyện dân gian. Chốn thế trần.
Trần Ngọc Mười Hai và những kỳ quan rất sống trong cuộc đời có những bụi đường vương trên mái tóc
Đấng Trung Gian Cầu Bàu đã nên duyên. (1Tm 2: 5 )
Đã có một thời, hồi thập niên ’60, ’70 ở quê nhà, các báo đài rộn lên với mục “Giải đáp thắc mắc”; thậm chí, có vị còn dùng tựa đề “Gỡ rối tơ lòng” để gỡ giùm bà con người đọc những mớ bong bong, tâm sự. Nói vụng trộm một chút, chứ tơ lòng người đời mà có rối, thì đố ai mà gỡ được. Thế nhưng, nổi bật một dạo, người viết mang tên “Bà Tùng Long” đã nổi tiếng một thời trên tờ Phụ Nữ Diễn Đàn (?) hồi đó. Và cũng từ lúc ấy, hễ ai ra báo là đều có thêm mục, những gỡ và đáp giải cả những thắc mắc, lẫn mối tơ lòng.
Ngày nay, trên báo Đạo như tờ The Catholic Weekly, các đấng vị vọng cũng lập ra hai cột báo ở trang trong để giải đáp những mớ bòng bong, không phải tơ lòng nhà Đạo, mà là ‘lòng những tơ vương vấn mấy hỏi han’. Vừa qua, cũng trên tờ báo này, ở mục Giải đáp thắc mắc, Lm John Flader đã tiếp nhận những hỏi han, theo kiểu rất “rối tơ lòng” và “thắc mắc”, như sau:
“Con đã nghe biết về chuyện Đức Mẹ được coi là Đấng Trung Gian Cầu Bàu mọi ân huệ, Chúa ban. Xin cha giải thích thêm về chuyện này. Và, cũng xin cho biết tước hiệu và vấn đề này có là tín điều của Hội thánh, bắt buộc phải tin như kinhTin Kính không?”
Và, dưới đây là lời đáp giải đáp:
Trước khi trả lời câu hỏi, tưởng cũng nên minh định về cụm từ “Đấng Trung Gian Cầu Bàu”. Cụm từ này được dịch từ tiếng Anh là “Mediatrix”, vốn có nguồn gốc rất xa xưa, từ tiếng La tinh giống như từ “Mediator” (chỉ người môi giới là nam nhân). Nhưng ở đây, từ “Mediatrix” chỉ bậc nữ lưu có vai trò trung gian hòa giải rất hiệu lực.
Đấng Trung Gian Cầu Bàu là người mang trọng trách của vị môi giới, tức: làm công việc can thiệp hòa giải giữa hai phe, hai phía, nhằm đem cả hai bên về lại với nhau, sống hài hòa. Ở đây, là chuyện hài hòa giữa Thiên Chúa và con người. Đức Giê-su, bằng vào cái chết khổ hình trên thập giá, đã giải hòa nhân lọai với Thiên Chúa là Cha Ngài, sau lần đổ vỡ nứt rạn do các lỗi phạm có từ tổ tiên, cha ông của con người.
Dựa vào vai trò hòa giải của mình, thánh Phaolô đã viết cho đệ tử và là đồng nghiệp của thánh nhân như sau:
“Đấng Trung gian giữa Thiên Chúa và loài người là Đức Giê-su Kitô. Ngài đã thí ban chính mình Ngài như giá cứu chuộc mọi người” (1Tim 2: 5).
Nhìn dưới góc cạnh này, thử hỏi là nếu ta cũng gọi Đức Mẹ là Đấng Trung Gian hoặc Đức Nữ Đồng Trinh Trung Gian, như thế có chỉnh không? Và, nếu có, thì danh xưng ấy hoàn chỉnh như thế nào?
Trả lời cho vấn nạn này, ta cũng nên qui chiếu Hiến Chế “Ánh Sáng Muôn Dân” trong đó Công Đồng Vatican II đã bàn đến những điều Hội thánh Chúa cần tin, đã dạy con dân mình rằng: gọi Mẹ là Đấng Trung Gian Cầu Bàu như thế rất đúng. Đúng theo cả hai nghĩa. Trước nhất, bởi vì Mẹ đã hợp cùng với Đức Giê-su cầu bàu ân sủng của Chúa đổ tràn xuống trên chúng ta; và, Mẹ vẫn tiếp tục làm môi giới cho ta trong công trình cứu độ rất chính đáng, theo nghĩa khách quan. Tiếp đến, Mẹ còn là công cụ của Chúa để phân phát ân huệ Chúa ban cho ta. Đây là ơn cứu độ hiểu theo nghĩa chủ quan.
Công Đồng Vatican còn nhấn mạnh thêm :”Mẹ san sẻ nỗi thống khổ cùng Con của Mẹ khi Ngài chết trên thập giá. Bằng cách này, Mẹ đã hợp tác với Chúa bằng thái độ “xin vâng”, tin tưởng và hy vọng. Ngoài ra, Mẹ còn đốt nóng tình thương mến trong công cuộc Cứu Độ của Chúa khi Ngài tái tạo đời sống siêu nhiên nơi các linh hồn. Chính vì lý do này, Mẹ đã là mẹ thật của chúng ta.
Tình Mẫu tử được thể hiện ngang qua ân sủng vẫn có nơi Mẹ và không ngừng diễn tiến. Mẹ duy trì sự đồng thuận xin vâng không lúc nào ngơi, cả vào giây phút Mẹ ở dưới chân thập giá. Mẹ đã hoàn tất sứ vụ đồng thuận xin vâng ấy mãi mãi không dứt. Cả khi được cất nhắc về trời, Mẹ cũng không quên lãng sứ vụ cầu bàu cho chúng ta. Và Mẹ tiếp tục đem đến cho ta ơn cứu rỗi vĩnh hằng.
Với lòng yêu thương của người mẹ hiền, Mẹ vẫn ân cần chăm sóc cho đàn con yêu dấu, là an hem của Đức Giê-su, là những người còn lưu lạc dưới thế trần này. Những người con của Mẹ đang gặp khó khăn trắc trở đủ điềucho đến khi được Mẹ dẫn dắt về căn nhà êm ấm của họ. Chính vì thế, Đức Nữ Đồn Trinh rất Thánh vẫn được Giáo hội khẩn cầu qua nhiều tước hiệu như Đấng Bào Chữa, Mẹ Hằng Cứu Giúp, Ân Nhân, và Đấng Trung Gian Cầu Bàu.” (Hiến Chế Ánh Sáng Muôn Dân 61-62).
Công Đồng cứ thế tiếp tục làm sáng tỏ và nói rằng: vai trò trung gian của Đức Mẹ không làm mất đi thiên chức trung gian độc nhất của Đức Kitô. Đúng hơn, công việc của Mẹ là hỗ trợ cho vai trò của Chúa và cùng tham gia vào việc ấy (x đoạn 62). Cũng vậy, trong chừng mực nào đó, cả chúng ta nữa, chúng ta cũng đồng san sẻ công tác cầu cùng Chúa cho bà con bè bạn của mình đưuợc tọai nguyện.
Xem như thế, Đức Mẹ thật sự là Đấng Trung Gian Cầu Bàu, chắc chắn là thế rồi. Nhưng có nên tiếp tục gọi Mẹ là Đấng Trung Gian Cầu Bàu cho mọi ân sủng, chăng?
Như đã thấy, Công Đồng Vatican II đã không đín kèm cụm từ “cho mọi ân sủng của Chúa” vào với tước hiệu trên của Mẹ. Tuy nhiên, trong thong điệp của một số các Đức Giáo Hoàng lúc trước có nói rất rõ vai trò của Mẹ là ban phát ân sủng mà Mẹ tạo được từ Chúa; tức: nối kết rất lớp lang và hợp lý vai trò tiếp nhận ơn lành Chúa ban.,
Chẳng hạn như: Đức Giáo Hoàng Lêo XIII trong thong điệp Superiore Anno (1884) có nói là lời cầu dâng lên Chúa đều “ngang qua Mẹ”. Vì Mẹ là Đấng được Chúq chọnđể ban phát mọi ân huệ từ trời ban xuống. Năm 1891, cũng trong thong điệp Octobri Mense, Đưa Giáo Hoàng Lêô bày tỏ một cách rõ ràng hơn tín lý này, khi ngài viết:
“Với chân lý ngang bằng, ta có thể quả quyết rằng: thánh ý Chúa cho biết không có gì được ban cho từ kho tàng ân huệ quý báu mà Chúa tích tụ để ban cho chúng ta mà lại không ngang qua Mẹ của Ngài.”
Cả đến Công Đồng Vatican II cũng đã trích dẫn nhiều lần các đọan quả quyết giống như trên từ thong điệp của các Đức Giáo Hoàng như Đức Lêô Xiii, Đức Piô X, XI, và XII. Nói tóm, rõ rang là Đức Maria chính là Đấng Trung Gian Cầu Bàu cho mọi ơn lành Chúa ban, dù tước hiệu của Mẹ không được minh định như tín điều buộc con dân Hội thánh ta tin.
*
Trong không khí rất tĩnh và cũng rất năng động của Tháng Hoa, tháng ngày đầy những nguyện cầu và cầu bàu, bạn và tôi hãy nhớ đến Mẹ Hiền của Giáo hội, là Đấng trung Gian Rất Cầu Bàu cho mọi ơn lành, đặc sủng. Nhớ, để một lần nữa, cùng khẳng định với các Đức Giáo Hòang xưa cũng như nay, rằng: Không có Mẹ làm Trung Gian Cầu và Bào chữa cho, thì lời cầu của ta chắc chẳng bao giờ đạt.
Trần Ngọc Mười Hai nhiều lần vẫn cứ quên điều hệ trọng ấy
“Lênh đênh ngàn mây trôi êm đềm” (Yn 3: 8)
Một lần nọ, khi viết về đề tài “nghe cũng là quà tặng”, bần đạo có trích dẫn câu nói của vị thiền sư nổi tiếng mang tên Thích Nhất Hạnh, để mở đầu cho chủ đề mình muốn viết. Ít lâu sau, bần đạo nhận được ý kiến phản hồi từ chị bạn rất thân trong cộng đoàn, chị tỏ ý bảo rằng: sao anh lại đăng ý kiến lập trường của nhân vật gây nhiều tranh cãi về thái độ ông ta giao kết với giới bạo tàn, ở trong nước, vậy?
Hôm nay, bần đạo gợi lại tên tuổi của một hiền nhân khác có nhắc đến ý kiến “không hề gây tranh cãi” của thiền sư Nhất Hạnh, như sau:
Có lần Thích Nhất Hạnh viết: “Đạt tới được Thiên Chúa ngang qua Đức Thánh Thần của Ngài, bao giờ cũng an toàn hơn đi vào thần học.”
Tôi thấy, tác giả “Living Buddha, Living Christ” dù ông cũng là nhà thần học theo nghĩa thâm sâu, nhưng ở đây ông nói đến Thiên Chúa bằng chính kinh nghiệm sống của mình. Ông nói bằng diệu cảm. Bằng tiếng nói thần thiêng của Thánh Thần Chúa đang chiếu sáng tâm can của mỗi người. Thành thử, nếu ta lắng tai nghe tiếng của Thánh Thần Ngài một cách cẩn trọng, ta sẽ nghe được chân lý ngàn đời. Chân lý vẫn diễn tả ra ngoài bằng đường hướng mới. Đường hướng gây sửng sốt lòng người, không ít.
Môt lần khác, Thích Nhất Hạnh cũng đã viết:
“Bàn cãi nhiều về Thiên Chúa không là cách thức hay nhất để ta sử dụng năng lượng theo phương pháp tốt đẹp. Nếu ta sờ chạm được Thánh Thần Ngài, ta cũng sờ chạm được Thiên Chúa không như một ý niệm trừu tượng, mà là Thực Thể rất sống động.” Thiền sư Nhất Hạnh nói thế có nghĩa: ông đã dịu dàng chìa đôi tay nhẹ nhưng vững dẫn ta ra khỏi nền thần học trừu tượng, đến với thực tại sống động. Ông cũng trân quý ý niệm trừu trượng vẫn có đó, nhưng ông coi đó như phương tiện, chứ không phải cứu cánh.
Từ lâu, tôi được vinh hạnh gặp mặt nhiều anh chị từng gần gũi Đức Phật sống, Đức Kitô sinh động, các anh chị ấy có nổi tiếng hay không, chẳng là chuyện cần thiết. Nhưng, chỉ với sự hiện diện của các anh chị thôi, cũng đã làm cho chúng ta “tỉnh giấc chiêm bao”. Và, cũng thách thức tính tự mãn của ta, rất nhiều.” (Brother David Steindl-Rast, OSB viết lời tựa cuốn Living Buddha Living Christ, Thích Nhất Hạnh, 1995, tr. 13-18)
Lời lẽ trên đây của một sư huynh nhà Đạo nói về một thiền sư ngoài Đạo, về sờ chạm Đấng Thần Linh Thánh Ái của Chúa, hẳn là trường hợp hi hữu, ít thấy. Và, sự việc trên xảy ra hồi thập niên ’90. Tính đúng, cũng đã hơn chục năm. Cứ sự thường, mỗi lần thành viên các tôn giáo lớn gặp nhau, hay có những đụng chạm cãi vã, và tranh luận.
Nhưng ở đây, chừng như họ đã cảm phục nhau, sau lần nhìn nhau, thấy tận mặt. Cảm phục và thân thương, vì đã sờ chạm Thần Linh Chúa. Xem thế, chính Thần Linh Ngài đã tạo nên cuộc gỡ trong tương quan rất chân tình. Cũng bằng tình thân, Thánh Thần Chúa đã soi sáng kết hợp các người anh em từng là “người dưng khác họ, chẳng lọ thời kia..” Từ đó, ta dám nói: Thần Linh Chúa là đầu giây liên kết cho mọi tình tự thân thương, tình đại kết. Dù chỉ là bước đầu, nói cho cùng, đây cũng không là đoạn cuối của cuộc tình đại kết. Nhưng, đây chính là tình thân thương mang tính miên trường. Tình người đại kết. Hết mọi tôn giáo.
Có để tâm theo dấu vết sự việc đã xảy ra vào độ trước hoặc những lúc gần đây, bạn và tôi sẽ nhận ra nhiều điều đáng ta quan tâm. Nhiều điều rất khích lệ. Cụ thể, phải nói Thần Linh Chúa vẫn thao tác hoạt động nơi mỗi mgười. Và mọi người. Xưa cũng như nay. Xưa như ngày Lễ Ngũ Tuần, thời trước. Thời kéo dài xuyên suốt qua chiều dài lịch sử cứu độ rất Hiển Linh. Rất quang vinh. Thời nào cũng thế, Thánh Linh Chúa vẫn cứ “Hiển” và cứ “Linh”, với cộng đồng dân con Đức Chúa, nơi trần thế. Trong ngoài Đạo.
Dẫn chứng cho tính Hiển và Linh này, vào buổi giao ban Thánh Giá và Ảnh Đức Mẹ Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới ở Rô-ma tháng 7/2007, Đức Giáo Hoàng Bê-nê-đi-tô XVI có nói với người trẻ hiện diện ở đó, như sau:
“Các bạn trẻ thân mến của cha, Ai cũng biết yêu người và được người yêu là một tiến trình kéo dài. Cũng thế, yêu người không phải lúc nào cũng dễ. Có khi ta gặp nhiều khó khăn, lầm lỡ và thất bại. Nên có người sinh ra nghi ngờ cả khả năng yêu nữa. Tuy nhiên, nếu ta cứ lẩn tránh yêu người thì chắc chắn là ta sẽ nghĩ rằng tình yêu là một chuyện không tưởng và như giấc mơ không bao giờ đạt được vậy. Không. Tình yêu bao giờ cũng là chuyện có thể thực hiện được. Và, mục đích của thông điệp cha gửi đến hôm nay là các bạn hãy tự đánh thức mình và tin rằng: niềm tin nơi tình yêu là chuyện có thật, đáng tin và vững chãi. Tình yêu tạo an bình và hứng khởi. Tình yêu liên kết hết mọi người, cho phép họ tôn kính lẫn nhau trong tự do.
Các bạn trẻ thân mến,
Hãy nuôi dưỡng tài năng của mình không chỉ để có chỗ đứng trong xã hội mà thôi, nhưng còn để giúp người khác “tăng trưởng”. Hãy mở mang kỹ năng của các bạn không chỉ giúp mình có thêm hiệu năng, cạnh tranh nhau hơn, nhưng để trở thành nhân chứng cho tình bác ái. Hãy cố gắng tự tạo cho mình kiến thức về lòng Đạo để giúp mình thực hiện sứ vụ được ủy thác theo phương cách có trách nhiệm.Cha kêu mời các bạn hãy dày công nghiên cứu học thuyết xã hội của Giáo Hội để rồi các nguyên tắc của học thuyết này sẽ gợi hứng chỉ dẫn mọi họat động mà bạn đang thực hiện với thế giới hôm nay.
Xin Thánh Thần Chúa soi sáng cho các bạn trở nên sáng tạo trong yêu thương, bền vững trong cương quyết và dũng cảm trong các sáng kiến của mình. Có thế, các bạn mới có khả năng đề xuất những đóng góp cho việc dựng xây “nền văn hóa yêu thương”. Chân trời của tình yêu quả thật không có biên giới: chân trời ấy chính là trọn vẹn thế giới này.”
Xuyên qua các tư tưởng và ý kiến của các bậc hiền nhân ở trên, hẳn ta đều thấy rõ một điều: Thần Linh Chúa là Đấng ta có thể sờ chạm được. Vì, chính Ngài là nguồn hứng khởi, của tình yêu. Nguồn hy vọng cho mọi tương lai đang sáng ngời, của cả thế giới. Của toàn thể nhân loại. Tức những con người bằng xương bằng thịt đang hiện diện một cách đầy sinh động. Hiện diện quanh ta và với ta.
Thế giới đây là chính ta. Những người không còn trẻ hay vẫn trẻ. Bởi lẽ, trẻ hay không vẫn là người. Là thế giới. Và, thế giới hôm nay, cần dựng xây nền “văn hóa của yêu đương”. Văn hóa của Thần Linh Chúa, đích thị là Nguồn Hy Vọng cho mọi người. Mọi việc. Và Thần Linh Chúa gửi, không giới ranh:
“Với những người được Chúa sai đi, đều nói Lời của Chúa, vì Ngài gửi Thánh Thần đến, không hạn chế, không giới ranh.” (Yn 3: 34)
Ở một đoạn khác, thánh sử Gio-an cũng nói thêm:
“Đức Chúa là Thần Linh người phụng thờ Ngài phải phụng thờ trong thần khí và sự thật.” (Yn 4: 24)
Để phụng thờ Chúa trong sự thật, có lẽ cũng nên nhận diện Thần Khí Nguồn Hy Vọng, qua sự vật ta sờ chạm bằng những sự vật thân thương chân tình, trong cuộc sống, như truyện kể dưới đây:
Trong phòng tối có 4 ngọn nến đang cháy sáng. Vạn vật xung quanh trở nên im ắng cách lạ thường. Im đến độ ta có thể nghe tiếng thì thầm của mọi vật. Bất chợt, ngọn nến thứ nhất lên tiếng nói: Tôi đây hiện thân của HÒA BÌNH. Không có tôi, mọi sự sẽ ra như thế nào? Tôi quả là quan trọng hơn hết mọi người. Mọi sự.
Ngọn nến thứ hai cũng mạnh dạn góp giọng: Tôi đây, hiện thân của TRUNG TÍN. Mọi người mọi thời, lúc nào cũng cần đến tôi. Hơn tất cả mọi thứ.
Đến phiên mình, ngọn nến thứ ba cũng phân bua:Tôi đây, hiện thân của TÌNH YÊU. Tôi mới thật sự quan trọng. Quan trọng hơn tất cả. Giả sử không có tôi - TÌNH YÊU, hẳn là chẳng ai làm nên tích sự gì được! Và, cuộc đời con người sẽ ra sao?
Bất chợt, cửa phòng mở tung ra. Một cậu bé chạy vội vào phòng, kéo theo sau cậu, là cơn gió mạnh lùa vào làm tắt ngúm tất cả ba ngọn nến vừa lên tiếng. Thấy vậy, cậu bé sửng sốt òa lên khóc, và nói: Tại sao cả ba cây nến lại tắt cả vậy?.
Lúc ấy, ngọn nến thứ tư mới kịp lên tiếng, bảo: Này cậu bé, đừng quá lo lắng như thế. Khi tôi đây còn cháy sáng, thì cậu vẫn có thể thắp lại ba ngọn nến kia. Bởi, tôi chính là NIỀM HY VỌNG. Hãy dùng tôi mà thắp sáng cho họ đi. Hãy lau khô những giọt nước mắt của cậu đi. Hãy giữ nguyên hy vọng. Giữ lại mà vui sống.
Nghe xong, cậu bé gạt nước mắt, rồi thắp sáng lên những các ngọn nến vừa chợt tắt.
Vậy hỡi các bạn,
Hãy luôn gìn giữ và thắp sáng ngọn lửa HY VỌNG của mình và của những người sống chung quanh mình, bạn nhé. Vì một khi có được lửa HY VỌNG, tất cả chúng ta đều có thể thắp sáng mọi lửa HÒA BÌNH, TRUNG TÍN và TÌNH YÊU.
Đừng bao giờ để lửa HY VỌNG tắt nhé. Và, thành công sẽ đến với các bạn.
Đúng thế. Dù Hòa bình, Trung tín và Tình yêu đều đã ra đi tắt lịm, thì bạn và tôi vẫn còn có Nguồn HY VỌNG CHÚA THẦN LINH để trông chờ. Để kiên trì hành động hầu đạt được thành công, theo ước nguyện. Thành thử, hãy thắp sáng lên, lửa HY VỌNG của chính bạn, và của tôi nữa. Thắp lên niềm Hy Vọng, vẫn còn đó. Thắp lên, để rồi ánh sáng của ngọn nến ở cuối đường hầm đời mình, sẽ lại lóe sáng trong đêm thâu. Đêm kéo dài cả một đời người.
Trần Ngọc Mười Hai Vẫn tự nhủ thầm như thế quanh năm suốt tháng.
“Và niềm tin đã dâng về người, tôi hy vọng được ơn cứu rỗi ” Thường ngày, bần đạo rất vui và rất thích mở báo điện tử Viet Tide ra để đọc các bài của tác giả Bùi Bảo Trúc có đề tựa “Thư Gửi Bạn Ta”, hoặc “Chữ Nghĩa chúng ta”, v.v… Nói vui và thích, là vì tác giả họ Bùi là một nhà văn và nhà báo rất thông thạo chữ nghĩa, lại thích trích dẫn thơ văn của người xưa. Thông thường, thì các tác giả, khi viết bài, đều kết luận bài viết của mình bằng đường lối mà người xưa gọi là “happy ending” (tức: kết có hậu). Riêng tác giả họ Bùi, thì bần đệ có nhận thấy: thi thoảng, ông lại kết bằng những cụm từ nghe rất chán, như: “Rõ thật chán!”, “Chán đến thế là cùng!”, “Chán không thể chịu được !”… mặc dù bài ông viết và kể vẫn rất vui và khá lý thú. Ngẫm lại cuộc đời, ta phải công nhận rằng: 60 năm cuộc đời này có là bao, mà sao người đời thường dễ thấy chán. Chán nhiều hơn thích. Chán sống. Chán đời, hay chán ngán. Nói đi thì bảo rằng thích, nói lại thì kêu là chán, có phải tất cả đều là những tình tự xuất phát từ con người chăng ? Nhập-mục đề tài chuyện phiếm hôm nay, bần đệ kính mời bạn bè người thân, cùng nhau ta loanh quanh bàn chuyện lòng Đạo và lòng người. Mạn phiếm và mạn bàn, để xem lòng Đạo người nhà mình có “như lá úa trong cơn mưa chiều”, rất đáng chán không. Có nên “kết hậu” chuyện anh em mình bàn không? Hay, ta chỉ nên kết bằng cụm từ “đáng chán” như tác giả họ Bùi thường làm ? Nhất là, mấy ngày qua, người nhà Đạo mình vừa trải qua giai đoạn “chán chết” rất sầu buồn, vì Đức Chúa cứ chịu cảnh “lòng người như lá úa”, lúc sinh thì. Còn chuyện gì rất-đáng-nhưng-không-chán, như chuyện Thầy Chí Thánh hỏi ta qua chị Mác-ta: “Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống. Ai sống và tin vào Thầy, sẽ không bao giờ phải chết. Chị có tin thế không ?” ( Ga 11, 25 ) Nói đến chuyện buồn và chán, thì chán nhất là chuyện chết. Ấy thế mà, Thầy Chí Thánh vẫn mặc lấy cho Ngài cả sự sống, lẫn sự chết. Thầy còn chết một cách tưởng-như-là thảm hại. Chết nhục nhã. Chết, theo cách nói của tác giả họ Bùi, “thật rõ chán”! Chán chết ! Hoặc, chán đến chết. Thế nhưng, Thầy vẫn cứ chịu nỗi “chán chết”, và những sự “chán đến chết”, chỉ vì con người. Cam chịu nỗi chết và cảnh buồn chán như thế, vì “Thầy là sự sống lại và là sự sống”. Tin vào Thầy, ta sẽ không còn thấy sự chết, hoặc những sự “chán chết đi được”, nữa. Vì, Thầy vẫn bảo: “Ai tin vào Thầy thì dù đã chết, cũng sẽ được sống.” Sống như Thầy nói là sống vui. Sống không còn biết chán. Nói các khác, người người thường hay nói “chán”, là chưa hoàn toàn tin cho đủ. Bởi, chưa tin nên mới thấy chán. Mới chán sống. Chán đời. Chán cả chuyện tin lẫn tưởng. Và, nhất là, chưa gặp niềm vui đi Đạo. Trong Đạo. Chính vì thế, Chúa thường giảng giải: “Nếu tôi nói với các ông về những chuyện dưới đất mà các ông còn không tin, thì giả như tôi nói với các ông về những chuyện trên trời, làm sao các ông tin được ?" (Ga 3, 12) Ở đoạn khác, trong Tin Mừng theo Thánh Gio-an, Chúa còn nhất mực quả quyết: “Vì nếu các ông tin ông Mô-sê, thì hẳn các ông cũng tin tôi, bởi lẽ ông ấy đã viết về tôi. Nhưng nếu điều ông ấy viết mà các ông không tin, thì làm sao tin được lời tôi nói ?" (Ga 5, 46) Xem như thế, có tin mới hết chán. Và, tin là tin ai. Tin vào lời của ai đó. Và, tin vì đã thấy và nghe được những quả quyết của Đức Chúa. Thế nhưng, có những điều người người đã thấy và biết, vẫn không tin. Vẫn cứ bảo “rõ thật chán chuyện !”, “Chán đến độ hết muốn tin !” Hết muốn tin, hoặc đã hết tin, như ở đoạn khác, trong Tin Mừng: “Chính tôi là bánh trường sinh. Ai đến với tôi, không hề phải đói; ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ! Nhưng tôi đã bảo các ông: các ông đã thấy tôi mà không tin.” (Ga 6, 35b – 36 ) Quả như Chúa nói, sở dĩ người Do Thái xưa – và những người rất thông thái hôm nay – vẫn thấy đói và khát, là vì họ không tin vào Đấng-Là-Bánh-Hằng-Sống. Vẫn cứ đói và khát sự vui mừng. Những người như thế, bạn và tôi xưa nay vẫn từng nghe biết. Vẫn từng gặp, rất nhiều. Truyện dưới đây, là trường hợp cụ thể minh hoạ cho điều ta vừa đề cập ở trên. Rất đặc trưng như sau: “Có một giáo sư đại học nọ thuộc giới vô thần, không tin có Trời-Phật gì hết. Nhưng, ông lại thích nói chuyện thần thông, sáng láng. Buổi dạy hôm ấy, vị giáo sư vừa vào lớp dạy đã kể cho sinh viên nghe một câu chuyện khoa học, rất thường thức. Kể chuyện khoa học là để học tập, chứ không phải để thực nghiệm hay xét nghiệm gì hết. Các truyện mà vị Giáo sư này kể, thường là chuyện khoa học cũng thường thức như ta vẫn có với Đức Chúa, Đấng Thần Thông Sáng Láng. Giáo sư mào đầu câu chuyện xong, bèn chỉ vào người sinh viên đi Đạo mới vừa nhập trường, và hỏi: Giáo sư: Có phải là em theo Đạo Chúa, không? Sinh viên: Dạ, đúng. Giáo sư: Như thế, là em tin có Chúa, phải không? Sinh viên: Dạ, đúng. Giáo sư: Thế, Chúa có tốt lành không em? Sinh viên: Dạ, thưa thầy dĩ nhiên là Chúa tốt rồi. Giáo sư: Chúa quyền năng ghê gớm lắm phải không, em? Sinh viên: Dạ, đúng thế. Giáo sư: Vậy, thế tại sao thầy đây có người anh vừa chết vì bệnh ung thư. Ông cầu nguyện với Chúa của ỗng dữ lắm, mà cũng chẳng ăn thua gì. Em biết ! Phần đông chúng ta đều giúp đỡ nhau khi thấy ai đau yếu, bệnh tật. Còn Chúa thì không. Như thế, Chúa có tốt lành gì đâu ! (Cả lớp học bỗng im lặng. Không ai nói điều gì). Giáo sư: Em không trả lời được, phải không? Để thầy hỏi lại nhé. Chúa có thật sự là tốt không? Sinh viên: Có đấy, thầy. Giáo sư: Thế, Xa-tan cũng tốt chứ? Sinh viên: Không. Giáo sư: Xa-tan từ đâu mà ra? Sinh viên: Dạ, từ… Chúa! Giáo sư: Đúng. Vậy, hãy nói cho thầy biết, ở thế giới này ác độc sự dữ có hiện hữu không? Sinh viên: Dạ, thưa có. Giáo sư: Như vậy là, độc ác dữ tợn có ở khắp mọi nơi phải không ? Và, Chúa làm nên mọi sự. Có đúng không? Sinh viên: Dạ, đúng thế. Giáo sư: Vậy, ai dựng nên độc ác dữ tợn? (Đám sinh viên không thấy nói gì thêm) Giáo sư: Trên đời, thực sự có ốm đau, bệnh tật, phải không? Thế, có những chuyện gọi là vô luân, không? Có ghét ghen, chuyện xấu đủ mọi cỡ phải không? Tất cả những điều ghê khiếp ấy đều thấy có trên thế giới này, phải thế không? Sinh viên: Dạ thưa, đúng thế. Giáo sư: Nếu thế, ai là người dựng nên những thứ ấy? (Không thấy có ai trả lời câu hỏi này) Giáo sư: Đây này, khoa học cho biết ta có tất cả là 5 giác quan có thể mang ra sử dụng để định hình và quan sát thế giới quanh ta. Vậy, em hãy nói cho thầy biết…em có thấy Chúa bao giờ chưa? Sinh viên: Dạ, thưa chưa. Giáo sư:Thế, em có nghe Chúa nói chuyện bao giờ không? Sinh viên: Dạ, không. Giáo sư: Có khi nào em sờ thấy Chúa, nếm được Chúa và ngửi mùi thơm của Chúa không? Có bao giờ em có cảm giác đại loại như thế về Chúa, không? Sinh viên: Dạ, không. Chưa bao giờ em được như thế. Giáo sư: Nhưng, em vẫn tin có Chúa chứ? Sinh viên: Dạ, đúng thế. Giáo sư: Theo qui ước, thì những gì đã thực nghiệm được, nếm được và chứng minh được, khoa học lâu nay vẫn bảo: Chúa không có thật. Em thấy thế nào về nhận định này của khoa học? Sinh viên: Dạ, không thấy gì hết. Chỉ tin thôi. Giáo sư: Đúng. Tin. Niềm tin. Chính đó mới là vấn đề mà khoa học đang gặp. Sinh viên: Thưa Giáo sư, em xin hỏi nóng có thật không? Giáo sư: Có, chứ em. Sinh viên:Thưa Giáo sư,có thứ gì gọi được là lạnh không? Giáo sư: Có chứ. Sinh viên: Không, thưa Giáo sư. Những thứ ấy, không có thật. (Tới đây, giảng đường bỗng im phăng phắc, cả thầy lẫn trò không ai nói điều gì). Sinh viên: Thưa Giáo sư, ngôn ngữ chúng ta nói đến rất nhiều thứ nóng: có cả những cái rất nóng, siêu nóng, thiên nóng vạn nóng, nóng trung trinh, nóng chút đỉnh hoặc chẳng nóng gì hết. Nhưng lại chẳng có thứ gì gọi là lạnh, hết. Ta có thể đạt thấp xuống tới 485 độ âm. Như thế có nghĩa là: ở đó không có nóng, nhưng ta lại không thể đi sâu xuống độ lạnh hơn thế. Thật sự mà nói, chẳng có gì gọi là “lạnh” hết. Lạnh, chỉ là từ ngữ ta dùng để mô tả sự vắng mặt của cái gọi là “nóng”, thôi. Ta không thể đo lường được “lạnh”. Nóng, là năng lượng. Còn, thưa giáo sư, “lạnh” lại đối nghịch với nóng. Nó chỉ là sự vắng bóng của nóng, mà thôi. (Giảng đường bỗng lặng im như tờ...) Sinh viên: Thưa giáo sư, giáo sư nói thế nào về tăm tối? Có tăm tối không? Giáo sư: Có chứ. Thế, đêm là gì, nếu không phải là tối tăm. Sinh viên: Thưa Giáo sư, Giáo sư lại sai nữa rồi. Tăm tối là sự vắng mặt của một thứ gì đó. Giáo sư có thể có sáng riu riu, sáng bình thường, sáng quắc, sáng nhấp nháy, vv.. Nhưng, nếu không thấy ánh sáng liên tục, Giáo sư sẽ không thấy gì hết và điều đó gọi là tăm tối. Thưa, có phải thế không ạ? Nhưng, trên thực tế, tăm tối không có thật. Bởi, nếu có, thì bản thân Giáo sư, Giáo sư có thể làm cho tăm tối trở nên tối tăm hơn, có phải không ạ? Giáo sư: Vậy thì, quan điểm của em là ở chỗ nào, hỡi bạn sinh viên trẻ? Sinh viên: Dạ thưa giáo sư, quan điểm của em là thế này: Giáo sư đã triết lý và lập luận một cách sai bét. Giáo sư: Sai bét ư? Em cứ giải thích, rồi ta xem. Sinh viên: Dạ thưa giáo sư. Cho đến giờ, giáo sư lập luận theo kiểu lưỡng nguyên. Giáo sư cho rằng: đã có sự sống. Rồi, cũng có sự chết. Có Chúa tốt lành và có thần linh xấu. Giáo sư có trong đầu cái quan niệm cho rằng Đức Chúa là cái gì hữu hạn. Là, những gì ta có thể đo lường. Em xin thưa với Giáo sư, là: khoa học không thể nào giải thích được, dù chỉ là tư tưởng. Nó sử dụng điện năng và từ trường, nhưng chẳng bao giờ nhìn thấy được những thứ ấy. Và, cũng chẳng tài nào hiểu được một trong hai thứ. Nếu nghĩ cái chết là thứ gì đối nghịch lại sự sống, tức là mình đã u mê không rõ được sự thể là: cái chết không hiện hữu như sự vật hiện hình. Chết, không phải là cái gì đối nghịch lại sự sống: mà chỉ là vắng bóng sự sống, thôi. Đến đây, em xin phép được hỏi Giáo sư một câu: có phải Giáo sư từng dạy cho các sinh viên học trò của Giáo sư biết, là: họ tiến hóa từ con khỉ, có phải thế không? Giáo sư: Nếu em muốn nói đến cuộc tiến hóa tự nhiên, thì đương nhiên là như thế. Đúng là, thầy đã từng nói với các Sinh viên của thầy như thế. Sinh viên: Dạ thưa Giáo sư, có bao giờ Giáo sư quan sát sự tiến hóa của con người bằng chính con mắt của Giáo sư không?(Giáo sư lắc đầu kèm theo một nụ cười mỉm, khá ái ngại. Không biết tranh luận sẽ đi về đâu…) Sinh viên: Bởi lẽ, chưa có ai chứng kiến tận mắt công cuộc tiến hóa ngay tại chỗ. Và cũng chẳng có ai dám quyết đoán tiến hoá này là sự tăng trưởng vẫn còn đang diễn tiến. Nên, không biết là Giáo sư có dạy cho các sinh viên biết lập trường của mình không, thưa Giáo sư? Có đúng, Giáo sư không phải là nhà khoa học, mà chỉ là Giáo sư giảng dạy thôi, phải không? (Đến đây, cả giảng đường bỗng có tiếng xầm xì...) Sinh viên: Xin hỏi, có ai trong giảng đường này từng được thấy tận mắt bộ óc nhũn nhẽo của Giáo sư thầy mình không?(Giảng đường bỗng phá lên cười ầm) Sinh viên: Ai trong chúng ta từng được nghe bộ óc của ông thầy mình, từng sờ thấy, từng có cảm giác hoặc ngửi thấy óc nhũn nhẽo của Giáo sư thầy mình, không? Xem ra, chưa từng có ai làm được như thế, phải không nào. Vậy thì, theo qui luật về những gì đã thực nghiệm được, những gì khá vững chắc, và có thể chứng minh được, khoa học vẫn bảo rằng: thưa giáo sư yêu dấu, giáo sư thật ra không có óc, gì hết. Với tất cả lòng tôn kính sẵn mà các sinh viên học trò đây dành cho thầy mình, thì thưa giáo sư, làm sao tụi em có thể tin vào những điều giáo sư đang dạy được? (Giảng đường lại im lặng. Giáo sư nhìn trừng trừng vào người sinh viên vừa phát biểu. Mặt ông gồng cứng, thất thần...) Giáo sư: Thì, thầy thiết nghĩ, em cứ việc đem tất cả những thứ ấy mà đưa vào lòng tin của mình mà thôi, hỡi người bạn trẻ. Sinh viên: Đúng là như thế, thưa giáo sư… Và, sợi giây liên kết giữa người với Chúa, với Trời là NIỀM TIN, mà thôi. Chỉ có NIỀM TIN mới tồn tại làm cho mọi sự, mọi việc cứ thế mà chuyển động. Cứ thế mà có thật thôi. Truyện kể ở trên vẫn nhẹ nhàng. Chỉ có thế. Nhè nhẹ và làng nhàng, như bất cứ chuyện phiếm những kể lể. Tức, chỉ làng nhàng, kể lại để nghe cho vui. Chứ tuyệt nhiên không có ý muốn thuyết phục ai. Và, cũng chẳng có ý giảng và thuyết như một bài chia sẻ, ở nhà thờ. Giảng về niềm tin. Thuyết về niềm riêng. Có thương và có yêu. Nói cho cùng, mỗi lần phiếm, bạn và tôi không kỳ vọng coi đó như bài giảng, để thuyết phục người đọc. Chí ít, là như bài dạy của vị giáo sư trong truyện. Phiếm loanh quanh nhè nhẹ, chỉ để mua vui với bầu bạn một đôi phút. Những mong bầu bạn sẽ cùng bần đệ, ta cứ tiếp tục phiếm nhẹ như thế, trong mai ngày. Rất cầu và cũng rất mong.
Trần Ngọc Mười Hai, vẫn cứ cầu mong được phiếm nhẹ với bầu bạn ở khắp nơi.
An ninh, an bình và bất an (Lc 21: 34)
“Cầu chúc mọi người có được bình an của Chúa,nhất là trong giai đọan này”.
Lời chúc trên đây, là chuyện thường ngày, ở khắp nơi. Chí ít, là tại các quốc gia hiện có những người thuộc giáo phái cực đoan nào đó. Nhưng, an bình và bất an là hai phạm trù lúc nào cũng đối chọi nhau, như thuyết nhị nguyên. Tức, hai mặt của cùng một thực tế, rất đời thường.
Nhìn vào cuộc sống hôm nay, tại nơi ăn chốn ở rất thân và rất thương của mình, người người đều thấy chuyện này quả thật: rất đúng. Chẳng cần nhắc lại chuyện xa xôi thời Cựu Ước, mà làm chi. Chỉ cần liên tưởng đến những năm tháng gần đây, với các biến cố, như: 9/11, cuộc chiến Afghanistan, nội chiến Irắc, và các vụ nổ ở những nơi tưởng-như-an-toàn, ta vẫn nơm nớp lo sợ sẽ xảy ra ngay bên mình một tự sát ôm bom vì …đạo, hay vì thứ gì khác. Tóm lại, hơn bao giờ hết, người người cảm thấy trần gian không còn an toàn như thuở nào, nữa. Và, nhiều người cũng có ý định truy tầm nguyên do, để dựa vào đó mà phòng ngừa mọi bất trắc, có thể xảy đến. Trong truy tìm, ta nhận ra là: bất trắc xảy đến, không chỉ mới đây, do ngẫu nhiên. Nhưng, từ ngàn xưa, vào thời Đức Kitô, cũng đã có những dặn dò từ Đức Chúa, tựa như:
“Anh em hãy cảnh giác và đề phòng.” (Lc 21: 34) Hoặc: “Anh em hãy tỉnh thức vì không biết ngày nào, giờ nào chủ nhà sẽ đến.” (Mc 13: 35) Thật ra, có tỉnh thức hay vẫn còn nằm mơ, thì bất an vẫn cứ “rồi đến rồi đi”, chẳng hẹn hò. Tựa như Yu-đa Is-ca-riốt, rõ ràng là anh ta đã được báo trước để cảnh giác. Nhưng, anh vẫn xúc tiến sự việc để “bất an” xảy đến hầu thử tài ứng biến của Thầy. Cả đến vị tông đồ “trưởng thượng” là thánh Phê-rô cũng vậy. Dù được Thầy “cảnh báo” rất căng về hành vị chối Chúa sắp vi phạm, thánh nhân vẫn một mực thanh minh:
“Thưa Thầy, con sẵn sàng đến chốn tù tội, chết cũng được” (Lc 22: 34)
Xem như thế, vấn đề cần đặt ra, là: tại sao nhiều vị đã từng đề cao cảnh giác và tỉnh thức từ khuya, nhưng sao sự ác/khổ đau vẫn cứ xảy đến? Thậm chí, có vị vấn nạn cả Thượng Đế, khi khổ đau/sự ác cứ xuất hiện và tăng tiến. Như vụ 9/11 chẳng hạn, tại sao biến cố “ác độc” như thế lại xảy đến với những người hiền lành, vô tội chỉ biết đến sở, để đi làm? Câu hỏi này, đã được Anne Graham (con gái nhà thuyết giảng nổi tiếng Billy Graham), đã bày tỏ ý kiến vào năm đó, ngay sau biến cố:
“Tôi tin là, Thiên Chúa rất đau buồn về chuyện này. Cũng hệt như chúng ta vậy. Đã, từ lâu, chúng ta cứ muốn Thiên Chúa phải ra khỏi trường học và guồng máy chính quyền, các nước. Và, chúng ta không còn muốn Chúa có mặt trong cuộc đời nữa. Tôi nghĩ, vốn là Bậc Chính nhân Quân tử, tự khắc Ngài cũng lẳng lặng mà rút lui. Ngài đã ra khỏi những nơi ta đòi Ngài xa lánh. Chuyện này thật đơn giản và dễ hiểu.
Thử nghĩ mà xem, tại sao ta mong đợi Ngài chúc phúc ơn lành xuống cho ta, và che chở ta thoát khỏi các biến cố thất lợi như: thiên tai, mất mùa,giặc giã, chiến tranh, chém giết hoặc ôm bom tự sát, vv.. trong khi đó, ta mời Ngài đi chỗ khác chơi để ta rảnh tay hành động theo ý mình.
Như Madeline O’Hare chẳng hạn, cô lên tiếng không cho tôn giáo dính dự với trường học. Cụ thể, cô không đồng ý cho học sinh được phép đọc kinh trước giờ học. Và, ta cũng đồng ý.
Thậm chí, có người nói: “Không nên đem Kinh thánh vào nhà trường. Kể cả những chương đoạn nào có ghi lời khuyên nhủ của Đức Chúa, như: Chớ giết người”, ‘chớ lấy của người khác”, “hãy yêu thương người đồng loại như chính mình, vv…” Và, ta cũng đồng ý nốt với những người ấy. Đồng ý, để rồi ta thôi không cho Kinh thánh lọt vào nhà trường nữa.
Có ông được tâng làm tiến sĩ, tên Benjamin Spock, còn khăng khăng bảo: không nên la mắng, khiển trách con cái, cả vào lúc chúng hư đốn, mất cảnh giác. Tôi nghĩ, làm như thế là ta đã gây thương tổn nhân vị và niềm tự tin của chúng. Thầy cô và giám hiệu tại trường cũng về phe với những người có lập trường quái đản như ông, còn thêm rằng: ta không được quyền đánh đập hoặc kỷ luật với con em như thế. Dù, chúng có sai quấy hoặc nghịch phá trường ốc. Và rồi, hầu như chúng ta cũng nhất loạt đồng ý với những người ấy.
Có người cho rằng: hãy để cho con dâu, con gái tha hồ phá thai nếu họ muốn. Dù, họ có thổ lộ với cha mẹ mình hay không. Chúng ta cũng đồng ý tuốt luốt chuyện đó. Một số thành viên trong ban quản trị nhà trường có quyết định rằng: cứ để cho nam học sinh dù lớn hay bé sử dụng bao cao su ngừa thai thoải mái. Có như thế, chúng mới chịu khó ở lại trường mà học hành với bạn bè. Rồi nữa, với tư cách là nhà giáo, ta cũng chẳng buồn báo cáo cho cha mẹ chúng biết để có biện pháp chế tài, răn đe. Cứ thế, ta thống nhất ý kiến bằng phiếu bầu đồng loạt.
Một số chức sắc cao cấp có nói: họ chẳng thấy có vấn đề gì, nếu có ai làm điều không hay hoặc không phải ở nơi công cộng, miễn họ chu toàn trách nhiệm ta giao phó, là được. Và, về trường hợp cựu tổng thống Bill Clinton, nhiều người còn thêm: với tôi, ông ấy có lăng nhăng lít nhít chuyện trai gái ngay trong Tòa Bạch Ốc đi nữa, tôi chẳng bận tâm. Miễn sao nền kinh tế nước nhà khấm khá hơn, là tốt rồi.
Cứ thế, ngành truyền thông giải trí vẫn tiếp tục làm nhiều băng hình, phim ảnh hoặc chương trình biểu diễn phơi bày những cảnh lố lăng, giết chóc, bạo lực, phô trương xác thịt một cách trắng trợn, gây gương mù gương xấu cho con trẻ, vv...Trong khi đó, âm nhạc cộng thêm với thuốc lắc, thuốc kích dâm khuyến kích hãm hiếp, chích choác xì ke ma túy, tự tử, đều là những chuyện được mọi giới nhắm mắt, làm ngơ.
Nói tóm, toàn những cảnh đồi phong bại tục theo kiểu quỷ quái. Và, ta vẫn bảo vệ, cho rằng: những chuyện như thế là để giải khuây sau giờ làm việc mệt nhọc; không ảnh hưởng gì đến xã hội cả. Chẳng ai coi đó là chuyện nghiêm trọng, nên cứ thế tiếp tục.
Mãi đến hôm nay, mọi người mới thắc mắc không hiểu sao bọn trẻ thời nay không còn lương tâm đạo đức nữa. Chúng như đần độn đến nỗi không phân biệt được thế nào phải thế nào trái. Chúng coi nhẹ luân thường, đạo lý, cho rằng chuyện ấy là của các cụ già. Thậm chí, có em mới nứt mắt ra, đã biết cầm súng, giết người. Chẳng kể gì đến nạn nhân là ai, bạn bè hoặc thầy cô giáo.
Suy cho cùng, theo tôi thì “gieo gió gặt bão” là chuyện thường tình. Mới đây, nghe nói có cậu học sinh nhỏ viết bức thư ngỏ gửi Chúa của cậu như sau:
“Lạy Chúa, sao lúc này Chúa không ra tay cứu vớt cô bé hiền lành kia?. Cô ta có làm gì đâu, mà lại bị bắn chết vô lý như thế? Cô ta rõ ràng là đang ngồi học bài mà cũng bị giết đấy.”
Ít hôm sau, cậu nhận được thư hồi âm từ một người:
“Này cậu bé biết lo cho người khác, Ta không được phép có mặt vào trường của cậu nữa rồi. Nhưng Ta cảm ơn cậu đã viết thư cho Ta để thăm hỏi lý do. Ký tên: Chúa của con”
Xem như thế, ngày nay, dân chúng tỏ ra ngây thơ hạch sách Thiên Chúa đủ điều. Nhưng hãy tự hỏi lòng mình xem tại sao thế giới của mình đi dần đến chỗ diệt vong, sa hỏa ngục? Thật nực cười khi ta chỉ tin vào những gì báo chí truyền thông nói đến, nhưng lại vẫn muốn đọc kinh thánh xem trong đó nói gì, để còn chỉ trích, chê bai. Thật là lố bịch, khi ta biết rằng người nào cũng muốn lên Thiên Đường hết; nhưng, lại chẳng tin ai, chẳng tin tưởng điều gì. Chẳng làm những điều kinh thánh dạy.
Nực cười hơn, có người còn nói họ tin vào Chúa Mẹ; nhưng mặt khác, vẫn theo vết chân kẻ xấu, làm chuyện tồi bại ác độc không thua ai. Chẳng khác gì Sa-tăng quỷ dữ. Vì, Sa-tăng xưa cũng tin vào Chúa nhưng khi hành động lại trái nghịch hẳn điều Chúa dạy…
Vâng. Ý kiến của cô Anne Graham còn nhiều hơn nữa. Nhưng, nói cho nhiều, cô cũng chẳng trả lời được hết các vấn nạn mà đời thường vẫn đưa ra. Vấn nạn về khổ đau. Về sự dữ/ác thần vẫn xảy ra hằng ngày, như cơm bữa. Cuối cùng, thì Anne Graham hay người nào đi nữa, cũng chỉ gộp chung điều này: Sự xấu/ác độc xảy ra là do con người. Thời ban sơ, người Do Thái hình dung chuyện này bằng hình ảnh ‘con rắn ở vườn Địa Đàng’. Hoặc, chuyện Ca-in giết em mình, chỉ vì ganh ghét, xúc phạm. Và cứ thế, hàng loạt những biến cố, sự kiện khác nhau nối tiếp xảy đến cả ở ngoài đời, lẫn nơi những kẻ cùng trong nhà Đạo. Cả trong Cựu Ước lẫn Tân Ước, đều thấy kể.
Thời nào cũng vậy, các triết gia đã quả quyết: khổ đau/sự ác luôn đi kèm với tự do của con người. Sự ác là hậu quả do con người tạo ra. Có triết gia còn nói: con người thoạt lúc ban đầu, bản tính rất thiện, sở dĩ diễn biến thành xấu/ác, khổ đau là vì có đời sống xã hội, tập quần. Tân Ước, cũng diễn tả Giáo hội thời ban sơ đã kinh qua những bất an/trắc trở, đầy ác tính: “Ta đến không phải để đem bình an đến với mọi người, mà là tình cảnh cha xa con, vợ xa chồng”.
Lâu nay, mỗi lần thấy có sự ác/khổ đau xảy đến, nhiều vị cố tìm cách trả lời về nguyên nhân dẫn đến. Nhưng thật ra, thì từ khi con người có mặt trên đời, thì đau khổ/sự ác đã có sẵn hoặc xuất hiện cùng lúc nhân gian. Có lẽ vì thế mà, tiếng nói đầu tiên của bé em khi chào đời là tiếng khóc. Khóc trước nỗi vui của cha mẹ đang đón chờ.
Thành thử, có làm gì và hỏi gì đi nữa, thì khổ đau/sự ác vẫn luôn có mặt cạnh con người. Vấn đề là, đừng tìm hiểu nguyên nhân/diễn biến. Chỉ nên đáp ứng phải chăng trước các tình huống xấu nhất, mà thôi. Bởi, dù có hỏi nhiều cũng chẳng giải quyết. Chỉ gây thêm tranh cãi, bất bình. Chi bằng, ta trở về với Lời cảnh báo, khuyên nhủ của Đấng từng chấp nhận khổ đau, để ta được cứu rỗi.
Và đây, là bằng chứng:
“Phúc cho ai chịu ưu phiền, đau khổ, vì họ sẽ được ủi an”. (Mt 5: 5)
”Nếu ai muốn theo Tôi, hãy chối bỏ chính mình, vác lấy thập giá (khổ đau) của mình và hãy theo Tôi.” (Mt 17: 24)
Hoặc:
”Khi thấy những điều này xảy đến, các con hãy biết là Nước Trời đã gần kề.”
*
Với lời cảnh báo và khuyên nhủ trên, những ai từng kinh nghiệm về khổ đau/sự ác hãy biết cho rằng: rồi ra mọi người sẽ được ủi an, chúc phúc. Hãy chối bỏ mình mà theo Ngài. Vì, có dấn bước theo Ngài, ta mới hy vọng đạt Nước Trời. Nơi, hạnh phúc diễn ra ngay ở chốn dương gian cuộc đời, nơi ta sống.
Trần Ngọc Mười Hai có những suy nghĩ khi bản thân cũng giáp mặt với khổ đau.
“DÌU NHAU ĐI CHUNG MỘT NIỀM THƯƠNG” ( Lc 6: 20 - 23 ) “Hãy vui sướng trong ngày ấy, hãy nhảy mừng vì này: phần thưởng các ngươi sẽ lớn ở trên trời” Trong những khoảnh khắc kéo dài cả cuộc đời, người dân thị thành thường vẫn có những thắc mắc và vấn nạn về cuộc sống của chính mình. Thắc mắc về chuyện Đạo. Về giữ Đạo cho đúng nghĩa tên gọi của nhà Đạo. Của đường đời đi Đạo. Trong quá trình đi Đạo và giữ Đạo, có những lúc người tín hữu rất chăm đã có không ít hoài nghi về điều mình nghe, biết. Ở vào giây phút rất căng ấy, có khi mình cũng đã hoài nghi cả những gì mình đang rao truyền, nữa. Dẫn chứng các trường hợp kể trên, bạn cũng như tôi, nếu nỗ lực một chút rồi cũng tìm ra thôi. Nó nhan nhản trên sách vở, báo chí, truyền thông, đủ cả. Nhưng, vào dạo gần đây, với phương tiện truyền thông/kỹ thuật như các trang nhà, điện thư, chit chat… bạn và tôi cũng nhận ra điều ấy, thật không khó. Cụ thể như bức điện thư mà phận hèn bọn tôi vừa nhận được là những giòng chảy rất thân và cũng rất thương từ bạn bè thân quen ngày trước. Điện thư là dòng tâm sự sầu buồn, như sau:
“Sau một thời gian dài nguyện cầu và xin cầu nguyện rất hăng, mà vẫn chưa hoặc không được Chúa nhận lời, nhiều lúc tôi cứ nghĩ các cụm từ như “thử thách”, Thánh Giá Chúa gửi” v.v... Chỉ để an ủi lòng mình, mà thôi. Tôi thực tâm đã có lúc muốn ngã lòng…. Trong sống thực ở đời, khi dạy Giáo Lý hay khi nói chuyện, khi viết lách, trao đổi… tôi vẫn chủ trương đề cao tình yêu cao sang, tuyệt đối của Thiên Chúa. Đồng thời, gạt bỏ quan niệm cho rằng “ấy là hình phạt Chúa gửi”... Thế nhưng, tự thâm tâm, trước những “im lặng dễ sợ” của Thiên Chúa trong đáp ứng lời khẩn khoản cầu xin, tôi đã có lần suy nghĩ… hay Chúa lại đã dùng hình phạt đối với tôi? Nhiều lần nghe bè bạn nói tôi thấy cũng rất đúng, chẳng gia đình nào là hoàn toàn hạnh phúc, hết ! Trăm phần trăm hạnh phúc, như nhiều người vẫn vọng tưởng. Nhưng đối với gia đình người Công giáo có hiểu biết, thì thường có sự độ lượng, và cái-gọi-là chín bỏ làm mười”…
Như thế là, qua cụm từ Chúa đã phạt tôi..”, “đều là thử thách”, “Thánh Giá Chúa gửi”, “thực sự có lúc ngã lòng”…bạn và tôi cũng muốn hàm ngụ một điều, rằng: nhiều lúc mình thấy cũng có sự lung lạc nơi niềm tin đang lĩnh nhận ? Thật ra, ở vào một số trường hợp, không hẳn là như thế ! Tuy nhiên, điều dễ thấy nơi một số Giáo Dân bình thường ngoan đạo, thì khi gặp khó khăn hoặc sự cố xảy đến với chính họ; nhất là, khi có mất mát, chia lìa những gì thân thương, mật thiết, thì lung lạc niềm tin cứ thấy xuất hiện. Thắc mắc hay tự nhủ thật ra cũng là điều dễ hiểu thôi. Dễ hiểu, vì các biến cố xảy đến với mình, với người nếu không là mất mát hao hụt điều mình sở hữu, cũng đều là tình huống lung lay, dễ làm ta lung lạc. Lung lay, và thầm hỏi: đi Đạo ta vẫn cứ đi, nhưng nào thấy vui trong bụng… Thành thử, thắc mắc hỏi rằng: đã thấy vui chưa đời đi Đạo? chính là vấn đề. Chính đó là điều, mà bạn và tôi vẫn cứ hay gặp. Mà, đã là vấn đề, thì bạn và tôi, ta cứ phiếm. Phiếm cho nhiều. Tản mạn cho sâu cho sát. Chỉ để mua vui. Dù chỉ vui dăm phút, lại về chốn cũ…
Thoạt kỳ thủy, từ lúc bước chân vào đời “đi Đạo”, bạn và tôi đã thấy mình phần nào có dấn thân. Cái dấn bước đưa thân, đã đẩy tôi và bạn tiếp cận lời vàng lành thánh, mà có người đã cả gan nôm na gọi bằng những lời lẽ rất thi tứ, như: Lời buồn thánh”, hoặc “Phúc Âm buồn”. Vâng, nghiêm chỉnh mà nói, thì ngay từ đầu, Mẹ Thánh Giáo Hội đã chuyển đến bạn và tôi những lời Vàng-lành-thánh-mà-sao-vẫn-cứ-buồn, như sau: “Vui lên đi nào, thiếu nữ Xi-on” (Xh 3, 14) hoặc: “Mừng vui lên đi, Giê-ru-sa-lem hỡi! Hân hoan lên mà hưởng nguồn an ủi chan hòa.”
Tiếp đến, tôi và bạn còn thấy Lu-ca thánh sử vẫn cứ luôn nhắc nhở mọi người: “Này Da-ca-ri-a ông đừng sợ! Ông sẽ mừng vui hoan hỉ.” (Lc: 1, 13- 14)
Và rồi, cả đến Đức Ma-ri-a cũng nhận được lời hưng phấn khích lệ như thế:
“Mừng vui lên đi, hỡi Đấng đầy ơn phúc.” (Lc: 1, 28)
Đáp lại, Đức Ma-ri-a cũng tỏ lộ niềm riêng kia:
"Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa, thần trí tôi hớn hở vui mừng, vì Thiên Chúa, Đấng cứu độ tôi. Phận nữ tỳ hèn mọn, Người đoái thương nhìn tới; từ nay, hết mọi đời sẽ khen tôi diễm phúc” (Lc: 1, 46 - 47)
Và, cứ thế rồi lại cứ thế, bàng bạc trong Tin Mừng Nhất Lãm với 4 tác giả của Lịch Sử Thánh, bạn sẽ thấy xuất hiện những cụm từ rất “vui lên!” Thay vì, như vị nào đó đính kèm thêm hình dung từ “buồn” vào các cụm từ trên, bạn cũng như tôi, ta chỉ thấy các từ ngữ vui như: “hân hoan”, “mừng vui lên”, “tin vui”, “an bình”, “vui lên đi”… Như vậy có phải vì buồn quá nên mới được bảo ban khuyến khích: vui lên ?
Nhưng, nếu có ai đó vẫn thấy băn khoăn chưa dứt hoặc chưa đủ sức thuyết phục, thì hỡi bạn, những người anh-em-ngoài-Đạo của tôi ơi, ta hãy nghe lời khẳng định của một tác giả mà uy tín của ông cả về Đạo lẫn đời đã không phải là nhỏ, như sau: “Đạo Ki-tô là Tin Mừng, Tin Mừng theo Thánh Mát-thêu, Tin Mừng theo Thánh Mác-cô, Tin Mừng theo Thánh Lu-ca, Tin Mừng theo Thánh Gio-an. Tin Mừng và Tin Mừng. Tiên vàn là Tin Mừng, và chung cuộc là Tin Mừng. Có Tin Mừng mới có Ki-tô giáo. Còn là Tin Mừng Đạo Chúa Ki-tô mới còn. Ki-tô giáo giả sử hết là Tin Mừng thì dẫu có là đạo lý cao siêu tốt lành đến đâu đi nữa, thì cùng lắm cũng chỉ đáng cất tủ kiếng giữ gìn như một di tích lịch sử, không đáng loan báo, rao giảng làm gì.” (Nguyễn Ngọc Lan, Chủ Nhật Hồng Giữa Mùa Tím, tr. 317).
Vâng. Đúng thế. Đạo là “niềm-vui-tuy-vậy”. Là sự vui mừng. Nhưng làm thế nào để nhận ra được sự hân hoan, niềm-vui-tuy-vậy trong những lần loan báo Tin Mừng, như thế ?
Thì đây, bạn ạ. Mời bạn và tôi, ta cứ dấn bước thăng trầm mà tìm hiểu Lời vàng lành thánh kia, bằng cả tâm hồn của một “kẻ hèn mọn”. Vì ngay như Đấng “Đầy-Ơn-Phúc”, tức đầy những sự vui và mừng như Đức Ma-ri-a, Mẹ của Chúa, cũng đã tự cho mình là kẻ mọn hèn, cơ mà. Có mừng và có vui như chúng ta, Ngài mới hiểu được sự nghịch lý, nghịch thường trong văn bản mà ta gọi là “Tuyên ngôn vui” về Đất Nước của những “niềm-vui-tuy-vậy” trong Sách đầy những Lời Vàng lành thánh, sau đây: “Phúc cho những kẻ nghèo khó, vì Nước Thiên Chúa là của các ngươi. Phúc cho những kẻ phải đói bây giờ, vì các ngươi sẽ được no đầy ! Phúc cho những kẻ phải khóc bây giờ, vì các ngươi sẽ được vui cười ! Phúc cho các ngươi, khi thiên hạ oán ghét các ngươi, khi họ loại các ngươi đi cùng sỉ mạ, và khử trừ tên các ngươi như đồ xấu xa vì cớ Con Người. Hãy vui sướng trong ngày ấy, hãy nhảy mừng vì này: phần thưởng các ngươi sẽ lớn ở trên Trời. Vì cũng cách ấy, cha ông chúng đã đối xử với các tiên tri.” (Lc: 6, 20- 23).
Quả là nghịch lý. Đúng là chuyện ngược đời. Với những kẻ sầu buồn đang đói, nghèo, khóc lóc hoặc bị ghét bỏ, hạ nhục, khử trừ đủ điều, mà lại bảo: Hãy vui lên, vì như thế là có phúc, thì thật là khó lòng. Rất khó để mà tin. Nhưng, vấn đề là ở chỗ: Ai thấy đuợc sự mừng vui trong khi, thực tế cuộc đời cho thấy dẫy đầy sự hiện diện của ác thần, của sự dữ, của những đau buồn. Thậm chí, còn gây nhiều cảnh chết chóc, khóc than nữa. Giải thích làm sao về những hiện tượng đang xảy ra như thế ? Trả lời vấn nạn này, thiết nghĩ ta cũng nên trở lại với Lời vàng của Đấng từng đưa ra “niềm vui 8 điểm”. Nếu cho rằng, việc tuyên bố “Phúc cho ai…” là chuyện vui đáng mừng rực rỡ, thì hẳn người người sẽ phải đồng ý coi lời tuyên bố trên đây như hiến chương hiến pháp của Nước Trời ở trần gian. Vả lại, ngay trong lời tuyên bố đầu đời, Đức Chúa cũng khẳng định lý do của sự mừng và vui kia. Để giúp người đọc Kinh thánh hiểu thêm về “tuyên bố 8 điểm” này, cố giáo sư Kinh Thánh, cha Nguyễn Thế Thuấn, DCCT, có nói: “Những lời chúc phúc của Chúa Giê-su là ‘tuyên bố’, là ‘lời hứa’, Nước Thiên Chúa được tuyên bố hứa cho hạng nghèo khó như là ‘sở hữu’ của họ. Bởi tính cách ‘tuyên bố’,’hứa’ đó của các lời chúc phúc, thì các lời chúc phúc trở nên ‘mặc khải’ của Chúa Giê-su về chính mình Ngài. Ngài là Đấng được sai đến cho để loan báo Tin Mừng cho người nghèo khó.” (Nguyễn Thế Thuấn, Tin Mừng Nhất Lãm, tr. 179).
Hiển nhiên là như thế ! Nhưng, tại sao những người đã nghe và lãnh hội Tin Vui an bình ấy, lại chưa có được một phản ứng đúng đắn về điều Đức Chúa mặc khải. Phải chăng, vì bạn và tôi “có tai để nghe” vẫn chưa nghe cho hết, cho thủng chăng? Phải chăng, ta vẫn chưa biết cách lắng nghe, hoặc chỉ “nghe qua rồi bỏ” mà thôi? Giả như, bạn và tôi biết lắng nghe, hoặc nghe theo phương cách tích cực, tức nghe mà không mang trong đầu một định kiến nào; hoặc, nghe mà không dự trù khích bác những điều mình vừa nghe, thì sự thể xảy ra sẽ khác hẳn. Nói cách khác, bạn và tôi tuy nghèo về khía cạnh nào đó, những vẫn giàu và vẫn có. Giàu và có về tinh thần. Giàu, là vì họ chưa tạo cho mình thái độ đích thực của người nghèo. Họ chưa có tinh thần nghèo khó theo đúng ý nghĩa của nó. Người nghèo đích thực, là người không có gì để phải sợ mất. Họ chẳng có gì mà phải lo âu, hãi sợ. Lo và sợ vì biết mình sẽ thiếu hụt, hoặc mất mát. Họ là những người luôn hài lòng với thân phận bọt bèo của mình. Nói cách khác, người nghèo thật sự là người luôn vui vẻ, hài lòng và dễ chịu với đủ mọi thứ. Với tất cả mọi người. Xem như thế, có thể nói ngược lại mà không sợ sai sợ quấy, là: ai không có thái độ vui tươi, dễ chịu, có phần chắc là họ không đích thực là người nghèo. Hoặc, xưa kia cũng nghèo đấy, nhưng nay thì chẳng gọi được là nghèo, nữa. Nhìn từ góc độ nào đó, có thể bảo: những người như thế, cũng giàu đấy, hoặc đã có tinh thần hoặc phong thái rất giàu, rồi. Đến đây, hẳn sẽ có bạn nêu thắc mắc, bảo rằng: Phúc Âm tiếng gọi là Lời của Đức Chúa Hạnh Phúc, nhưng sao các chi tiết, các truyện kể trong Sách viết về Lời Ngài, đôi khi phảng phất một nỗi sầu buồn nào đó vậy ? Phải chăng đó là thứ buồn tình trong cuộc sống, sầu não trong nhận định? Tỉ như nhận định về sự Thương Khó của Đức Giê-su Ki-tô, hoặc về chuyện Chúa nói trước về những điều xảy đến nhân ngày cánh chung…, về những xung khắc bất đồng giữa người mẹ và con gái/con dâu của mình ? Giữa con trai với cha ruột của mình ? Buồn về những chuyện vẫn cứ xảy đến từ thời nào tới giờ…? Tưởng cũng không nên đi quá sâu vào lĩnh vực chú giải. Bởi lẽ, phải hiểu Kinh thánh trong bối cảnh ngôn ngữ của Mạc Khải mà Đức Giê-su mang đến, như tác giả Joel B. Green, từng nhận như sau:
“Rõ ràng là Tin Mừng theo Thánh Lu-ca đáng được mệnh danh là Phúc Âm về sự vui mừng. Nói chung, các dẫn chứng về sự vui mừng đều tập trung vào diễn từ chung luận và lời nguyện cầu. Chúa Giê-su đã làm sáng tỏ nền tảng và bản chất của sự mừng vui bằng một khẳng định: đó chính là quà tặng Ngài ban cho những ai tin vào Ngài. Dù việc ra đi của Ngài có đem lại nỗi sầu buồn cho các môn đệ thế nào đi nữa, chuyện mang dáng dấp nghịch lý, đó là nền tảng cho sự mừng vui. Bởi, Ngài ra đi là để về lại với Cha. Và, dù xa rời đồ đệ đàn con, cuối cùng thì Ngài vẫn sẽ quang lâm đến lại. Vì thế nên, các môn đệ rất vui mừng khi gặp lại Ngài. Tuy nhiên, Chúa có đi thì Thánh Thần Ngài mới đến ngự giữa anh em. Nhìn theo chiều hướng đúng đắn này, mọi sầu não nơi đồ đệ lại biến thành niềm vui chính đáng. Và, không ai có thể dập tắt niềm vui mừng ấy được. Và Ngài cũng chuẩn bị cho họ trở thành nhân chứng và giúp họ họat động trong thế gian. Dù hoàn cảnh có trở nên tốt xấu thế nào đi nữa, thì niềm vui Ngài mang đến, cũng sẽ được hoàn tất nơi họ”. (Joel Green, Jesus & the Gospel, Inter Varsity Press 1992, tr. 394 - 396)
Để minh họa thêm cho quả quyết trên, có lẽ tôi và bạn cũng nên nhắc lại lời khẳng định của Đức Gio-an Phao-lô II qua bài phát biểu hôm 1.4.2004. Hôm ấy, Đức Giáo Hoàng trích thuật Thánh Vịnh, nói rằng:
“Kết hợp với Chúa là cội nguồn cho sự an lành, mừng vui và thanh tĩnh”. (Tv 25)
Còn một điều đáng để ta ưu tư, là: mặc dù ta đã có những quả quyết của Lời Chúa đã từ lâu, nhưng sao thấy có quá nhiều người nhà Đạo vẫn không hoặc chưa bộc lộ được sự mừng vui Chúa mời gọi. Đức Chúa đã và vẫn đang khuyên mọi người hãy cứ vui đi. Hãy mừng và vui luôn mãi. Vì, Ngài chính là Niềm An Vui, đã tỏ bày:
“Mỗi khi làm việc này, các con hãy nhớ đến Thầy.” (Lc: 22, 19)
Nhớ đến Ngài, thật sự không phải chỉ là nhớ đến những tình huống sầu buồn Ngài gánh chịu trong đêm khổ nạn, hôm ấy. Nhưng, vẫn phải nhớ rằng Ngài đã sống lại. Và, ngài sống lại trong hân hoan, mừng rỡ. Ngài đã ủy thác con cái Giáo Hội và xin Cha Ngài tha thứ hết mọi người. Vì họ không biết mừng vui đón nhận Tin An Lành. Và cuối cùng, Ngài sai phái đàn con yêu của mình tiến bước ra đi, trước khi ngày về với Cha, như sau: “Này Ta sai các con đi đến đất miền tận cùng trái đất đem Tin Vui rao giảng cho người nghèo khó.” (Lc 24, 49)
Lời sai phái dặn dò là như thế. Và, câu khuyên răn từ Ngài, là như vậy. Tuy nhiên, có lẽ vẫn có nhiều người chưa được thuyết phục cho lắm. Những người vẫn coi đây là chuyện xưa tích cũ, cách nay hơn hai ngàn năm, có lẻ. Những chuyện không là vấn đề thời đại. Nếu như thế, nhờ bạn chuyển đến các “Thánh Tô-ma” của thời đại truyền thông vi tính, rất hôm nay. Xin nhờ bạn chuyển tải một truyện kể rất ngắn, còn nóng bỏng, như sau:
Mới đây, CNN Hoa Kỳ vừa loan tin có một nhà tâm lý khoa học đã khám phá ra loại vi khuẩn mới, rất đáng sợ.Vi khuẩn này rất dễ lây nhiễm tỏa lan đến được hàng triệu người, trên thế giới, do tính dễ tiêm nhiễm của nó. Cùng một lúc, các tổ chức Y Tế Toàn cầu, cũng vừa cảnh giác mọi người rằng vi khuẩn ấy đã nhanh chóng lan tràn đến từ người này sang người khác, trên thực tế. Và, họ gán cho vi khuẩn mới phát hiện này một cái tên nghe cũng dễ chịu: vi khuẩn Nụ Cười Mỉm. Tổ chức Y tế Quốc tế nói trên, đã nhắc nhở mọi người hãy đề cao cảnh giác, kẻo vướng mắc phải vi khuẩn hiểm nghèo, lạ lùng ấy. Nhưng không xong. Đã trễ tầu. Chừng như, tất cả mọi người đều đã bị vi khuẩn trấn át, xâm nhập. Bởi, nó xuất phát từ bạn bè người thân, vào thời điểm bất chợt, không hề biết. Nhưng không sao. Sự việc đã ra như thế, chúng tôi vẫn cầu mong và căn dặn quý vị thêm điều này: - Hãy cứ duy trì Nụ Cười Mỉm, dù nỗi sầu buồn có đầy ắp tâm tư của quý vị. - Hãy đón nhận cầu vồng khởi sắc gây hưng phấn ấy, dùng nó làm thang leo lên đến nóc trời, nay ta gọi là Vương Quốc của Thiên Chúa. - Hãy cứ để cho nụ cười ấy quên tắt trên môi, cho thoải mái. - Và cứ thế để tiếp nhận đều đều niềm ủi an cho riêng mình mỗi khi tinh thần xuống thấp. - Hãy giữ gìn các bạn nào vốn làm rực sáng đời mình. - Hãy cố đạt cho được những thứ gì mắt mình luôn chiêm ngắm. - Giữ vững niềm tin khi mối nghi nan xâm nhập lòng mình, không báo trước. - Hãy cứ tỏ ra thật dũng cảm để hiểu rõ lòng mình. - Cứ kiên nhẫn chấp nhận sự thực; và quan trọng nhất là... - Cứ mang thật nhiều tình thương hầu gửi đến hết mọi người.
Nếu bấy nhiêu điều chưa đủ để bạn và tôi xác tín về sự cần thiết phải vui và cũng mừng khi đang có trước mắt cả một đời người đi Đạo. Và, đây chính là một trong những tin nhanh mình vừa nhận. Phim “The Passion of Jesus Christ” của đạo diễn nguời Úc là Mel Gibson, dù đã ghi lại toàn ảnh hình buồn về giây phút cuối của Đức-Chúa-Làm-Người, cũng đã hái gặt được nhiều kết quả mừng vui, chưa từng thấy. Nhờ có xem phim đầy cảnh sầu buồn – bức xúc này, mà muôn vạn người thưởng lãm đã biết quay trở về với Chúa. Về với Tin Vui và Mừng, Ngài giảng rao. Như thế, há không phải là dẫn chứng hùng hồn cho niềm vui đi Đạo sao?
Trần Ngọc Mười Hai, và những cảm nghiệm vui buồn lẫn lộn
Thiên đàng hỏa ngục ba bốn bên
Trong sống đạo hằng ngày, nhiều lúc cũng nên ra khỏi xóm giáo của mình một đôi lần, mà đến với xứ đạo khác xem các đấng bậc, người anh người chị của mình đang sống đạo và hành đạo ra sao. Với ý nghĩ đơn thuần ấy, bần đạo đã làm một cuộc “đạo du” bỏ túi, mon men đến các kệ sách nhà thờ nọ vùng ngoại ô Sydney, mà tìm hiểu. Vừa đặt chân đến, cũng đã thấy nhiều chuyện “hỡi ôi!” vẫn cứ xảy ra ở vùng đất mệnh danh là văn minh Tây Phương “miệt dưới” này. Sự thể là, hôm ấy một đẹp trời, bần đạo nhặt được tờ “Bản tin Giáo xứ”, liếc qua một vòng với cái nhìn thám tử xem trên trang giấy trắng vàng khổ nhỏ có gì lạ. Bèn nghe văng vẳng đâu đây bài hát trẻ khi xưa:
Thiên đàng/hoả ngục hai bên, Ai khôn thì dại, ai dại thì sang… ...Linh hồn phải giữ linh hồn, Đến khi gần chết được lên Thiên đàng…
Tình thật, bần đạo chẳng dại mà lạm bàn về bài hát vu vơ của đàn trẻ làm chi cho thêm ...bận lòng tướng quân. Chỉ xin có một thoáng nhận định về điều mà các đấng bậc nhà xứ vẫn cứ ghi trên giấy trắng mực đen nhà thờ, với đoạn văn câu hát: “đến khi gần chết được lên thiên đàng”. Ghi lại bài hát của đám trẻ ở nhà, là các cụ vẫn thuộc nằm lòng và vẫn dựa vào lập trường của người xưa. Lập trường, có những nhận định rất ư là thiếu khoa học. Chọc giận cả niềm tin yêu thần thánh, bên Đạo. Mải tìm cho ra một khẳng định thông suốt về Nước (còn gọi là Thiên Đàng, hoặc Nước Trời ở trần gian), từ các vị là bậc thầy thông thái, bần đạo bắt gặp một đoạn văn được giáo sư Nguyễn Thế Thuấn viết hồi thập niên ’60, như sau:
”Chúng ta tưởng là biết Tin Mừng, biết Phúc âm lắm, vì chúng ta cũng nhớ ít nhiều mẩu truyện, ít lời của Chúa. Các bài Tin mừng đọc trong thánh lễ, nhưng chúng ta không nghĩ ngợi gì cả, dường như không có vấn đề hay thắc mắc. Và nói đến thắc mắc, chúng ta nghĩ là đã phạm đến đức tin rồi. Có thắc mắc thì chúng ta đã sẵn có những lời giải rồi.
Người tín hữu thường hay vịn vào các cha (phải thành thật thú nhận: hàng giáo sĩ nhiều khi ỷ lại vào một vốn học vấn quá nghèo nàn, và cũng không bao giờ đặt vấn đề lại. Giải thích nhiều khi chỉ là giải thích thiêng liêng vu vơ nào đó, hay trả lời cho những khó khăn đâu đâu ấy) mà các cha nhiều khi giải đáp là cốt để gỡ mặt, và cũng vội giật đi ngay vì sợ nguy hại đến lòng đơn thật của con chiên.
Chúng ta không còn dồn việc khảo sát vào điều cốt yếu. Những cái bắt chúng ta dừng lại nhiều khi chỉ là những chi tiết nhỏ về văn chương hay lịch sử. Có khi mánh lới hơn, chúng ta tìm nơi Tin Mừng những gì để viện lý cho ước nguyện, lập trường, hay kiểu đạo đức của riêng ta.” (NTThuấn, Sách Thánh và Mặc Khải Cứu Rỗi, tr. 96)
Quả là, tính đơn sơ thành thật của đám con chiên hiền lành ở huyện vẫn bị lung lay, dễ nguy hại. Mối nguy này, không do chính họ – (thật là tội nghiệp nếu ta lại quy lỗi cho các tín hữu ngây thơ ít biết đến nghiệp và tội), mà do các đấng bậc vị vọng trong Giáo hội quanh năm suốt tháng cứ rót nhỏ vào tai các thần dân: những là, thiên đàng và hoả ngục hai, ba, bốn bên… Rõ ràng, sứ vụ rao giảng của Giê-su Đức Chúa là “Nước Trời”. Chứ đâu có là hoả hay địa ngục nào đâu. Ngục thất trần gian nào mà có lửa để luyện trui những tội và tội. Đức Chúa của ta đâu có mặc khải những chuyện tiêu cực, khiến ta cứ hết lo lắng rồi lại bối rối. Ngài có bao giờ nói đến Thiên Đàng theo nghĩa không gian, nơi chốn. Cũng tội. Ngài vẫn chỉ rao giảng về “Nước” mà thôi . “Nước” của Ngài chẳng bao giờ định vị ở đàng Thiên hoặc đàng Trời theo nghĩa không gian ba bốn chiều, đâu. Kìa, ngay từ đầu, ở Tin Mừng Matthêu 1:15, 4:17, Ngài đã chẳng bảo: “Thời buổi đã mãn và Nước thì đã gần bên. Hãy lo hối cải và tin vào Tin Mừng” là gì. Tin Mừng là tin rất hồ hởi để ta mừng vui về “Nước” mà Ngài từng bôn ba rao truyền. Từ sứ vụ Galilê (Mt 4:23, Lc 4:43), cho đến việc chọn lựa đồ đệ để rồi sai đi tiếp bước chân mềm tông đồ Hội thánh (Mt 10:7, Lc 10: 9-11, Mc 6:12). Rồi, đến phút giây cực hình mình chịu nhận, Ngài vẫn kiên trì loan báo về Nước (Mt 24:14). Cả khi sống lại thật, Ngài đã hiện ra với các đồ đệ thân thương và cũng lại nói về Nước (Cv 1, 3)
* Tóm lại, suốt đời giáp mặt với loài người, Đức Giê-su chỉ nói và loan truyền duy nhất có một điều: là Vương Quốc của Ngài, mà thôi. Sở dĩ các “đấng bậc” cứ đem cảm tính người đời vào lời rao giảng về Nước, là vì các cụ vẫn còn lẫn lộn về đặc thù không gian và thời gian. “Nước” của Chúa đây, không có các tưởng tượng về nơi chốn cũng như thời điểm, để diễn ra. Là đấng bậc vị vọng, mà hiểu theo nghĩa môn đệ theo bước chân mòn hành giáo của Đức Kitô, lẽ đáng ra các cụ phải tiếp nối công cuộc rao giảng về “Nước”, mới đúng. Ngược lại, các cụ chỉ thích nói về lửa (hoả ngục) và đất (địa ngục) thôi. Nói về lửa và đất thì dễ và sướng hơn. Vì mọi người nghe, sẽ hiểu và sợ. Có người vẫn rất ư là sợ, khi nghĩ rằng: hễ đã phạm tội dù tội nhẹ cũng sẽ bị trừng phạt. Bị tống vào lòng đất, ở nơi đó sẽ chịu cảnh lửa đốt, rất nóng bỏng. Và, lâu ngày chày tháng, chiên con dễ bảo của các đấng bậc rồi ra cũng suốt đời sống trong lo âu, sợ sệt. Sợ tội. Sợ hoả ngục. Và, sợ luôn “cha” nữa. Mới đây, dù đã hơn 40 năm sau Công đồng Vatican II, vẫn có người (một thành viên ca đoàn nọ) chạy đến hỏi han bạn bè chỗ thân quen, rằng: mình vừa bị cảm cúm, nên không biết bỏ đi lễ Chúa nhật hai tuần liền, như thế có mắc tội không? Có phải đi xưng tội lỗi gì không? Nếu mình không xưng tội như các cha vẫn khuyên, thì một mai khi qua đời rồi, chắc phải xuống hoả ngục thì chết…. Ở đây, có lẽ cũng chẳng nên bàn bạc dài giòng thêm về lý do gây nên sợ sệt, rất vẩn vơ. Bởi, có thể nguyên do không phải vì các đấng bậc nhà mình. Nhưng, rõ ràng là các cụ nhà ta vẫn không tạo được thói quen thường xuyên, là: chỉ rao giảng những điều tích cực về Nước Chúa. Nước Trời mà Chúa hằng bảo ban. Điều tích cực cần rao và giảng nhất, chính là: Nước Chúa đã gần kề. Và, “Nước” của Ngài không mang tính không gian, như lơ lửng ở 9 tầng mây trắng cứ tung tăng, vần vũ; hoặc, ở vườn Ê-đen thưở nào. Và, động từ “đến” ở thì tương lai “sẽ” vẫn không mang ý nghĩa thời gian, nào hết. Có quan niệm “Nước” của Đức Chúa cho đúng thần học của Đạo, ta mới cảm nhận được ý nghĩa của trạng huống an bình. Nơi đó, chỉ có tình yêu và hạnh phúc, thôi. Vẫn hơn một lần Đức Chúa từng quả quyết: nơi nào có tình yêu thương và hạnh phúc, tức ở đó chắc chắn có Ngài hiện diện. Bởi thế nên, khi rao giảng cho người ở trong cũng như ở ngoài Do Thái, Đức Kitô vẫn hàm ngụ một trạng thái rất hài hoà, với mọi người. Một trạng huống vốn chìm vào quên lãng, đã từ lâu. Chìm đến độ, dân con nhà Đạo thời tiên khởi gọi là “địa đàng thời ban sơ”. Với cảm nhận như thế, người đi Đạo và hành Đạo hẳn đều đã hiểu, rằng “Nước” của Thiên Chúa đã và đang xảy đến với các vị lành thánh, rất công chính. Những vị này, chỉ biết có thương yêu đùm bọc lẫn nhau. Biết dắt dìu nhau thực hiện lời dạy chính yếu của Ngài. Cũng trong chương sách bàn về Lời rao giảng của Đức Kitô, cố giáo sư Nguyễn Thế Thuấn đã hơn một lần khẳng định:
“Điều Chúa Yêsu chủ trương thì rõ: Việc làm và lời giảng của Chúa Yêsu phải được coi như chứng chỉ của Nước Thiên Chúa khai mạc và nhìn nhận sự hiện diện của Nước Thiên Chúa đó không phải nơi dấu lạ trên trời dưới đất, nhưng là chính ở nơi con người của Chúa Yêsu và trong công việc của Ngài. Đừng tìm viễn vông đâu khác.
Lời rao giảng về Nước Trời sẽ đến có cái đặc sắc này là: sự người ta ngóng đợi nơi tương lai tận thế, thì hiện bây giờ Chúa Yêsu đã thực hiện. Như thế nghĩa là, phải bỏ ngoài những thắc mắc về cách thức và khi nào Nước Thiên Chúa đến, mà dồn cả chú ý vào sứ giả hiện tại của Thiên Chúa” (NTThuấn, sđd tr. 120)
Quả thật, đây là lời nhắn nhủ chí lý cách đây những 40 năm. Hơn thế nữa, đến cả trăm năm. Hai ngàn năm, không phai nhạt. Nhưng, người nghe và kẻ phẩm bình Lời Chúa vẫn không nhận ra điều tích cực ấy. Không nhận ra và không san sẻ những tích cực, liên quan đến “Nước” của Thiên Chúa, không phải vì mọi người có ý đồ tăm tối hoặc chậm hiểu. Đúng hơn, là vì quên lãng hoặc bị cuốn hút vào với thực tế của đời thường. Cuốn hút là chuyện đương nhiên dễ xảy đến. Chí ít, là vào thời buổi có quá nhiều thứ hấp dẫn. Quá nhiều chuyện để làm. Hơn là ngồi suy niệm về “Nước” hoặc về Chúa. Về Mẹ. Để biện minh cho điều vừa nói, dưới đây là một truyện kể nhặt được từ điện thư do bầu bạn gửi đến từ xứ người. Truyện đây, tuy không đề cập đến “Nước” của Thiên Chúa; hay đến thiên đàng hỏa ngục ba bốn bên, gì hết. Nhưng, hy vọng cũng nói lên được phần nào cái gọi là “không thể” và “có thể”, như tiêu cực và tích cực. Chuyện kể về một người tên Tom:
“Tuổi về chiều không có nhiều việc để làm. Tom bèn nghĩ ra một cách làm tính cho khuây khỏa vơi đi những ngày sầu đắng còn lại. Thử làm một màn tính toán gồm bốn phép cộng trừ nhân chia, ông bạn già chợt nhớ là đời người chỉ vỏn vẹn khoảng 75 niên là cùng. Dĩ nhiên có người sống dai hơn. Và, cũng có người chết yểu. Nhưng, hãy tạm dừng ở đây và lấy con số 75 là trung bình quân tuổi thọ đời người. Nay, hãy thử kiểm lại xem có đúng thế không nếu ta nhân 75 niên cho 52 tuần, ta sẽ có con số 3900 ngày Thứ Bẩy mà thường tình mỗi người sống trên đời này đều phải có trong suốt cuộc đời mình.
Điều đáng buồn là ít có người cùng có một ý nghĩ như Tom. Phải chờ đến lúc đã 55 tuổi,đầu bạc răng long hoặc gần đến ngày hưu già hư non mới chợt khám phá ra rằng mình đã bỏ phí biết bao nhiêu ngày giờ mà không biết. Chí ít, là các ngày Thứ Bẩy. Những 2860 cái Thứ Bẩy tuyệt vời mà ta không biết tận hưởng. Ai nấy vẫn cứ miệt mài lao động và lao động. Lạo động để kiếm sống. Lao động để có gạo ăn. Hoặc, lao động là vinh quang hay chết tiệt. Để rồi cuối cùng tay trắng vẫn hoàn trắng tay. Với Tom, phải mất 55 niên anh mới hiểu được chuyện đơn giản như thế. Đến nay, thì đã muộn. Nhưng muộn cũng không sao. Muộn còn hơn không. Nghĩ thế, Tom bèn làm con tính rất nhanh rằng thì là: nếu anh có thể sống đến năm 75 tuổi, anh sẽ còn khoảng 1000 ngày Thứ Bẩy an hưởng tuổi ... cao niên.
Nghĩ xong, anh bèn có quyết định, chạy vội ra hàng quán bán đồ chơi con nít và mua về đủ số bi mà bọn nhỏ vẫn chơi, mang về để một chỗ. Anh đi hết 5, 7 tiệm mới mua đủ số 1000 viên bi. Anh rửa sạch và đựng vào bao cất một chỗ nơi bàn đọc sách. Từ bữa đó, mỗi ngày Tom lấy ra một viên bi, vứt bỏ sau vườn hoặc ném vào khoảng không cho khuất mắt.
Ngày qua ngày, Tom ngắm bọc đựng bi thấy nó cứ cạn dần. Anh lại nghĩ phải tập trung làm việc gì quan trọng cho đời mình. Trên đời này, chẳng có gì buồn chán hơn là canh chừng thời gian còn lại và thấy nó cứ thế cạn dần. Phải đặt ưu tiên làm một công việc nào mới được, Tom tự nhủ. Và, chuyện gì phải đến đã đến. Vào ngày Tom thấy viên bi cuối cùng còn sót trong bọc, anh đưa người bạn đời đi phố ăn sáng và thư giãn đôi chút ở công viên. Nơi đây có sông có nước, có hoa lá cành đủ cả. Tom trộm nghĩ, nếu anh tiếp tục được làm cái việc bỏ bớt hòn bi cuối cùng vào quãng vắng không gian vào ngày Thứ Bẩy tới, thì có lẽ Trời sẽ cho phép anh có thêm thời gian nữa để có cử chỉ đẹp với người bạn đời anh mà quên lãng những 75 năm, thì hẳn đời sẽ đẹp lắm...
*
Chuyện kể chỉ có thế. Nhưng người kể là Tom vẫn muốn nhắn nhủ với người đọc rằng: bạn đừng lo những chuyện “đến khi gần chết có được lên thiên đàng không” hoặc có xuống hỏa ngục chăng. Bao lâu mình còn sống, hãy nghĩ đến những người gần gũi nhất –có thể là vợ hay chồng mình. Có thể, là bạn bè người thân nào đó - hãy làm điều gì tốt đẹp cho họ và cho mọi người. Để, tất cả sẽ đều thấy vui. Sẽ đều hạnh phúc. Đó mới là thiên đàng. Đó chính là Nước Trời. Nước của Thiên Chúa. Vương quốc chỉ gồm toàn chuyện vui. Những hạnh phúc. Nước của Ngài đang ở nơi đây. Nơi trần gian này. Chứ có đâu xa. Chẳng cần gì vườn địa đàng. Cũng chẳng sợ hỏa ngục hay lửa luyện hình. Chí ít, là chốn địa ngục hỏa lò, ở bên kia. Và,Thiên đàng/hỏa ngục không phải là hai bên. Thiên đàng và Nước Trời vẫn là một. Một bên. Ở bên ấy, luôn có Đức Chúa sống cùng ta. Ở nơi ấy, ta có toàn chuyện vui. Rất hạnh phúc.
Trần Ngọc Mười Hai với những bất bình về một suy niệm về chuyện không đâu.
Tha rồi hãy quên (2Ti 2: 8-10)
Nếu có ai quả quyết rằng: đời người là một chuỗi ngày dài đằng đẵng; ở đó, người người ngồi kể chuyện đời lê thê, thì bần đạo xin giơ cả hai tay lên, đồng ý. Quả là như thế. Một năm có 12 tháng. Và, nếu tính ngày, có đến 365 ngày để sống và hít thở. Nhưng hầu như đa phần, số ngày giờ ấy người người dùng để dông dài kể lể hoặc nghe người khác kể về đủ mọi thứ chuyện. Từ chính trị, thời sự cho đến tình duyên, gia đạo. Hết chuyện làm ăn sinh sống, lại tiếp nối chuyện liên quan đến chiến tranh/hòa bình. Rồi, chuyện luật pháp, xã hội, tôn giáo, nhất nhất đều có cả. Chuyện vui có, buồn cũng không thiếu. Cả những chuyện tầm phào, viển vông, không đâu vào đâu, cũng được dông dài hầu kể như không bao giờ có dấu chấm hết. Thậm chí, cả chuyện gây nhức đầu, sầu thảm. Chuyện dân gian, trên trời dưới biển. Chuyện thiên hạ bát nháo. Chuyện người, chuyện mình chuyện linh tinh giấy mực bỏ ra không hết. Hết kể bằng sách/báo, phim/ảnh lại kể trên truyền hình, trong vi tính. Thôi thì, thứ nào cũng được phát minh, chế biến đủ kiểu, đủ loại. Đủ mầu sắc, chỉ để diễn bày những chuyện là chuyện. Tuy nhiên, có một chuyện không kém phần quan trọng, là: để phổ biến những điều cần kể hoặc muốn kể, người người vẫn cần đến bộ óc. Một trung khu thần kinh nào đó có khả năng tích lũy các chất liệu, để kể. Và, tụ điểm chính nơi trung khu thần kinh, là bộ nhớ. Lâu nay vẫn được gọi là trí nhớ. Và, chức năng của bộ nhớ này là để tích tụ các dữ liệu cần bảo trì. Cần phát tiết ra ngoài, mỗi khi chủ thể cần đến. Nhưng, hễ ai không có được bộ nhớ nói ở trên, sẽ bị người đời gán cho một hình-dung-từ nhang-nhác, như: đần độn, chậm lụt. Thậm chí, còn bị coi là mắc chứng Alzheimer (tạm gọi là “lẫn”). Và thông thường, người đời chỉ kính cẩn các vị nào có trí nhớ dai hoặc sắc sảo, ở mức độ xuất chúng, siêu phàm. Ngược lại, ai hay quên, hoặc quẩn trí sẽ bị coi là kém, không đáng liệt kê. Xem như thế, trí nhớ là thước đo. Là mẫu mực dùng để phân biệt chủ thể có hồn với vật thể vô tri. Tuy nhiên, một triết gia khi trước đã dõng dạc tuyên bố: “Trí nhớ là quan năng của sự quên lãng” (Blaise Pascal). Và, trong nhiều trường hợp, vị ấy cũng thường khuyên nhủ người đời, là: hãy quên đi những điều con người thường hay muốn nhớ (?). Nhất thứ, khi đương sự đang ở vào tình trạng rõ ràng có sự xấu xẩy đến với mình. Cả vào lúc, sự xấu ấy do kẻ thù mình mang đến, các triết nhân hiền từ vẫn cứ khẳng định, rằng: làm đồ đệ/ dân con Đức Chúa, con người không những phải biết tha thứ kẻ thù mình mà thôi, mà còn phải quên đi điều gì xấu do kẻ thù mình mang đến, nữa. Trong tiếng Anh có hai cụm từ rất gần gũi nhau, vì cùng chung tiếp-đầu-ngữ “for” ở truớc, là: “forgive” và “forget”. Các cụm từ này nói lên một cách triệt để yêu cầu căn bản nhất, trong cuộc đời. Tiêu đề chuyện phiếm “Tha rồi hãy quên” tuy không mang lập trường chính trị hoặc thần học gì, nhưng vẫn là thúc bách không nhỏ. Thúc bách đến độ khiến người suy tư chuyện Đạo-đời, không thể “chỉ nghe qua rồi bỏ”. Nghe qua, như người bàng quang với chuyện tranh đấu, chính trị… lâu nay. Để rồi bỏ, chỉ quan tâm những gì liên quan đến cuộc sống thực tế ở đời , thôi. Tha rồi hãy quên, có thể là thái độ nghịch lý/nghịch thường nghe-chưa-quen đối với những ai chỉ thích yên nghỉ, nằm nhà. Tha rồi hãy quên, có thể gây khó cho những ai quyết tâm tranh đấu chống gò bó, bất công cả trong xã hội, lẫn giáo hội. Nghịch thường và gò bó, bởi vì đôi lúc mình thấy ái ngại, chột dạ. Ái ngại, vì mình ở vào tình huống không thể biểu đồng tình, hoặc dễ tham gia, dự phần. Và chột dạ, vì thấy người khác vẫn can đảm và dấn thân hơn mình, nhiều. Do có trí “không quên” và cũng chẳng dễ “tha rồi quên đi” những chuyện vốn cắm sâu vào da thịt mình, bần đạo cũng xin được phép chớp nhoáng trở về với kinh nghiệm bản thân về những “tha” và “quên đi”, như thế này: Tôi hôm ấy, một tối mùa thu năm 1976, bần đạo đang êm ả tiếp chuyện vợ chồng người bạn đồng nghiệp và đồng ngụ cư trong chung cư dành cho nhân viên nọ; thì, một nhóm công an đặc biệt gồm khoảng hơn chục người, súng ống nai nịt đến tận răng, ập vào đọc lệnh “tạm giữ để điều tra” do vị trưởng phòng chính trị thuộc sở công an thành phố, gửi đến cho riêng mình. Chả là, lúc ấy ở Sàigòn đang có cái-gọi-là chiến dịch cải-tạo-công-thương-nghiệp-tư-bản-tư-doanh. Bần đạo chẳng tư doanh, tư bản. Cũng chẳng doanh thương công tư gì. Lúc ấy, chỉ vì đã và đang làm cho một công ty ngoại quốc, với chức vụ rất hèn hạ; nhưng, vẫn được mời về “nằm ấp” để được điều tra xem ‘làm cho công ty tư nhân nước ngoài chắc cũng thuộc loại gián điệp sừng sỏ, gì đó chăng. Trớ trêu một điều, là: tuy được giữ tạm để điều tra, ở một nơi không xa, không ngoài cựu ‘thành đô yêu dấu’. Thế mà, mãi hơn hai tháng sau gia đình nghe ngóng hỏi han ‘suốt’ mới tìm ra được chỗ “ở tạm” của bần đạo để thăm và nuôi tạm bợ,cho qua ngày. Bốn tháng sau, bần đạo cũng ra khỏi nơi “giam và giữ” tạm thời, tạm bợ ấy. Chuyện tù đày – đày tù, tạm giữ - tạm giam thì cũng chẳng khác gì những chuyện đày đọa người tù nào khác. Nghĩa là cũng có hạch, có hỏi. Có dọa có nạt, đạp bàn, đập ghế gây tổn thương não bộ trung khu thần kinh, làm quên cả ‘bộ nhớ’ rất cổ và rất xưa. Cái mà ở xứ sở văn minh người ta hay gọi là “traumatic stress” (căng thẳng đầy tổn thương) sơ sơ, lơ mơ thôi, ấy mà. Chuyện bộ nhớ - nhớ bộ thần (rất) kinh, gợi lại cho bần đạo những tình tiết của một buồi chiều hôm, tối đó. Khi: bần đạo (lúc ấy còn rất hiền lành, thánh thiện (?)), và một vị tỳ-kheo/thượng tọa lúc ấy tu ở chùa Giác Viên, Phú Nhuận (cùng bị nhốt chung phòng), hai người duy nhất cả gan ngồi thiền/thầm thì nguyện cầu với Đấng Ở Trên. Thì, một cán bộ cai quản trại tù bắt gặp, bèn phán cho một bài rất ư là ‘giáo dục công dân’ ít được nghe thấy, hoặc ‘nghe qua rồi hãy quên’, chỉ loáng thoáng như sau: “Các anh nên nhớ (lại cái trí không quên được nhắc cho mà nhớ), rằng: Cách mạng chỉ giam các anh thôi chứ đâu có giữ tôn giáo của các anh đâu mà các anh không chấp hành nội quy; dám ngồi đó mà hoạt động có ý đồ tôn giáo một cách trái phép như vậy! Yêu cầu các anh không được hành đạo ở nơi tạm giữ này. Tôi cảnh cáo hai anh một lần chót đấy!…”
Quả là, lúc ấy bần đạo dù có biết ‘tha rồi hãy quên’ hay gì đi nữa, cũng đã cảm thấy khá bực. Dù vẫn không sợ. Bực, vì bị anh cán bộ trẻ lên lớp chính trị dạy dỗ. Và, cũng bực vì thiên hạ vẫn cứ áp dụng ‘luật ở bìa rừng’ đối với một người đang còn trong vòng tạm giữ để điều tra, quá nhiều ngày. Thành ra, ‘tha rồi quên đi’ vẫn không phải là chuyễn dễ. Dễ quên. Dễ bỏ. Kể lại niềm riêng không-đáng-nhớ ở trên, không phải để khơi dậy một tranh luận bàn cãi gì về: ‘có được phép giữ đạo và hành đạo (dù âm thầm và yên tĩnh, không phiền hà người khác) ở nơi cung cấm hay không’. Mà, chỉ muốn thưa với quý vị rằng: “tha thứ” những người làm phiền mình, tuyệt nhiên không là chuyện khó làm. Nhưng, bảo ‘hãy quên’ những chuyện khó quên kia đi, thì thật không phải là dễ. Nhất thứ, nếu đó là chuyện bực bội ăn sâu đâu như hận thù, quên rất khó. Như câu truyện vừa thuật, ngay cả những vị chủ trương không theo tôn giáo nào hết, cũng đã tạo cho người đi Đạo (dù là đạo nào đi nữa) có được cơ hội để nhớ rằng: cứ ‘tha rồi hãy quên đi’ những gì làm phiền lòng. Chính đó mới là nghịch lý. Thế đó, là chuyện khó làm. Cứ thường tình, hễ có chuyện bực bội hoặc nghịch lý/nghịch thường, người người thường thêm vào đó ý kiến của mình; hoặc, có lập trường biểu đồng tình, hỗ trợ. Hỗ trợ, để tìm cách thay đổi tình huống đang có đó, thành chuyện cần có, phải có. Và, nếu nhìn sự việc theo khía cạnh “lý” và/hoặc “nhớ quên-quên nhớ” như một thúc bách yêu cầu từ vị Triết Nhân Rất Hiền Từ của các bậc hiền triết, thì đây lại chính là ân huệ mà Đấng Ở Trên đã ban tặng để ta nhớ mà giữ những đòi hỏi rất nghịch thường/nghịch lý. Một đòi hỏi, mà bần đạo có thể diễn bày bằng thứ ngôn ngữ rất bình thường, là: hãy nhớ những gì hay quên; và, hãy quên đi những gì đáng nhớ. Diễn rộng ý chủ này, có thể bảo: phải quên đi những chuyện cần nhớ, đáng nhớ và quên cả chức năng dễ nhớ của con người, nữa. Mục đích, là để chỉ nên nhớ rằng mình là thụ tạo dễ quên và cũng rất hay quên. Thường tình, mình vẫn hay quên những điều mọi người cần phải nhớ. Điều cần nhớ và đáng nhớ, chính là: mình vì mọi người, cho mọi người chứ không phải: mọi người vì mình, cho mình. Nói khác đi, chỉ cần nhớ điều được nhắc nhớ trong thư thứ hai của thánh Phaolô gửi cho đồ đệ và là bạn Timôthê, như sau: “Anh hãy nhớ rằng: Đức Yêsu Kitô sống lại từ cõi chết, (sinh) bởi dòng giống Đavít, chiếu theo Tin Mừng của tôi, vì đó, tôi phải lao đao khốn khó đến cả xiềng xích như kẻ gian phi, nhưng Lời Chúa không bị xiềng xích! Vì thế tôi cam chịu mọi sự vì các kẻ được chọn,để họ được phúc cứu độtrong Đức Kitô Yêsu, cùng với vinh quang đời đời. Lời đáng tin:Quả nếu ta cùng chết, ta sẽ cùng sống! Nếu ta chịu đựng, ta sẽ đồng trị”. (2Ti 2: 8-10)
Nhớ quên-quên nhớ, là hai mặt của cuộc đời, con người. Nó tựa hồ như âm- dương nhị nguyên. Lúc thì đối chọi nhau. Lúc dựa vào nhau để tồn tại. Tuy nhiên, điều đặc biệt là khi nhị nguyên ấy nhập thể vào với con người, đôi khi nó quyện vào nhau. Hòa hợp thành một đơn-nguyên phức-tạp khiến bản thể con người thấy khó mà định ra đâu là đầu mút của mỗi nguyên lý. Hôm nay, lạm phiếm về nguyên lý nhớ quên – quên nhớ, bần đạo chỉ dám đưa đề nghị nhỏ về chuyện thứ tha, về quên nhớ. Đồng thời, hồi tưởng lại những gì mình đã nhận được từ Ơn Trên: tình yêu, đau khổ, sự sống, vv. Và thấy rằng: tất cả đều là ân huệ. Còn một ân huệ không nhỏ mà bần đạo vẫn được nhắc nhở, là: không chỉ nên nhớ những điều hay, lẽ phải mình đã từng làm. Không chỉ tha thứ những gì xấu xa tồi tệ mà người khác từng mang đến cho mình, mà thôi; nhưng, còn phải quên nó đi; để chỉ nghĩ đến những gì tốt đẹp, tích cực. Bởi, Đấng Ở Trên mọi sự đã hy sinh làm gương cho mình về những điều tích cực. Ngài chính là sự Tốt đẹp. Rất Tích cực trong mọi sự.
Trần Ngọc Mười Hai với những suy nghĩ vẩn vơ, lẫn lộn giữa quên và nhớ, vào Mùa Chay.
“Có một lần, tôi đưa em về trên đỉnh yên bình hiền hòa” (Lc 2: 13-14)
Vâng. Nếu “đỉnh yên bình hiền hòa” trên ấy, là chốn náu nương để đưa em về, thì miền đất phía dưới nơi đây, sẽ mãi mãi là mùa xuân. Mùa của yêu thương. Xuân bất diệt, nhà Đạo. Xuân nhà Đạo, vừa là thời gian vừa là không gian, nơi có bạn và tôi, lúc nào cũng nghe văng vẳng đâu đây, lời trình thuật rất sáng của thánh sử Luca, như sau:
“Và bỗng đâu đến hợp với đoàn thiên thần, có đoàn lũ cơ binh trên trời Ngợi khen Thiên Chúa rằng: Vinh quang Thiên Chúa trên trời cao thẳm Và ở dưới đất cho kẻ Ngài thương.” (Lc 2: 13-14)
Bình an cho kẻ Ngài thương, là người trong đó có bạn và tôi, những kẻ còn ở đất miền phía dưới nơi đây. Và, lời bình an Chúa nói còn là giáo huấn quan trọng của nhà Đạo. Giáo huấn rất quan yếu. Rất trọng sự thực.
Bần đệ còn nhớ, khi chuyển ngữ đoạn thánh sử quan yếu buổi đầu đời, từ tiếng A-ram của Do Thái, cố giáo sư Kinh thánh, Lm Nguyễn Thế Thuấn, CssR có để lại một chú giải nhỏ, như sau:
“Theo văn kiện Qumran thì kiểu nói thông dụng của người Do Thái ‘bình an cho kẻ được Ngài thương’ là cốt để hiểu cái nhã ý, (và) lòng đoái thương của Thiên Chúa”. (Kinh thánh, 1976, bản dịch của Lm Nguyễn Thế Thuấn, tr.128)
Hiểu như thế, tức “lòng đoái thương của Thiên Chúa” đang ở trên đỉnh yên bình hiền hoà, chốn non cao xanh biếc. Hoặc, nơi an bình ở đất miền phía dưới, mà dân thường ở huyện từng có, là do từ ‘cái nhã ý’ của Thiên Chúa, mà ra.
Theo lẽ thường tình, ta không thể có được “cái nhã ý” về “lòng xót thương của Thiên Chúa” tại những nơi cao sang đền đài vua chúa, hoặc chốn nguy nga, mà ta gọi là “điện Cẩm Linh”, cung Vẹrsailles, hay Tòa bạch Ốc… Nhưng có điều chắc: ta chỉ tìm thấy “đỉnh yên bình hiền hòa” ở dưới đất này. Ở nơi đây, luôn có những kẻ được Ngài đoái thương, rất nhiều.
Vậy, kẻ được Ngài đoái thương rất nhiều là những ai? Có phải, những Hê-rô-đê đương đại? Những nhà độc tài toàn trị dũng mãnh có quyền sát quyền sinh, chỉ cần bấm nút đen hoặc nút đỏ, là có thể bắn ra đủ mọi thứ vũ khí nguyên tử, hủy hoại hàng ngàn thành phố lớn? Và, sẽ làm cả trăm ngàn, triệu triệu người sẽ chìm ngập trong máu lửa điêu tàn? Những nhà tỷ phú tiền rừng bạc biển?
Nhìn vào thế giới hôm nay, ta càng thấy có nhiều phân rẽ tách biệt nơi con người. Những phân biệt, chênh lệch giàu - nghèo. Phân biệt, là phân ly trong cuộc sống. Là, tách biệt trong yêu thương, giùm giúp. Ở nơi con người đang sống, có những “đại gia” nhởn nhơ vui thú, chỉ muốn thưởng ngoạn những xa hoa đàng điếm nơi khách sạn 5, 7 sao, hoành tráng. Trong khi đó, kẻ nghèo người hèn vẫn cứ nghèo hèn. Vẫn ốm o gầy mòn, tìm không ra chỗ trú chân. Không hột gạo trong bụng.
Giữa giòng đời sinh sống hôm nay, cách biệt sang - hèn ở dưới đất, vẫn là điều khiến ta quan ngại. Cần lưu tâm để ý. Lưu tâm để ý, vì cách ly - phân biệt là do con người tạo ra. Chứ đâu phải từ một định mệnh đã an bài. Hoặc tệ hơn, từ Chúa Quan phòng, đã tiền định.
Trong cuộc sống đời thường, con người khi thừa hưởng giàu sang thoải mái, lại cứ tưởng những thứ ấy do chính mình đem lại, hoặc tạo ra. Và khi bê tha, xuống cấp, họ lại đổ lỗi cho Đấng Bề Trên, hay Đức Chúa. Thực tế, khó có thể có được câu trả lời nêu trên, nếu ta không chấp nhân lập trường rất đúng như triết gia Pascal từng nhận định: “Tất cả là ân huệ”, dù vào lúc ta gặp đủ mọi khó khăn, nghịch cảnh.
Trong tiếp xúc với người thường ở đời, một thiền sư đã đề ra một số phương cách thực tiễn hầu giúp người đời thời nay thực hiện chuỗi ngày “bình an” ở miến đất phía dưới này, như sau: -SỐNG không giận hờn, không oán trách mới là sống -SỐNG mỉm cười với thử thách,chông gai,ấy mới hay -SỐNG vươn theo nhịp ánh ban mai, ta vẫn biết -SỐNg an hòa với người quanh ta, đó mới là -SỐNG sinh động, nhưng lòng luôn bất động -SỐNG yêu thương, mà lòng chẳng vấn vương -SỐNG hiên ngang nhưng danh lợi vẫn không màng -Tâm bất biến giữa giòng đời vạn biến. Nay SỐNG đúng.
Thật ra, sống đúng giữa giòng đời vạn biến, vẫn là chọn lựa của mỗi người. Là tự do chọn lựa của con cái Chúa. Chọn sống đúng. Chọn thực hiện điều xưa nay ta được dạy để sống đúng. Sống cho đáng sống. Đó mới là điều quan trọng. Đó là điều cần làm.
Trên thực tế của cuộc sống, có những điều giúp ta sống đúng, nhưng ta không làm. Hoặc vẫn chưa chịu làm. Và, theo nguyên tắc hành động, có những điều ta chẳng nên làm, nhưng nhiều người vẫn cứ làm. Có những điều thấy vậy mà không phải vậy, như truyện tích thời đại ở dưới đây.
“Hai thiên thần được Đấng Bề Trên cho ngao du xuống trần một chuyến, để thêm lòng xác tín về tình thương, đã ghé bến lưu lại nhà của gia đình giàu có, khi ấy. Gia đình giàu có từ chối không cho nhị vị ngủ lại ở căn buồng đẹp. Vì buồng này chỉ dành cho thượng khách mà thôi. Trái lại, họ dẫn nhị vị xuống căn hầm rất lạnh, ở phía dưới.
Ngả lưng xuống nền xi-măng lạnh buốt của căn hầm, vị thiên thần trọng tuổi thoáng nhận ra lỗ hổng nhỏ nơi bờ tường. Ở phía trước. Thiên thần ấy bèn giơ tay hóa phép, quyết bít kín lỗ hổng, mất dấu.
Thiên thần nhỏ, vị tháp tùng đấng bậc trọng tuổi kia, thấy thế bèn hỏi: -Sao tiền bối lại làm như thế, có ý gì? Và thiên thần trọng tuổi trả lời: -Như thế tức là, mọi chuyện coi vậy mà không phải vậy, đâu đấy bạn ạ.
Đêm sau, hai vị thiên thần nọ bèn đến nhà bác nông dân khác rất nghèo, trọ nhờ qua đêm. Hai vợ chồng bác nông dân tuy nghèo, nhưng hiếu khách. Sau khi chia sớt phần lương thực ít ỏi của mình, hai vợ chồng bác nông dân nghèo bèn nhường chiếc chiếu nan cũ kỹ, cho nhị vị thiên thần nằm đỡ, rồi ra sau hè ngủ.
Sáng ra, khi mặt trời vừa lấp ló, nhị vị thiên sứ nhà trời đã thấy vợ chồng bác nông gia nghèo, ngồi khóc than rất ư là thảm thiết. Hỏi ra mới vỡ lẽ: hai vợ chộng nghèo tằn tiện lâu lắm mới sắm được mỗi con bò sữa, làm nguồn lợi tức duy nhất, ở tuổi già. Ngờ đâu, đêm qua, bò ta lăn đùng ra chết, trước chuồng trại.
Vi thần nhỏ rất bực dọc, bèn lên tiếng hỏi tiền bối của mình: -Sao ngài thấy chuyện bất ưng mà sao không ra tay cứu giúp? Sao cứ để yên cho bò béo mộng chết cứng, vô lý thế? Người có đủ thứ, thì ngài lại giúp đỡ cho họ thêm bằng cách trám bịt lỗ hổng, nơi bờ tường. Còn ở đây, gia đình bác nông dân đã nghèo kiết xác không có gì để sống qua ngày, thế mà họ vẫn tốt bụng chia sẻ phần cơm ít ỏi cho ngài, ngài lại để họ mất đi nguồn lợi tức độc nhất, là chú bò béo mập kia. Làm như thế không là bất công thì còn gọi là gì nữa cơ chứ?
Vị thần trọng tuổi đáp lời: -Mọi chuyện coi vậy mà không phải vậy, đâu bạn ơi. Khi bọn mình nằm tại căn hầm ở dưới đất, ta phát hiện ở bờ tường nhiều thỏi vàng ròng cất giấu bên trong. Họ giấu vàng, chỉ chừa một lỗ nhỏ để làm dấu vết sau này tìm kiếm. Chủ nhà đã giàu lại keo kiệt không biết san sẻ của dư của để cho người khác. Dù, một chỗ trú chân nhỏ bé với chăn ấm nêm êm cũng không cho. Nên, ta quyết định bít kín đầu mối kia đi, để họ không tìm ra chỗ cất giấu vàng ròng, của cải dư thừa ấy. Thế rồi, hôm sau khi nằm bên chiếu nan của hai bác nông gia nghèo, ta chợt phát hiện một điều: tử thần gian ác đã ghé thăm căn nhà tiều tụy của bác nông gia nghèo này, định đòi mạng người vợ hiền làm của lễ tế thần, thay cho chúng. Ta bèn cho chúng con bò mẹ béo ngậy để thay thế. Đổi lại, vợ bác nông gia sẽ tiếp tục được sống cho đến mãn kiếp đời. Như thế, mới hợp với triết lý phục vụ. Triết lý dạy rằng: còn người thì còn của. Của cải vật chất là để phục vụ loài người, chứ loài người đâu nào phục vụ của cải vật chất, đâu! Thành ra ta bảo: mọi chuyện coi vậy mà không phải vậy đâu là như thế, bạn hiểu chứ?
Chuyện cổ tích thời đương đại ở trên có thể đã nói lên quan niệm/lập trường rất chung của một số người nơi nhà Đạo. Lập trường ấy là: đi đâu, làm gì, ta cũng nên nghĩ và nhớ đến thân phận và hoàn cảnh của người khác. Thân phận của những người ở dưới đất, được Ngài thương chúc bình an, suốt cuộc đời. Đời của những những người tuy rất nghèo về vật chất lẫn tinh thần, thường vẫn thấy. Nhưng thực tế cuộc đời, họ vẫn hy vọng đạt “đỉnh yên bình hiền hòa”, trên nơi ấy. Nơi có người nghệ sĩ luôn hát bài ca hiền hòa, bình an như sau:
“Trên đỉnh yên bình môt mùa xuân ôm kín khung trời, của tuổi thơ thôi rã, thôi rời xin đừng làm bão tố đôi mươi để vòng tay khắc khoải ôm xuôi từng niềm vui bay theo biển gió. (Nhạc và lời: Mùa Xuân Trên Đỉnh Bình Yên-Từ Công Phụng)
Đúng đấy. “Đỉnh yên bình hiền hòa” ấy, đang ở với bạn và với tôi. Nơi có Nước Trời Hội thánh, rất thân thương. Nước của những tâm can an hòa, với mọi người. Những người như bạn và tôi ở chốn địa cầu này luôn nhận lĩnh lời hứa Chúa ban vinh phúc an bình mà Ngài bày tỏ. Bày và tỏ ngày Chúa Giáng hạ, rất làm người.
Trần Ngọc Mười Hai. Vẫn muốn vui hưởng Niềm an bình Ngài thương ban cho kẻ nghèo ở đất miền phía dưới.
“Xin cho thương em thật lòng, còn có khi lòng thôi giá băng”
Luận phiếm về giờ giấc người mình, hẳn ai cũng biết là ta đang bị chỉ trích, khích bác về chuyện đúng giờ. Đúng giờ đúng giấc cả khi dự các nghi tiết Phụng Vụ, cũng như tiệc tùng, rất lành và cũng rất thánh. Chuyện giờ giấc đúng giờ, hình như đã và đang là cố tật, thật khó chữa. Về chuyện này, bần đạo còn nhớ câu vè đặc biệt nói về người mình như sau: “Không ăn cắp không phải người Mễ. Không đi trễ, không phải người Việt.” Cách đây không lâu, vấn đề này đã được một Linh Mục người Úc nói rất sõi tiếng Việt, cha Kevin thuộc Giáo Phận Parramatta, từng “báo động” với cộng đoàn người mình, ở một tiệc cưới. Thật ra, phê bình đặc trưng đặc điểm của một số người Việt sống ở đất tạm người dưng gần xứ Mễ Tây Cơ ấy, cũng là chuyện không phải. Đâu phải, chỉ có người mình mới mang trong mình những cố tật như thế. Nói cho ngay, đây có lẽ là cố tật của rất nhiều người, Tây cũng như Tầu, người Mễ cũng như dân Mít ở biển Đông. Và, cả ở nhà Đạo mình nữa. Nhằm chứng minh cho chuyện này, vừa qua cũng lại xuất trên báo những câu hỏi và các trả lời, có liên quan. Các cụ ngày xưa thường gọi đó là “nói có sách mách có chứng”. Nay, mời bạn và mời cả tôi, ta cũng lại nghe thêm mục “hỏi – đáp”, rất nhà Đạo. Ở bên dưới. Câu hỏi hôm nay, vẫn đưa ra từ người con người dân rất Đạo, ở Úc. Và, câu giải đáp cũng lại là câu “thiêng liêng sáng láng” của đấng bậc vị vọng đã nghe quen ở Sydney, Lm. John Flader. Là, Đức Thầy phụ trách mục hỏi đáp trên Tuần Báo Công Giáo Sydney số ra ngày 17.2.2008. Hỏi và đáp hôm nay như sau: “Tôi có người bạn cùng chung sở làm. Cô cứ kể cho mọi người nghe về nhiều chuyện xảy ra tại Giáo Xứ của cô. Một trong những chuyện mà tôi cho là không đẹp cho lắm, nhưng vẫn được cô kể lại, là: ý kiến của vị Linh Mục chánh xứ Nhà Thờ nọ, nói về chuyện đi lễ đúng giờ. Cô kể rằng: có lần đức ngài chánh xứ từng đe nẹt Giáo Dân rằng thì là: nếu anh chị em trong Xứ Đạo này đi dự lễ Chúa Nhật mà lại đến trễ, thì nên nhớ rằng họ sẽ không được tôi cho lên rước lễ đâu, đấy !… Chưa hết, một bạn đồng nghiệp khác nghe chuyện, bèn góp giọng, khoe rằng: có ông Linh Mục chánh xứ khác cũng nói: ngài sẽ không trao Mình Thánh Chúa cho bất cứ ai, nếu chỉ tới dự lễ sau giờ đọc Phúc Âm… Và câu hỏi hôm nay tôi đưa ra là: Hội thánh của ta quan niệm thế nào về việc đi lễ trễ ? Ký tên: một Giáo Dân hèn mọn ở xứ nhà. Và, để trả lời câu hỏi trên, Lm. John Flader, đưa ý kiến: “Trong câu hỏi ông đưa ra, tôi thấy có một số vấn đề nên bàn luận. Trước nhất, là sự trọn vẹn của Thánh Lễ, nhìn dưới khía cạnh động tác đơn thuần trong phụng tự. Thánh Lễ, thật sự bao gồm hai phần chính được gọi là Thánh Lễ, đó là: Phụng vụ Lời Chúa và Phụng Vụ Bẻ Bánh. Phụng Vụ Lời Chúa, khởi sự bằng nghi tiết Dẫn Nhập, có dụng đích giúp người tham dự chuẩn bị nghe biết Lời Vàng của Chúa một cách có kết quả. Để rồi, khi qua phần Phụng Vụ Bẻ Bánh, ta sẵn sàng hiện diện để đi vào tình huống có hy sinh, có tế tự trên đồi Can-va-ri-ô đang diễn ra trên bàn thờ.Nhờ đó, ta nhận lĩnh “Ngôi Lời mặc lấy xác phàm” qua việc Hiệp Thông rước Chúa. Chính vì lý do này, ta hiểu được rằng Thánh Lễ tạo thành hình thức đơn thuần nơi việc phụng tự. Và từ đó, nhận ra tầm quan trọng của sự hiện diện trọn vẹn của Chúa nơi tiến trình buổi lễ. Lý tưởng ra, ta nên đến nơi cử hành Thánh Lễ, trước giờ khai mạc, để có thể tập trung chuẩn bị cho Thánh Lễ, trong thinh lặng. Thánh Lễ thực sự là điểm nổi bật trong ngày, hoặc trong cả tuần lễ nếu ta chỉ dự Thánh Lễ vào ngày của Chúa (Chúa Nhật), thôi. Và, cũng là việc tự nhiên, nếu ta cố ý tới sớm hoặc đúng giờ để chuẩn bị cử hành cho đúng phép. Nhưng hỏi rằng, chuyện gì xảy đến, nếu việc trễ tràng cũng giống như các thói tật không hay khác, dù việc ấy không do lỗi của mình. Ở đây, cần phân biệt hai trường hợp: Thánh Lễ Chúa Nhật và Thánh Lễ thường nhật. Nếu là Thánh Lễ Chúa Nhật, khi ta buộc lòng phải đi lễ, cũng nên đi cho sớm để khỏi phải dự thêm một lễ nữa. Thành thử, nếu thật lòng muốn đi lễ, cũng nên đi cho đủ lễ. Giả như, Thánh Lễ ta tham dự là buổi lễ cuối cùng trong ngày mà mình có thể thu xếp đến dự, thì hãy nên đến vào lúc Thánh Lễ còn diễn tiến. Với câu hỏi: để gọi được là đã dự lễ cách trọn vẹn, thì nên đến vào giai đoạn nào để tránh cặp mắt của anh em đồng đạo cứ coi là mình đến trễ; và dự lễ cách nào thì gọi là “đi chưa đủ lễ” ? Lâu nay vẫn có ý kiến cho rằng ta có thể có mặt từ lúc sửa soạn của lễ dâng lên bàn thờ – mà ta thường gọi là Dâng Lễ – cũng tạm coi là đủ để chu toàn luật buộc, khi dự lễ. Nhưng, nếu đặt tầm quan trọng vào Phụng Vụ Lời Chúa và vào sự trọn vẹn của Thánh Lễ, thì lý tưởng ra, hãy nên đến kịp vào lúc bắt đầu phần đọc Sách Thánh. Dù sao đi nữa, bởi vì Hội Thánh không có lời dạy chính thức về điểm này, nên ta có thể hưởng lợi ích trong chuyện này, tức là: nên đến vào trước lúc bắt đầu phần chuẩn bị dâng của Lễ. Nếu Thánh Lễ được cử hành vào ngày thường, không buộc mọi người phải tham dự, hoặc có khó khăn trong việc đi thêm một lễ nữa, thì lúc ấy cứ việc ở lại mà dự lễ, dù ta có đến trễ. Về chuyện không cho người dự lễ trễ được phép hiệp thông rước Mình Thánh Chúa, thì cho đến nay ta chưa tìm ra đươc lý thoả đáng nơi giáo huấn của Hội Thánh để bào chữa chuyện này. Tuy nhiên, trong Giáo Luật Hội Thánh có nói: “Giáo Dân có quyền được vị Mục Tử của mình chia sẻ sự phong phú linh đạo của Giáo Hội, đặc biệt là nơi Lời của Chúa và nơi phép Bí Tích” ( xem Giáo Luật số 213) Về việc từ chối không cho bổn đạo đi lễ trễ được hiệp thông rước Chúa, thì Giáo Luật cũng ghi rõ và rất hạn chế, như sau: “Những ai bị công khai tuyên bố là đã mắc phải vạ tuyệt thông hoặc rõ ràng bị cấm đoán không được bước lên bàn thánh rước lễ, và người nào ngang bướng cứ khăng khăng cố chấp ra mặt, bất kể làm như thế có mắc tội trọng hay không, thì không được phép hiệp thông rước lễ.”(Giáo Luật 915). Còn, việc từ chối không cho bổn đạo được rước Chúa vào lòng vì bất cứ lý do nào khác, là một thứ lạm dụng quyền bính. Nói cách khác, đến dự lễ trễ, trong nhiều trường hợp, không có nghĩa là mình “ngoan cố cứ khăng khăng ra mặt chẳng bối rối là mình làm thế có thể là mắc tội trọng”, hay nhẹ. Dù ở vào trong trường hợp nào đi nữa, thì dường như các Linh Mục ít có khả năng biết rõ lý do khiến cho Giáo Dân bổn đạo mình trễ nải khi tham dự Thánh Lễ là do họ thiếu cẩn trọng hoặc vì một lý do nào khác chính đáng, thì Linh Mục ấy phải hiểu là Giáo Dân của mình sở dĩ bữa ấy đi lễ trễ là vì họ có lý do chính đáng. Hiểu và thông cảm như thế, mới thích hợp với tư cách người Mục Tử. Nói tóm, là Giáo Dân, ta cũng nên có cố gắng đi lễ cho kịp giờ, và cũng nên đi càng sớm càng tốt. Đi sớm, sẽ chuẩn bị lòng trí mà hiệp thông. Tuy thế, nếu có đến trễ, cũng cứ tự nhiên mà bước về phía trước để đón rước Chúa vào lòng; miễn là ta đã chuẩn bị đủ để làm việc ấy. Cuối cùng, thì tham dự Thánh Lễ không là chuyện bắt buộc phải làm như thế mới được rước Mình Thánh Chúa. Bởi, trong nhiều trường hợp, Giáo Dân chúng ta vẫn có thể đón rước Chúa vào lòng mình, ngoài giờ cử hành Thánh Lễ. Như, trường hợp đau ốm bệnh tật, hoặc đang nằm bệnh viện, hoặc tình huống bất khả kháng khác, chân cẳng có vấn đề đi đứng… (John Flader, The Catholic Weekly, 17 Feb 2008, t.10) Hẳn là độc giả trên chắc đã thở phào, nhẹ nhõm khi nghe câu trả lời lần này. Thở phào, khi “được lời như cởi tấm lòng”. Cởi và mở tấm lòng, là tình trạng sống Đạo của rất nhiều dân con nhà Chúa. Thở phào, vì tham dự lễ Chúa Nhật vẫn là chuyện “thường ngày ở huyện”. Vẫn xảy ra trong Nhà của Chúa, nơi có lễ. Có lễ và có lạy, khi rước Chúa ngự trong lòng của người anh người chị, ở khắp nơi. Chúa đi vào lòng người, là chuyện ta nên khuyến khích mọi người. Chứ đừng đưa ra những doạ và nạt, nghe đến sợ. Được biết, dân con Nhà Chúa ở huyện ngoại thành, hay ngoài nước vẫn hay tránh né những o ép, rất ư là luật lệ. Những o ép rất khó chịu. Vậy thì, đưa ra làm gì nhiều vấn đề, cho thêm mệt? Còn nhớ, Hội Thánh tiên khởi cũng đã có những trường hợp o ép, khúc mắc tương tự, khiến người dân đi Đạo ở huyện nội thành xứ Cô-rin-tô từng hỏi han. Và Phao-lô thánh nhân cũng đã kịp thời có lời khuyên rất thánh gửi đến bổn đạo nhà. Những lời khuyên bảo, mà ngày nay ta vẫn coi là Lời của Chúa được đọc vào buổi cử hành một số Thánh Lễ, trong Đạo. Để tóm tắt, xin ghi lại như sau: “Cho nên, thưa anh em, khi họp nhau để dùng bữa, anh em hãy đợi nhau” (1 Cr 11, 33). Hoặc: “Nếu có ai nghĩ mình phải cãi lý, thì đó không phải là thói quen của chúng tôi, cũng như không phải là thói quen trong các Hội Thánh của Thiên Chúa.” (1Cr 11, 16) Thật ra, chuyện ở đây không là “phải cãi lý”, hoặc “hãy đợi nhau khi (dự lễ Bẻ Bánh) dùng bữa”, mà là hãy sống với nhau, gặp nhau như những người anh người chị cùng nhà. Cùng gia đình, cùng cộng đoàn để rồi ta trông ngóng, đón chờ ngày Chúa quang lâm. Nếu thế, xá gì một chút nhịn nhau. Nhường và nhịn, chứ không phải là đe và nẹt, từ đấng bậc trên cao. Rất đáng sợ sệt. Phải thế không bạn? Phải thế không tôi? Những tôi và tớ, trong nhà Đạo, Nhà của Chúa, vẫn mời chào người con.
Trần Ngọc Mười Hai, vẫn cứ hỏi những tôi cùng tớ những câu vớ vẩn và vẩn vơ như thế
Thương khó – khó thương, vẫn cứ thương mà không khó
Đầu đề chuyện phiếm hôm nay xem ra có vẻ kỳ thú? Đây không phải là đề tài lớn về thần học; mà, chỉ là thắc mắc cỏn con (một câu hỏi thì đúng hơn) từ một cô bé người Việt, con nhà lành, rất kính sợ Thiên Chúa. Nhưng, cô cũng có những thắc mắc. Và, vì quen với lối giáo dục ở trời Tây. Cộng thêm một ít khôn ngoan của người nghe lời Chúa và dám có thắc mắc, dám hỏi han. Thắc mắc cô bé hiện có là do đã nghe bài Thương Khó của Đức Yêsu, theo thánh Marcô. Thắc mắc, như thế này: sao ta gọi đó là “Thương Khó”, nghe dễ lầm với chữ khó thương, khó chịu? Phải chăng có điều gì khó hiểu trong các bài Phúc Âm vào Tuần Thánh? Trả lời vấn nạn của cô, xem ra cũng hơi khó. Mặc dù, đó không phải là khó thương hay khó chịu. Mà, chỉ có ý bảo rằng: không dễ gì làm cô hài lòng, với những từ ngữ hoặc luận đề có tính cách cao siêu, khó hiểu. Nhưng, để chiều ý cô bé, hãy cứ thử phiếm rồi luận một chút, xem sao. Nói chung, cụm từ “Sự Thương Khó” trong Phúc Âm các thánh sử ghi lại, là từ ngữ được dịch từ chứ Passion tiếng Anh hoặc tiếng Pháp mà có.The Passion of Jesus Christ hoặc: La Passion du Christ. Passion ở đây là quyết định có một không hai của Đức Yêsu khi Ngài đi đến giai đọan kiện toàn công trình cứu độ mà Chúa Cha trao cho, qua việc chấp nhận mọi khổ đau nơi thân xác. Đau khổ tận cùng bằng cái chết nhục nhã, trên thập tự. Cứ sự thường, nói đến Passion người ta liên tưởng ngay đến nỗi đam mê của nhà nghệ sĩ hay phàm nhân nào yêu thích việc gì đến cùng tột. Chẳng hạn, khi bảo anh này đam mê hội hoạ, anh kia mê nhẩy nhót quá sức; cô kia mê hát quá độ, chàng nọ mê đánh bài đến nỗi không ai khuyên bảo được…Thậm chí, khi người con trai thương yêu người con gái nào ngoài sức tưởng tượng, thì người đời sẽ bảo: anh chàng này mê gái. Ngược lại, khi người con gái chết mê chết mệt vì anh con trai nào đó, thì người đời lại bảo: cô ta si tình, hoặc mê trai, như điếu đổ. Tóm lại, khi đam mê, người ta thường để hết tâm trí, thời giờ cũng như sức lực cho những chuyện họ đang say mê, thích thú. Từ danh tự Passion ta có thêm các hình dung tự Passioné hoặc Passionate chỉ tính chất mê say, mê mệt. Và từ đó, lại có từ khác như Compassion, Compassionate chỉ đặc tính hay thương xót, thương yêu vô ngần của ai đó. Vì thế, Passion ở đây không mang ý nghĩa “khó thương” hay “khó chịu” gì hết. Nhưng, nếu hỏi rằng cụm từ Passion trong The Passion of Jesus Christ thì sao? Có là đam mê hay mê mệt gì không? Câu trả lời có lẽ nên dành cho các nhà học giả hay chú giải Thánh Kinh. Ở đây, chỉ xin mạo muội kính mời người đọc giở Phúc Âm thánh Luca đoạn 22 câu 14, hẳn quý vị sẽ tìm thấy ý chính như sau:
“Khi giờ đã đến, thì Ngài lên giường tiệc làm một với các tông đồ và Ngài nói cùng họ: ‘Ta ao ước khát khao ăn Lễ Vượt Qua này với các con trước khi Ta chịu khổ nạn. Vì Ta bảo với các con: Ta không còn ăn lễ ấy bao giờ nữa cho đến khi nào nên trọn trong nước Thiên Chúa.” (Lc 22: 14)
Vậy là: các từ ngữ, như: Passion, Pass Over, Lễ Vượt Qua, cuộc Khổ nạn, Bài Thương Khó, vv… ắt có tương quan chặt chẽ với nhau. Tương quan ấy, khả dĩ lột tả được tâm tình mà Đức Kitô đã có, khi Ngài thực hiện ý định chung cuộc của Ngài. Nói chung, nếu gọi cuộc “Khổ nạn” của Đức Kitô là “Sự Thương Khó” hay “Nỗi Thống Khổ” thì tất cả đều quy về điểm này: Đức Kitô đã chấp nhận sự Thống khổ dẫn đến cái chết nhục nhã trên thập tự. Cái chết, mà có một lúc nào đó, Ngài gọi là “chén đắng”, rất khó nuốt:
“Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho chén này qua đi khỏi Con! Song, không phải như ý Con, mà như ý Cha.” (Mt 26: 39)
Vậy thì, khổ đau hay sự chết đều có nghĩa “thương khó”, tức đều có khó khăn khi phải quyết định nhận lấy nó. Chính vì thế, Thương Khó khi dẫn đến cái chết nhục nhã, đôi lúc cũng khó thương hoặc khó chịu, nếu không phải là thương khó vì yêu thương đến cuồng nhiệt, mà người đời cho là dại khờ, hoặc: khó mà thương. Thứ tình yêu, mà có bạn đã quả quyết là “không thể đo lường, không thể giải thích được vì tình đó là tình điên dại.” Vậy nên, tình của một người yêu đến mê đến mệt, và dại khờ, yêu với tất cả đam mê, cuồng dại, không thể đo lường được, thì chính đó là Passionné, Passionate, Compassion, Passion, Pass Over,… là như thế. Trong buổi mạn đàm bỏ túi giữa bạn đồng đạo và đồng thuyền, có người đã bất thần bày tỏ: Đạo của Đức Kitô loan truyền chính là Đạo của niềm vui Tin Mừng, thứ Đạo làm cho người người thêm hưng phấn, chứ tuyệt nhiên không phải và không thể là Đạo của răn đe, trói buộc; hay còn gọi là: Đạo của những chuyện khó thương và khó chịu. Vậy, dám phiếm với các bạn rằng: khi chiêm niệm về Sự Thương Khó/Thống Khổ của Đức Kitô, có gì làm bằng cho quả quyết nói trên không? Nói cách khác, sao dám gọi Đạo Chúa là Đạo của Tin Mừng, của niềm hưng phấn, khi mà suốt cả năm phụng vụ, Hội thánh buộc con dân mình phải ăn chay, hãm mình chịu khó những hai lần. Đây cũng là một thứ “chịu khó” đến “khó chịu” cả về thể xác lẫn tinh thần. Thế thì vui chỗ nào? Mừng ở đâu ra? Thắc mắc trên đây, bần đạo đã hơn một lần chuyển đến các bậc trưởng thượng trong cộng đồng dân Chúa sở tại, thì nhận được câu trả lời rất ư là “đặc biệt”. Có vị, thay vì giúp bần đạo tìm ra chân lý, lại quắc mắc trách thầm sao bần đạo hay có những thắc mắc lỉnh kỉnh, đến như thế. Cũng may, còn có vị khác tử tế hơn, nghe hỏi đến đó, bèn thảy cho ít sách dầy cộm với lời chỉ bảo nhẹ nhàng: Này, cầm lấy mà đọc đi, thế nào cũng tìm ra được ánh sáng ở cuối đường hầm, thôi.
Và rồi, hí hửng ôm chồng sách về đọc, thằng bé vừa đi vừa nghêu ngao câu hát nhại lại bài ca bất hủ của nhạc sĩ Phạm Duy, rằng:
Xin cảm ơn, Hội thánh có anh. Xin cảm ơn, một mái tóc già… Mai sau đó, trên trời Thiên Quốc… còn một chút gì để nhớ để thương.
Chưa hát xong, chân lý đã dần dần ló dạng, ở phía cuối đường hầm. Trước hết là một khẳng định, từ một vị thầy về Kinh thánh:
“Thánh Phaolô trình bầy vấn đề (ơn cứu độ) một cách rành rẽ khi Ngài lấy thí dụ một đứa trẻ sơ sinh ra để hưởng một cơ nghiệp lớn lao (Ga 3:23; 4-7). Cơ nghiệp là của nó không thể truất phế được do bởi chúc thư của cha nó… Cũng vậy, dân của Thiên Chúa là người thừa tự một cơ nghiệp thiêng liêng, cơ nghiệp ấy tạm có thể diễn tả bằng các đặc tính “Công chính, Bình an và Hoan lạc” (Lm Nguyễn Thế Thuấn, Kinh thánh, Tiểu dẫn vào tân Ước, tr. X)
Và, thêm vào đó là một lời nhắc nhở:
“Tân Ước là sử hạnh của một nhân vật: và nhân vật đó là Chúa Yêsu. Ngài hành động và chịu thống khổ như Mêsia, như Con Người, nghĩa là như vị đại diện cho dân của Thiên Chúa”. (Nguyễn Thế Thuấn, sđd tr. XI)
Thêm nữa, một chỉ dẫn ban đầu:
“Muốn đọc Tân Ước cho có hiệu quả, thì độc giả cũng phải ghi kỹ nơi trí mình cái mẫu đó… Khuôn mẫu được thể hóa trong điều mà Hội thánh tiên khởi gọi là “Rao giảng” (tiếng Hy Lạp nguyên văn gọi là kèrygma). Lời rao truyền ấy, ta có thể nói là có tính cách một tin “nóng hổi” làm chấn động lên… Các ngài gọi đó là “Tin Mừng” hay “Tin Lành” (sđd, tr XII)
Xem như thế, bản chất của Đạo lý Đức Kitô chủ yếu là Rao giảng Tin Lành. Mà nội dung của Tin Lành tập trung vào ơn cứu độ là chính. Để cứu độ con người, Đức Kitô đã phải chấp nhận sự thương khó đến cùng cực, bằng cái chết nhục nhã. Tuy nhiên, tất cả không dừng lại ở đây. Sự Thương khó/Thống khổ chỉ là con đường ngắn ngủi Ngài dùng để chuẩn bị cho Phục sinh cao cả. Phục sinh mới là cứu cánh của hành vi cứu độ. Không có Phục sinh, như thánh Phaolô quả quyết, thì lòng tin của anh em nên hư luống. Thành thử, Thương Khó là đoạn đường khó thương và khó chịu nhất thời cốt dẫn đến Tin lành chung cuộc là: Phục Sinh, Quang Lâm. Chính vì thế, mà chủ trương thống khổ của Mùa Vọng hay Mùa Chay nhằm giúp tín hữu Đức Kitô lãnh nhận ơn phước Phục Sinh mà Đức Chúa đã dành để cho con người, trong cuộc sống ngắn ngủi này. Cuối cùng, câu trả lời hay nhất cho thắc mắc nêu trên, có lẽ là: hãy cứ xem phản ứng của các người phụ nữ đã được thần sứ loan báo tin vui khi Đức Chúa sống lại. Thánh sử Mat-thêu đã ghi lại như sau:
“Vội vàng bước ra khỏi mộ, (các phụ nữ) vừa sợ vừa rất đỗi vui mừng, họ chạy đi báo tin cho môn đồ của Ngài.” (Mt 28: 8)
*
Như thế, thì Thương Khó ở đây là trạng thái ra khỏi mồ với tâm tình lo lắng, sợ sệt và buồn chết đi được. Buồn và sợ, nhưng vẫn “rất đỗi vui mừng” để còn báo cho người khác biết “Tin Lành Cứu Độ” của Ngài, nữa. Nếu thật sự, cùng sống và chia sẻ tâm tình của Đức Kitô khi phải uống chén đắng kia, thì những ai thắc mắc về sự “Thương Khó”, sẽ không còn coi đây là chuyện khó thương nữa. Bởi, cả hai tư thế Vọng Giáng Sinh lẫn Chay lòng đích thực vào mùa Thương Khó, chỉ có ý nghĩa rất đúng nếu ta lồng nó vào với tinh thần Phục Sinh đầy hưng phấn.
Và, khi ấy ta sẽ có được sự “Công chính, Bình an và Hoan lạc”.
Trần Ngọc Mười Hai vẫn trộm nghĩ như thế, hôm nay phiếm vội cùng bạn trong ngày chay lòng hoan lạc.
“Bàn tay đưa anh khỏi lòng người” “Đức Giê-su đã nói về cái chết của anh La-da-rô, còn họ tưởng là Ngài nói về giấc ngủ bình thường”
Giấc ngủ bình thường hay nỗi chết, vẫn là tình trạng linh hồn rời nơi thân xác. Trong chốc lát, hoặc chỉ một vài tiếng đồng hồ, thì ta gọi đó là giấc mơ vui hay cơn hồ điệp. Nhưng, nếu tình trạng ấy lại kéo dài vĩnh viễn miên trường, thì người người sẽ gọi đó là nỗi chết. Chết hay ngủ, có khác nhau nhiều lắm không? Vấn nạn nhè nhẹ hôm nay, xin gửi đến bạn bè, người thân. Gửi các vị đang đọc giòng chảy vội phiếm, hôm nay. Gửi cả cho những người anh người chị thích phiếm và thích tản mạn, vốn không ưa chuyện nghiêm túc, những khuyên và dạy. Vậy thì, bạn và tôi hôm nay ta cứ phiếm. Cứ tản mạn cho vui. Tản mạn, chứ không khuyên và không dạy, bất cứ ai. Bởi, với tuổi đời chỉ bây nhiêu, bạn và tôi dạy ai được? Dạy được gì? Dạy những gì? Viết đến đây, bần đệ nhận được một tin không vui từ bạn bè người rất thân, ở Hoa Kỳ. Tin không được vui, là tin về chuyến ra đi về chốn vĩnh hằng của anh Hoàng Kim Quý, cựu học viên Giáo Hoàng Chủng Viện, anh rể họ của một người anh trong Gia Đình An Phong ở Pleiku, Lm Trần Sĩ Tín DCCT. Trong tờ tin loan báo về sự ra đi của anh Hoàng Kim Quý, bần đệ được đọc những giòng như sau: Nhà văn, nhà báo, nhạc sĩ An Phong Hoàng Kim Quý, nguyên chủ bút sáng lập Nguyệt San DIỄN ĐÀN GIÁO DÂN, đã rời bỏ thân nhân, bằng hữu về miền miên viễn, ngày 28.1.2008 tại Fountain Valley Hospital, Nam California Hoa Kỳ, sau nhiều năm trời phấn đấu với chứng bệnh ung thư máu. Hưởng thọ 68 tuổi. Ông là cựu Chủng Sinh Giáo Hoàng Học Viện Đà Lạt, tốt nghiệp Cử nhân Triết và Xã Hội học Đại học Văn Khoa Sài-gòn, cựu Sĩ quan QLVNCH. Sau tháng tư năm 1975, ông bị CS bắt đi tù cải tạo trong nhiều năm. Cuối thập niên 80, ông cùng gia đình qua định cư tại Mỹ, tiếp tục sáng tác, dịch thuật, làm nhạc, làm báo. Ông chủ trương hai nhà xuất bản Thăng Tiến và Phụng Sự, vừa trước tác và dịch thuật 22 tác phẩm và là tác giả của rất nhiều bản Thánh Ca, Cộng Đồng Ca, Du Ca. Ông cũng là người khai sinh Trang Nhà (Website) Tiếng Nói Giáo Dân nhằm đem Đạo vào Đời, góp phần tích cực vào việc xây dựng Quê Hương và Giáo Hội…. trích ai tín từ gia đình) Tình cảnh của bần đệ cũng hơi na ná giống anh Hoàng Quý. Nghĩa là, cũng từng ở tù. Cũng đã làm báo, khi đi ra. Cũng viết và cũng lách, lâu nay. Mới, chỉ lai rai tham gia Ban Halleluyah “Ca Vào Đời”. Và mới đây, cũng rắp ranh ra CD Chuyện Phiếm Đạo-đời, nhưng không làm được gì nhiều như anh Hoàng Quý. Nói đúng hơn, chưa làm được gì cho Giáo Hội. Cho Đất Nước. Nhưng nay, bất chợt thấy anh bắt đầu đi vào cơn hồ điệp, bần đệ đã thấy có cảm giác khác lạ, ở trong bụng. Nói cách khác, tin của anh Hoàng Quý đã “ra đi vào giấc mơ miền viên miễn” đã cho bần đệ những giây phút chiêm niệm về sự “đi ra” và “đi vào” cõi thế trần. Để rồi, sẽ lại suy tư về chuyện đời này, lẫn đời sau. Về chuyện “ra” khỏi cuộc đời này và “vào” vùng đời sau, bần đạo có những gợi nhớ và cảm nghiệm. Rất cảm và rất nhớ, như sau: Lúc ấy, bần đệ đang học ở trường Dòng. Nghĩa là, vào giai đoạn cuộc đời mà bần đệ có rất nhiều giấc mơ và giấc ngủ, nhưng không miên viễn. Chính đó là lúc, trong môi trường rất mới, bần đệ cũng đã cảm nghiệm được những cái-tạm-gọi-là mất mát/hụt hẫng nơi khi có người anh em đồng cảnh đã ra đi về miền vĩnh cửu. Những người anh rất Linh Mục. Hoặc, rất phó tế. Trong buổi canh thức ngồi cạnh một người anh đã ra đi, bần đệ lúc ấy đã có những cảm nhận rất ư là “giá buốt tim em”. Kế đến, là những giòng chảy suy tư về một cảnh tình lâng lâng nhè nhẹ, ít khi thấy. Thấy như thế nào, quả thật khó diễn bày. Thúc bách cho lắm, thì bần đệ cũng chỉ dám đưa ra những tâm tình mông lung, lơ mơ “khó diễn tả”, buộc chính bần đệ phải quay về với lời dặn dò của Thày Chí Thánh, nơi kinh kệ. Dòng chảy suy tư đêm đó, là những tâm tình xảy đến với người thân của La-da-rô, ở trình thuật: “Đức Giê-su nói về nỗi chết của anh La-da-rô, còn họ tưởng Người nói về giấc ngủ bình thường.” (Ga 11, 13). Từ ngàn xưa, khi nói về nỗi chết, nhiều người cũng có các tình tự giống như thân thuộc của anh La-da-rô. Nghĩa là, khi nói ai ngủ say thì bảo: “Anh ta ngủ như chết”. Còn khi nói anh đã chết, thì lại tưởng chừng đó chỉ là giấc mộng bình thường, trông như đang ngủ, rất thường tình. Xem thế, thì chết và ngủ thường không có gì khác biệt. Đó là, xét về mặt tư thế của thân xác. Chính vì tư thế này, mà nhiều người vẫn lầm tưởng. Vẫn lẫn lộn. Lẫn và lộn, cả trong suy và xét về tư thế phải có khi chết. Và khi ngủ. Bởi, nói cho cùng, chết: là đã và đang ngủ. Cũng thế, ngủ là trạng thái đang chết cho những lầm và lẫn, mắc phạm từ lâu. Chết cho tư thế lầm tưởng, với lẫn lộn. Lầm và lẫn nhiều thứ. Lầm và lẫn cả trong tư thế sống. Sống thật. Sống ở giai đoạn chuyển tiếp chứ chưa là chốn miên trường. Về ngủ và chết, Đức Chúa còn nói thêm: “La-da-rô, bạn của chúng ta đang yên giấc, Thầy đi đánh thức anh ấy đây.” (Ga 11, 11) Yên giấc như Chúa nói, là cõi yên bình trong cơn giấc. Giấc, đây có thể vừa là giấc ngủ. Vừa là giấc mơ. Mơ về cõi sống không có nỗi chết. Cả đến khổ đau sầu buồn, cũng không. Thế nhưng, nếu La-da-rô đang yên giấc, thì sao Chúa lại phải đánh thức anh dậy? Đánh thức anh như thế, ý hẳn Ngài không muốn cho giấc mơ hay giấc ngủ của anh được bình yên ? Thì đây, một phản ứng: “Bấy giờ Ngài mới nói rõ: La-da-rô đã chết thật.” (Ga 1,14 ) Người bạn thân của Đức Giê-su đã chết thật. Nhưng, Chúa vẫn nói tiếp: “Thầy mừng cho anh em, vì Thầy không có mặt ở đó để anh em tin.” Và, Thánh Gio-an Tông Đồ, thêm vào trình thuật, câu nói của ông Ni-cô-đê-mô: “Cả chúng ta nữa, chúng ta cũng hãy đi để cùng chết với Thầy.” (Ga: 11, 16) Suy cho kỹ, “yên giấc”, “chết thật” hoặc “hãy đi để cùng chết với Thầy”, vẫn quan trọng hơn cảm nhận và san sẻ chuyện sầu buồn. Quan trọng, là bởi “có như thế anh em mới tin”. Tin rằng: tất cả mọi người sẽ giống như La-da-rô người anh của Mác-ta, bạn thân của Đức Chúa, sẽ sống lại. Và, ở đây thánh Gio-an tông đồ đã ghi lại một xác quyết khác, từ Đức Chúa: “Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống. Ai sống và tin vào Thầy, sẽ không bao giờ phải chết. Chị có tin thế không ?" (Ga: 11, 25) Nói khác đi, chuyện sống – chết hoặc mộng mị – yên giấc, chẳng qua cũng chỉ để chúng ta tin. Có tin mới có sự sống. Sống thời bây giờ. Sống cõi miên trường. Hôm qua và hôm nay, nếu còn có những người bạn hoặc anh em của Đức Chúa, đã và đang “yên giấc” ngàn thu hoặc mới chỉ vài ngày, lại hỏi Chúa về chuyện “sống – chết”, thì ắt hẳn Lời của Chúa cũng sẽ được lặp lại mà hỏi rằng: “Anh chị có tin thế không ?” Vâng. Tất cả là ở điểm này: Sống-chết, vẫn chỉ là chuyện đời thường. Chẳng có gì đáng để ta phải hãi sợ và kinh ngạc. Hoặc, luôn vấn nạn: Anh chị có tin thế không? đây mới là chuyện quan trọng, đáng bàn. Và, để minh xác thêm về đời người, dù ở giai đoạn trước hay sau cuộc đời, tưởng cũng nên kể thêm ở đây một tâm sự, một chuyện kể rất thường. Chuyện thường của đời người. Còn gọi là chuyện về Cuốn Sách Đời Tôi, như sau: Bạn có biết mỗi ngày trong đời người, ta đều mở ra một trang giấy trắng. Rồi thì, mỗi ngày cứ thế trôi qua, khi trang giấy đời mình đã kín. Và, mình cũng chẳng có thể thay đổi được gì hết. Giở lại từng trang giấy cuộc đời, ta sẽ thấy lại được đời mình. Nhiều khi rất hạnh phúc. Nhưng, cũng có lúc khá buồn đau. Có những kỷ niệm rất ngọt ngào, làm ta nôn nóng. Nhưng cũng có những ký ức buồn phiền, khiến ta chỉ muốn xé tan tờ giấy ấy… Và từ hôm nay, bạn và tôi hãy tìm cách viết khác đi trên những trang giấy của đời mình. Đó là: * Dẫu khó khăn có bao trùm, nghịch cảnh có bủa vây, ta vẫn tìm cách pha trộn bột mầu cho tờ giấy được dịu dàng, thật êm ái như thể trời vẫn quang, mưa đã tạnh.. để bức tranh cuộc đời hôm nay sẽ là một hồi ức đẹp cho ngày mai. * Vậy thì hôm nay, ta nên viết gì đây? Hãy viết sao cho ngày hôm nay trở thành thứ “tài sản vô giá”, hay thành “hành trang không thể dễ quên” để ta có thể vững bước đến mút cùng tận của đường đời. Vì ta đã có niềm tin, ý chí và lạc quan làm bạn đồng hành. * Còn bạn, bạn sẽ làm gì khi bạn phát giác ra rằng mình chỉ còn độc nhất có một ngày để sống? - Phải chăng, bạn sẽ cảm tạ ba mẹ, người đã ban cho bạn cuộc sống tươi đẹp? - Hay, sẽ nguyện Ơn Trên, xin bình yên đến với hết mọi người, cho người mình yêu dấu và cả những người mình chẳng yêu. Người mình đã quen hoặc chưa một lần biết mặt ? - Sẽ ngồi lặng hằng giờ nhìn ngắm mặt trời mọc, chiêm ngưỡng các tia nắng vàng nhảy nhót vào khi hôm sớm. Hoặc, nghe tiếng gió thì thầm ve vuốt làn da, khẽ đùa nơi từng lọn tóc ? - Sẽ chạy ùa vào vòng tay rộng mở của người mình yêu thương nhất đời để được ôm ấp, với chở che. Để được say đắm nồng nàn. Hoặc, sẽ ôm ghì các đứa con thiên thần của mình, cho đến khi không còn hơi sức để ôm nữa? * Bạn và tôi hãy tận hưởng để sống một ngày, như mọi ngày. Hãy lấp đầy ký ức của mình bằng niềm vui râm ran và những gì tốt đẹp. * Xin đừng làm tổn thương bất cứ ai, dù chỉ bằng lời nói. Xin được chìa vai để cùng ai đó gánh vác. Gánh vác mọi sức nặng của cuộc đời. Để rồi, sẽ cùng nhau xây đắp những công trình, mà mình không thể dời kéo đến ngày hôm sau. * Không bao giờ là quá muộn, để bạn và tôi có thể thay đổi cách suy nghĩ, cách nhìn đời, cách sống và cách cảm nhận về cuộc đời; để rồi, sẽ khởi đầu một ngày mới, viết lên trang sử về đời mình. * Cảm tạ Ơn Trên. Cảm tạ Trời Đất đã ban cho bạn và cho tôi, có được “ngày hôm nay”, vì hôm nay đích thật là “quà tặng”.
Vâng. Vì là quà tặng, nên ngày hôm nay có thể chỉ là chuỗi dài một đời người. Một đời dù chỉ “sáu mươi năm”, hoặc “nhân sinh thất thập”, vẫn chưa “cổ lai hi”. Cảm tạ, vì quà tặng vẫn có đó. Cả ở đời này, lẫn đời sau. Quà tặng của Niềm Tin. Và Niềm Yêu. Niềm yêu thương đã “đưa anh khỏi lòng người”. Lòng đời. Một đời rất “người”, dù trước hay sau. Nơi cõi miên trường. Vĩnh viễn.
Trần Ngọc Mười Hai, dù đời chưa là thất thập chốn nhân sinh
Tình yêu – sự chết, hai điểm nóng của đời người (Rm 5 & 6)
Có một điều rất ư là trái khoáy đối với người Việt đi Đạo, là: hằng năm cứ vào độ xuân sang ta ăn Tết chưa được bao nhiêu ngày, là ai nấy đã phải hồi tâm, tỉnh trí để suy niệm về những đề tãi gây trăn trở, như: sám hối, khổ hạnh, sự chết… Điều này quả không sai, nếu đem so chiếu với lịch phụng vụ của Giáo hội năm nay: Năm C 2007. Rõ ràng, bà con đi Đạo mừng xuân Đinh Hợi mới được vài ngày là đã bước vào phụng vụ Mùa Chay, bắt đầu từ Thứ Tư Lễ Tro mồng 4 Tết, với đề tài suy tư về ý nghĩa cái chết-cuộc đời. Trong khi ở đời thường, người ngoài Đạo những chúc nhau, nào là: đắc tài đắc thọ, bách niên giai lão, đa phúc đa lộc, vạn sự như ý nguyện, khang an thịnh vượng, vv.. nghĩa là ai cũng muốn chúc tụng nhau niềm hạnh phúc dài lâu, vô bờ; hoặc có được cuộc sống kéo dài đến trăm năm. Thế nhưng, khi đối đầu với thực tại thì trớ trêu thay, vào Mùa Chay, Giáo hội lại nhắc nhở người tín hữu Đức Kitô hãy bớt vui chơi chè chén mà hãm mình, phạt xác; hoặc, bỏ chút thời giờ để gẫm suy về cái chết của Đức Kitô, cái chết cao cả của Đấng Vô Cùng Vô tận, cả thời gian lẫn không gian. Nhìn từ một góc độ nào đó, người tín hữu Đức Kitô hẳn nhận ra rằng: giữa Tình yêu và Sự chết đã có tương quan nào đó, rất mật thiết. Bởi, nói một cách khái quát thì: dù có tình yêu mà không có sự chết thì tình yêu đó đã chắc gì mang đủ ý nghĩa của tình yêu đích thực? Ngược lại, chết mà không có dụng đích, hoặc không vì tình yêu thì chỉ là chết oan, chết tức tưởi, chết lãng xẹt. Trong ngôn ngữ đời thường của người Việt, ta thấy bàng bạc những thành ngữ như: “Yêu là chết trong lòng một ít”, “Yêu anh, em chết đi được!”, “Sướng muốn chết!”, vv.. cũng nói lên phần nào mối tương quan giữa tình yêu và sự chết này. Trong văn chương kịch nghệ cổ xưa, chắc chẳng ai quên được những chuyện tình lâm ly, ai oán với những cái chết êm ả, nhẹ nhàng như thần thoại Orpheu & Eurydice, hoặc Romeo & Juliet… Cũng thế, trong chừng mực nào đó, có thể nói được rằng: các nhân vật chính trong những chuyện tình lãng mạn ấy, đều muốn tìm đến cái chết để cho tình yêu của mình trở nên vĩnh hằng, bất tử. Thành thử, có thể khẳng định đựợc rằng: chính qua cái chết nhẹ nhàng và trữ tình như thế, tình yêu họ trao nhau đã thật sự trở nên bất tử, vĩnh hằng từ lâu. Và ở đây, ta rút ra kết luận: Tình yêu quả có dẫn đến sự chết; và, sự chết quả đã nói lên được đặc trưng của tình yêu. Nói cách khác, yêu là chết trong lòng “nhiều lắm” chứ không chỉ “một ít” như tác giả nào đó nhận định. Về với tín lý thần học, hỏi rằng: Mùa Chay có là dịp tốt để ta suy niệm về tình yêu và sự chết, không? Thì trước tiên, nếu quan niệm rằng: hãm mình phạt xác là “chết trong lòng một ít”, thì đó chính là vì mình muốn cho mọi người được hiệp thông với cái chết cao cả, với tình yêu đích thực của Đức Kitô, mà thôi. Thánh Phaolô, nhà thần học uyên bác của Giáo Hội, đã nhiều lần đề cập đến sự chết và tình yêu ngang qua cái chết của Đức Kitô. Trong thư gửi giáo đoàn Rôma, ngài khẳng định:
“Chính Thiên Chúa đã thi thố Tình yêu của Người như thế này: là Đức Kitô đã chết vì loài người” (Rm 5: 8)
Trong ý hướng thần học của thánh Phaolô, thì yêu chẳng phải là ”chết trong lòng một ít”, mà ngược lại, chết là cách thức diễn tả tình yêu trọn vẹn mà Thiên Chúa thi thố với loài người. Chính Đức Kitô, Đấng không thể chết, đã chọn lấy cái chết, và là cái chết rất nhục trên thập giá. Và, Ngài vẫn đang chết dần chết mòn vì sự thờ ơ lãnh đạm của loài người; để rồi qua đó, đưa loài người vào chính tình yêu vĩnh hằng của Thiên Chúa. Nói cách khác, chết là sự cốt thiết “ắt và đủ” của Tình yêu. Có chết cho chính mình mới nói được là mình đang yêu ai đó. Chết cho người mình yêu là cái chết rất đẹp và đầy ý nghĩa nhất. Thành thử, hàng năm cứ mỗi độ xuân về, Giáo hội vẫn cứ kêu gọi tín hữu Đức Kitô không chỉ hãm mình phạt xác suông, mà thôi. Nhưng, còn phải chết đi; chết cho tình yêu cao cả và đích thực ấy. Chết cho Đấng đã yêu thương mình đến chết. Nhưng, vấn đề đặt ra, là: năm nào Giáo hội cũng kêu gọi tín hữu Đức Kitô hãy chết đi. Giáo hội cứ kêu hoài, kêu mãi chẳng thấy ma nào chết cả! Hoặc: phải chết cách nào mới gọi là chết đẹp, chết có ý nghĩa? Để trả lời cho câu hỏi này, có lẽ không gì bằng ta hãy đi vào chính nguồn mạch của sự sống cho mọi tín hữu, tức: Lời của Ngài mà tìm hiểu. Vậy, dưới đây là một vài trích dẫn từ nguồn mạch sự sống ấy. Trích dẫn không có nghĩa trả lời thẳng vào vấn đề. Nhưng, trích dẫn ở đây, chỉ mang tính cách gợi ý và khích lệ, thôi.
“Chúng ta đã được mai táng làm một với Ngài trong sự chết ngõ hầu như Đức Kitô, nhờ bởi vinh quang của CHA, đã được sống lại từ cõi chết, thì cả ta nữa, ta cũng bước đi trong đời sống mới.” (Rm 6;3); và: “Nếu ta đã nên đồng hình với sự chết của Ngài, thì ta cũng sẽ được đồng dạng với sự sống lại của Ngài” (Rm 6: 5) hoặc: “Nếu ta cùng chết với Đức Kitô thì hãy tin rằng: ta sẽ cùng sông với Ngài.” (Rm 6: 8)
Nói cho cùng, yêu là chết đi. Chết vì yêu. Chết cho chính mình. Chết như thế mới thực sự là ta đang sống. Sống hay. Sống đẹp. Sống sốt sắng trong tình yêu cao cả của Đức Kitô, Chúa chúng ta.
Trần Ngọc Mười Hai (2007) từ Sydney-Úc Châu xin có vài gợi ý.
“Tôi thấy em trong tiền kiếp với cọng buồn cỏ cây” (Yn 1: 9-10)
Có dịp đọc báo Ephata Việt Nam do Trung Tâm Mục Vụ Dòng Chúa Cứu Thế phụ trách, bạn và tôi sẽ bắt gặp những giòng chảy về một vị linh mục Dòng đã một thời rất nổi tiếng, Lm Trần Hữu Thanh CssR, như sau:
“Một lần cuối cha Thanh chủ động dấn thân vào chính trị: đó là năm 1974 ở Sàigòn. Cha cùng với 301 linh mục khác ký tuyên ngôn lập Ủy Ban Chống Tham Nhũng. Cha Thanh trăn trở đã nhiều về tiền đồ đất nước, cha cũng đã xoay xở nhiều bề, nhiều phía. Càng ngày càng thấy rõ một điều: sự tham lam ích kỷ như một thứ tà khí bao trùm lên xã hội, nó gặm nhấm, nó làm tiêu tan, nó vô hiệu hóa những ý đồ tốt đẹp nhất. Cha cũng có kinh nghiệm về chống tham nhũng: trong những năm ’50 với việc phanh phui vụ “Gạo miền Trung”, cha góp phần làm cho nhiều quan chức đứng đầu 6 tỉnh miền Trung mất chức. Nhưng lần này không chỉ là chuyện của những quan chức cấp tỉnh. Lần này vấn đề lớn hơn nhiều: tham nhũng là quốc nạn, nó biến thành thói tục, thành cơ chế, thành cái nếp xuyên suốt xã hội từ trên xuống dưới, từ đưới lên trên. Nó khiến xã hội trở nên vô hồn, nó đầu độc sinh khí cộng đồng.” (Lm Vũ Khởi Phụng – Nhớ Cha Trần Hữu Thanh, Ephata Việt Nam số 343, 09/12/2007 tr. 16)
Đọc những giòng trên đây, bạn cũng như tôi, chắc có lúc cũng mang trong đầu rất nhiều câu hỏi. Nhưng câu bắt đầu bằng cụm từ “tại sao”. Chẳng hạn như, tại sao truyền thông báo chí hôm nay đề cập nhiều đến các nhóm Hồi giáo như Jamaar Islamir, Muslim Shiite, Suni vv..? Tại sao Giáo hội Công giáo cứ nhắc nhở dân con nhà Đạo hãy cẩn thận với những chuyện chính trị? Và, một trong những nhắc nhở dẫn tới vấn nạn nhiều nhất, là: có nên tham gia vào chuyện chính trị, đảng phái hoặc bày tỏ chính kiến/ý thức hệ ở trong và ngoài nước, không? Hỏi thì nhiều người cũng đã hỏi. Nhưng cho đến nay, đã được bao người đưa câu trả lời khiến bạn và tôi rất mãn nguyện? Hỏi thì hỏi thế, có trả lời cũng chỉ để mà trả lời. Chứ, ai nào biết được câu trả lời ấy sẽ đúng hay sai. Có hợp lẽ Đạo nhà mình? Có ăn khớp chuyện đời thường hay không? Đó mới là vấn đề.
Và, vấn đề của bạn và tôi hôm nay, là: ta chớ vội tìm câu trả lời, ngay lập tức. Nhưng hãy thử đưa mắt nhìn thoáng qua một số vấn nạn muôn thuở. Thứ vấn nạn bao giờ cũng có đó. Và, lúc nào cũng xảy ra. Nó xảy ra từ lúc con người bắt đầu manh nha với ý thức về gốc gác của tinh thần và đạo giáo nhà mình. Gặp những vấn nạn và câu hỏi, ta chớ vội trả lời thằng vào vấn đề, nhưng cứ phiếm. Phiếm trước đã. Phiếm cho ngã ngũ vấn đề. Mới thôi. Mới chịu ngừng hỏi.
Và, khi đã phiếm, bạn và tôi sẽ nhận ra rằng những thắc mắc về chuyện chính trị ở nhà Đạo là chuyện rất thường xảy đến. Bản thân bần đạo cũng từng có thắc mắc tương tự thập niên ’60, hổi còn ở quê nhà. Lúc ấy, cục diện chính trị ở trong và ngoài nước, đã bắt đầu sục sôi. Sục sôi ngay tại môi trường sống tách rời trần thế. Cụ thể, lúc ấy đã nảy sinh những vấn đề rất mới về triết lý Đông Tây. Thứ triết lý hiện sinh thu hút văn nhân thi sĩ, khắp nơi trên thế giới.
Bần đệ còn nhớ. Trong khoảnh khắc mới chớm của cái-gọi-là triết lý hiện sinh Phương Tây ở Pháp, đã thấy xuất hiện các triết gia nổi bật như Jean Paul Sartre, Albert Camus, Simone de Beauvoir, F. Sagan… gợi lên những tư tưởng làm bận lòng những người suy tư, khắp các nơi. Ngay ở môi trường tách rời như Học viện trường Dòng, rất nhỏ bé. Và, những ông thầy dòng bé nhỏ đã từng hỏi: khi làm cha, ta có nên tham gia quỹ đạo quay cuồng nồng nhiệt ấy không? Tức là, những môi trường chính trị luôn có những thói quen không chính đạo cho lắm ấy?
Đề cập đến chuyện chính đạo hoặc tà đạo là đề cập đến lập trường đường lối của rất nhiều người về Đạo. Hoặc về Đường. Những đường dẫn đến Đạo. Thứ Đạo ở với đời. Trong đời. Nào bây giờ, ta phiếm.
Quả thật, khi Ngôi Hai nhập thể và nhập thế, toàn bộ cuộc đời con người đã những mang sắc thái rất Đạo. Và, lẽ Đạo nay cũng dính dấp nhiều đến chuyện đời. Những chuyện ở đời thường. Rất người. Chuyện đời người và người đời. Chuyện, mà người đời thường gọi là chính trị. Hoặc, nếu phát âm theo giọng của người Bắc (mà lúc ấy có người quen gọi là “Bắc kỳ di cư”) thì, đó là chuyện “chính chị chính em”. Chính chị hay chuyện rất chính để trị, tựu trung vẫn là nhân sinh chuyện dài, ở đời.
Nhân sinh chuyện chính trị ở đây, tuyệt nhiên không nên hiểu theo nghĩa sức mạnh/quyền lực. Cũng chẳng nên quan niệm là nó mang tính nghệ thuật của công tác quản lý hay quản trị. Quản trị đất nước hay quản lý gia đình, quản lý xã hội. Mà là, quản cai một cách chính đáng chính trực, để sống. Sống chính đáng. Rất chính quy, là được.
Nói cho cùng, thì chính trị trong quan niệm tôn giáo chỉ là cách sống ở đời, sao cho thích hợp với Đạo. Vì Đạo đã nhập thế. Vì, Ngôi Lời đã nhập thể, vào đời. Nhập như thế, tức là Ngài đã đi vào với thế giới nhân trần, vào cùng một thể tạng, thể lý với những hình dạng rất Đạo. Và cũng rất đời. Thứ đời và Đạo quyện lẫn vào nhau. Trong nhau. Và bên nhau.
Để dẫn chứng cho chuyện ấy, thì đây một Lời hằng sống:
“Và, Ngài đến trong thế gian. Ngài có trong thế gian, Và thế gian đã nhờ Ngài mà có.” (Yn 1: 9-10)
hoặc, rõ hơn nữa:
“Lời đã thành xác phàm, và đã lưu trú nơi chúng tôi.” (Yn 1: 14)
Như vậy, nói đến chính trị là nói về đời. Và, về Đạo. Nói về Đạo, là nói chuyện nhập thế, và nhập thể. Nhập thế hay nhập thể, cũng vẫn quanh chữ “nhập”. Vẫn gọi là dẫn nhập, thấm nhập và hội nhập. Như vậy, nhập thế hay nhập thể còn là hội nhập. Hội nhập chứ không nhập hội, như nhiều người lầm tưởng. Những người từng nhập hội này hội nọ, nhưng không thấm. Và cũng chẳng bao giờ nhập. Bởi, hội nhập không có nghĩa thấm nhập vào bất cứ một hội nào. Nhưng là, đi vào với chính thế giới của mọi nhóm hội, đoàn thể. Như Lời đã đi vào trần thế. Vào với vũ trụ của đời sống. Bằng cả tình thương của người nhập cuộc. Người ở trong cuộc.
Cụ thể hơn, khi Ngôi Lời nhập thế và nhập cuộc, Ngài đã yêu người và yêu đời. Ngài mặc lấy cho mình toàn bộ nhân gian cuộc đời, của loài người nơi trần thế. Và như thế, Ngài cũng đã hội nhập thực sự. Và, hết mình nhập cuộc.
Thế giới hôm nay nói nhiều đến chữ Nhập. Đòi hỏi nhiều về hội nhập, và nhập hội. Và ngày nay vẫn khuyên người đời hãy “Đáo giang tùy khúc, “nhập” gia tùy tục”. Tuy nhiên, nhìn lại thì thấy thế giới loài người tuy có “nhập” đấy, mà thật ra vẫn chẳng nhập chút nào. Chưa “nhập” thì đúng hơn. Hoặc, mới chỉ nhập môn, nhập nhằng, chân trong chân ngoài, chứ chưa thật sự nhập cuộc. Hoặc, chưa nhập tâm, nhập Đạo. Nói khác đi, người đời vẫn chưa thẩm nhập vào chính trọng tâm của Lời Ngài. Và cũng là trọng tâm của đời người. Chí ít, là vào Đạo của Đức Chúa Nhập thể. Xem như thế, đời vẫn là nơi chốn để đón nhận Đạo. Để giúp ta sống Đạo. Sống yêu thương và tha thứ. Để rồi, Đạo sẽ tháp nhập vào đời; ngõ hầu, ta dõi theo bước chân mềm của Chúa. Bởi Đạo là Đường. Và, vì đời đã có Đạo. Và có Lời hằng sống của Đạo. Của Chúa.
Thánh Gio-an từng quả quyết như thế, trong chương mở đầu Tin Mừng của Ngài, rằng:
“Lúc khởi nguyên đã có ngôi Lời. Và Lời ở nơi Thiên Chúa, Và Lời là Thiên Chúa.” (Yn 1: 1)
Và, thánh nhân còn ghi thêm:
“Lời đã thành xác phàm, và đã lưu trú nơi chúng tôi, và chúng tôi đã được ngắm vinh quang của Ngài, vinh quang như của Con Một tự nơi Cha, tràn đầy ơn nghĩa và sự thật.” (Yn 1: 14)
Lời đã thành xác phàm và lưu lại ở với chúng tôi. Như thế là nhập cuộc. Như thế là thẩm nhập vào đời. Và, Lời không đứng ngoài nhìn đời, chỉ để phán và bảo ban, rất dửng dưng. Nhưng, Lời đã nhập thế, nhập cuộc rất trọn vẹn. Lời nhập thế/nhập cuộc, cốt là để ta có tự do gia nhập với đời. Với con người, ở chốn dương gian trần thế.
Cũng bằng vào quả quyết tương tự, một Đức Gio-an khác, Đức Gio-an Phao-lô ở thời đương đại, đã thổ lộ với các người trẻ, khi họ hiện diện tại lễ hội nọ. Lễ hội của những người trẻ trên thế giới, vào năm 1996, như sau:
“Mục tiêu mà đời sống chúng ta luôn nhắm tới, chính là Đức Kitô. Ngài đang chờ chúng ta - mỗi người với tư cách cá nhân cũng như tất cả- để dẫn đưa ta ngang qua ranh giới của thời gian mà đến với Thiên Chúa vĩnh cửu, vì Ngài hằng thương yêu chúng ta.” (trích lời phát biểu của Đức Gio-an Phao-lô II tại Đại Hội Giới Trẻ năm 1996 ở Toronto)
Xem như thế, nhập cuộc là việc phải làm. Nên làm. Bởi, nếu không nhập cuộc với đời, ta chẳng thể hành trình đi vào đời. Và, cùng với đời, tháp nhập vào với Đạo. Hiển nhiên là như vậy. Tuy nhiên, nói thế không có nghĩa ta phải tháp nhập vào những gian manh, nhập nhằng của thể chế chính trị nào đó. Thái độ này, cần minh định cho dứt khoát. Bởi lẽ, gian manh không thể hiện và đi đôi với tình yêu của nhà Đạo. Và, nhập nhằng không thể phản ánh tính vĩnh hằng của Lời Ngài đã nhập thế vào đời. Nhờ có sự nhập thế và nhập thể của Lời, đời trở nên hoà đồng với Đạo. Đi vào Đạo.
Và, thánh Gio-an còn viết thêm:
“Ngài có trong thế gian, và thế gian đã nhờ Ngài mà được có.” (Yn 1: 10)
Cuối cùng, còn lại vấn đề, là: thế gian (hay còn gọi là chính trị) có phảng phất một nhập nhằng nào đó không? Chắc sẽ có người trả lời: dĩ nhiên là có. Bởi vì, đối với những người này, chính trị là lem nhem, tranh giành, biển lận. Và, còn là giối dan, tạm bợ. Theo họ, làm như thế sẽ không có chỗ đứng nơi Đạo. Càng khó đồng hành với đời. Nhập thế hay nhập cuộc luôn dẫn đến va chạm. Luôn có đấu tranh. Va chạm sự xấu. Đấu tranh chống lại khuynh hướng tệ hại. Nhập thế và nhập cuộc, còn đưa dẫn đến tình huống có quan tâm, luôn hy sinh. Hy sinh để rồi sẽ dấn thân. Hy sinh mà nhập cuộc một cách trọn vẹn. Hy sinh trọn vẹn như Ngôi Lời từng hy sinh sự sống của chính mình, cho thế gian. Hy sinh, để thực hiện ý của Cha, như Ngài từng bộc bạch:
“Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho chén này qua đi khỏi Con! Song, không phải như ý Con, Mà là như ý Cha.” (Mt 26: 30)
Qua phong cách nhập thế, nhập cuộc (còn gọi là thái độ chính trị), ta cũng nên tìm đến những gì không mang tính chóng qua, tạm bợ. Bởi lẽ, chỉ có Đạo, riêng Đạo mới mang tính vĩnh cửu. Tháp nhập vào Đạo là để trở nên vĩnh hằng. Trở nên Một thân một Mình với Ngài. Và trong Ngài. Trong Đạo.
Ở không gian và thời điểm khác, chính Đức Gio-an Phao-lô II còn khẳng định với giới trẻ về tính vĩnh hằng ấy, như sau:
“Kỹ thuật hiện đại có thể cung ứng tạo niềm vui cho cuộc sống chúng ta. Cả việc giúp ta tạm thời thoát rời ra khỏi chính cuộc sống. Nhưng, cái mà thế giới không bao giờ cung ứng cho ta được, là niềm vui và là bình an muôn thuở. Có những món quà, mà chỉ có Chúa Thánh Linh mới ban cho ta mà thôi.” (Trích phát biểu của Đức Gio-an Phao-lô II nhân buổi họp mặt giới trẻ ở New Orleans, Hoa Kỳ năm 1987).
Với xác quyết của Đấng đại diện cho Đạo ở trần thế, khi nhập cuộc đi vào với Đạo, người người sẽ tìm được niềm vui muôn thuở. Niềm vui ấy, những người dấn thân nhập cuộc vào chuyện chính trị, đều có cảm nhận điều ấy hay không? Hay là họ vẫn còn trên đường tìm kiếm? Nói cách khác, nhập thế - nhập cuộc còn mang đến cho con người niềm vui khôn tả nếu như mọi người đều ở trong tư thế có thái độ chính trị thật đúng đắn. Rất hợp lẽ phải.
Thành thử, trong cuộc đời thường, có thái độ sống mới quan trọng. Tựa như thái độ vui buồn, ỉ ôi đủ bẩy thứ tình, khi ta nhập cuộc vào với đời. Đó là điều đáng ta quan tâm. Và, điều ta cần quan tâm trước nhất, vẫn là thái độ để ngỏ, hầu Chúa có thể nhập thế/nhập cuộc vào với chính đời mình. Có như thế, ta sẽ không khoá cửa lòng mình. Không còn thờ ơ, lãnh đạm. Vì thờ ơ lãnh đạm chỉ là niềm vui chóng qua, tạm bợ. Dứt khoát chẳng bao giờ là niềm vui muôn thuở, như Đức Gio-an Phao-lô vừa phát biểu ở trên.
Thái độ ấy chính là Đường, là lối dẫn đến Đạo. Dẫn đến niềm vui không tắt ngúm. Niềm vui đang mãi mãi lưu lại tình thương yêu của Đức Chúa. Thái độ ấy, không là tư thế gian manh, hoặc tranh giành quyền bính tìm lấy cho mình mọi lợi lộc quyền uy ở chính trường. Đó là thái độ chính trị, mang ý nghĩa thấp kém nhất. Đớn hèn nhất.
Có lẽ câu để đời của Ngôi Lời Nhập Thể và nhập thế dưới đây sẽ là kim chỉ nam dẫn đường cho những ai còn thắc mắc về thái độ chính trị phải có trong cuộc đời. Câu ấy là:
“Nước Tôi không thuộc về trần thế.”
Và:
“Vì loài người chúng tôi và để cứu độ chúng tôi, Ngài đã nhập thể trong lòng trinh nữ Maria Và đã làm người.” (Kinh Tin Kính)
Cuối cùng, nếu cần một ngôn từ nhẹ nhàng hơn ngõ hầu diễn tả phong thái ở trên, thì đây là đề nghị của tác giả Nguyễn Ngọc Lan trong “Chủ Nhật Hồng Giữa Mùa Tím:
“Nhập thể như thế cũng là “nhập tịch”, đi vào giòng dõi loài người, trở nên anh em bà con với mọi người”. (sđd, tr. 29)
Đó mới là thái độ chính trị. Đó mới là chọn lựa chính đáng. Cho mọi người.
Trần Ngọc Mười Hai Và một vài suy tư đứt đoạn Về một chữ “nhập” nhân đêm giao thừa và giao thời một năm mới.
“Đêm qua chưa mà trời sao vội sáng” (Lc 3, 23 – 38)
Hồi còn nhỏ, ở Sài-gòn, bần đạo được nghe các cụ rủ nhau tìm đến cụ Dã Lan Nguyễn Đức Dụ, để nhờ lập gia phả cho nhà mình. Không làm thế, sợ rằng rồi ra bọn trẻ không còn biết nguồn gốc tổ tiên, ngày cúng giỗ, ai trên ai dưới. Ai thuộc thế hệ nào, đời nào. Thưa gửi làm sao… Lớn lên, khi ngồi ghế ở nhà trường, nghe giảng giải về các lời kinh tu đức, bần đạo còn được bảo là: Đức Giê-su thuộc dòng tộc quý phái. Là, hậu duệ vua Đa-vít, rất nhiều đời. Lúc ấy, bần đạo càng xác tín thêm ý nghĩa cũng như vai trò rất hệ trọng của gia phả, cả tổ tiên. Cách đây vài năm, nhân đọc cuốn “Chứng Nhân Hy Vọng, các bài giảng tĩnh tâm cho Đức Thánh Cha và Giáo Triều Rô-ma năm 2000” của Đức Hồng Y F.X. Nguyễn Văn Thuận, bần đạo bắt gặp được một tư tưởng kính trọng nguồn gốc tổ tiên như sau:
“Đối với chúng tôi, những người Á Châu, đặc biệt là đối với người Việt Nam, việc tưởng nhớ các tiền nhân có một giá trị lớn lao. Theo văn hóa Việt nam, trong niềm hiếu kính, chúng tôi vẫn giữ một cuốn gia phả của gia tổ trên bàn thờ, trong gia đình. Chính tôi cũng biết được tên của 15 thế hệ các tổ tiên của tôi, từ năm 1698, khi gia tộc tôi được lĩnh nhận phép Thánh Tẩy. Qua gia phả, chúng ta thấy rằng mình thuộc về một lịch sử rộng lớn hơn. Và chúng ta ý thức rõ hơn ý nghĩa lịch sử của mình. Tôi xác tín rằng những lời trong “Sách gia phả Chúa Giê-su Ki-tô” chứa đựng lời loan báo chủ yếu về Cựu Ước và Tân Ước, chính yếu của Mầu Nhiệm Cứu Độ liên kết tất cả chúng ta với nhau, các tín hữu Công Giáo, Chính Thống và Tin Lành”. (F.X. Nguyễn VănThuận, sđd năm 2001, tr. 25-27) Vừa qua, trên tờ The Catholic Weekly số đặc biệt Giáng Sinh 2007, (đề ngày 23.12.2007, tr.10), bần đạo thấy có tín hữu Phương Tây, mang nặng cùng một ưu tư thắc mắc về gia phả Đức Giê-su được nhắc đến trong Tin Mừng. Nhưng, thay vì trích dẫn đoạn Tin Mừng nói về gia phả, thì nữ độc giả nọ lại càng thắc mắc nhiều về cây Giáng Sinh, như sau:
“Là một bổn đạo mới vừa gia nhập cộng đoàn tín hữu Công Giáo ở Úc, có nhiều điều tôi chỉ mới được nghe vài lần chưa quen tai cho lắm. Chẳng hạn, như: một số thói quen chỉ thấy nơi một vài Nhà Xứ, Nhà Thờ Họ Lẻ mà thôi. Một trong những điều tôi chưa hiểu rõ, là: tên tuổi các vị tiền nhân rất lạ được treo trên cây No-en ở Nhà Thờ, mà một số người gọi là nhành Y-sai (bên tiếng Anh gọi là Jesse tree). Xin cho biết điển tích và ý nghĩa của nhánh cây gia phả này”.
Đã hỏi về ý nghĩa của gia phả hay về các nhánh dòng tộc, có lẽ cũng nên trích dẫn lời chú giải của giáo sư Kinh Thánh Nguyễn Thế Thuấn, DCCT, như sau:
“Gia phả được xây dựng theo những số nhất định (7 và 14): gồm có 3 đợt theo 3 thời kỳ lịch sử Israel; mỗi đợt là 2 lần 7 ( nên đã bỏ sót ít là 4 đời ). Mục đích của gia phả là cho thấy nơi Chúa Giê-su, các lời hứa cho Áp-ra-ham đã ứng nghiệm; và Ngài Đa-vít mới (số 14 là tổng số tiếng Đa-vít tính theo giá trị số của chữ Hip-ri). Đến sau 6 loạt 7 đời, Ngài khai mạc thời viên mãn vào đầu loạt thứ 7. Gia phả theo Luca đại đồng hơn là trong Mát-thêu: Lu-ca lên đến A-đam. Hai gia phả không phù hợp với nhau, và không thể dung hòa. Phải nhận là có những điều nan giải vì đã quá xa trong quá khứ - ‘EB 563’. (Kinh Thánh 1976, Nguyễn Thế Thuấn, tr. 12,132)
Nay, ta hãy thử dõi theo câu trả lời của cha John Flader như sau:
“Cây gia phả mà cô có nhắc đến trong thư, có lúc được gọi là “cây Y-sai”. Cụm từ này được trích từ một đoạn sách Ngôn Sứ I-sai-a trong Cựu Ước, có nói: “Một chồi sẽ xuất từ gốc Y-sai, và từ rễ của nó, lộc sẽ mọc lên.” (Is 11,1) Còn về câu hỏi: cây Y-sai này có liên quan gì với Giáng Sinh hay không? Thiết tưởng, cụm từ “cây Y-sai” nhắc nhớ chúng ta về gia phả của Đức Giê-su, bắt đầu từ Y-sai, cha của Vua Đa-vít. Lộc chồi hoặc nhánh gia phả mà Ngôn Sứ I-sai-a nói đến mang xuất xứ từ Đa-vít, và cuối cùng, ý nói Đức Giê-su là Đấng kế vị ngai vàng của tổ phụ mình là Đa-vít. (x. Lc 1, 32). Các nhánh gia phả này được điểm tô bằng tên tổ tiên Đức Ki-tô và Đức Ma-ri-a ở trên đầu. Cả hai thánh sử Mát-thêu và Luca đều liệt kê các người trong gia phả của Đức Giê-su. Thánh Mát-thêu ghi ngược về thế hệ của Áp-ra-ham ngang qua Y-sai và Đa-vít, rồi tận cùng bằng thế Đức Giê-su. Còn, Thánh Lu-ca bắt đầu từ Đức Giê-su, rồi trở ngược về tới Đa-vít, Y-sai rồi đến A-đam. Theo dõi gia phả từ chi họ Y-sai cho đến thời Chúa Giáng Sinh là để nhắc nhở ta về nhiều thế hệ nối tiếp cứ mãi không ngừng chờ đợi ngày Đấng Thiên Sai đến từ hậu duệ của Vua Đa-vít…” (Lm. John Flader, The Catholic Weekly 23.12.2007, tr 10) Ở đây, cũng nên thêm ý kiến của cố giáo sư Nguyễn Ngọc Lan về gốc gác gia phả của Đức Giê-su, như sau:
“Mát-thêu và Lu-ca cho biết gia phả từ hàng mấy mươi đời trước. Nhưng gia phả ấy, không chỉ gồm những danh thơm tiếng tốt, vì trai bạo ngược cũng có mà gái giang hồ cũng có. Gia phả theo Lu-ca không ghi lại một danh tính phụ nữ nào. Gia phả theo Mát-thêu (Mt 1,1–17) nhắc tới vỏn vẹn bốn bà, nhưng đến ba bà chẳng quý hoá gì. Gia phả kia không phải thuộc loại gia phả tô hồng… Người ta còn kể nhiều chuyện lạ, trước và sau ‘Giáng Sinh’. Chuyện thần tiên ẩn hiện, chuyện báo mộng phi thường, chuyện đoàn mục tử nghe tiếng nhạc huyền bí, chuyện ba nhà đạo sĩ lần bước theo một vì sao lạ. Như thế, tất cả những anh em sống chung quanh chúng ta đều là “dấu” để nhận ra Chúa Ki-tô và tiếp xúc với Ngài, tất cả vạn sự to nhỏ đời họ cũng như đời chúng ta đều ăn liền vào chính cuộc sống Chúa Ki-tô. Chúa đang đến giữa chúng ta, chúng ta sẽ tha hồ gặp gỡ Chúa làm người. Vợ gặp Chúa trong chồng, chồng gặp Chúa trong vợ. Vợ chồng gặp Chúa trong con cái. Vợ chồng con cái cùng có thể mở cửa tìm Chúa, đón Chúa, khi mở cửa nhà, trông qua nhà bên cạnh để tha thiết đến tiếng khóc, tiếng cười của kẻ khác, kể từ bạn láng giềng, đồng nghiệp, đồng học vẫn hằng ngày chung đụng, cho đến nét mặt trầm tư chỉ thoáng gặp một lần đâu đó trên đường…” (Nguyễn Ngọc Lan, Chủ Nhật Hồng Giữa Mùa Tím, tr. 21-22)
Vâng. Nói đến Giáng Sinh, là nói đến gia phả. Nhắc đến gia phả, ta không chỉ nhớ đến dòng họ tổ tiên hoặc khoa trương dòng dõi quý phái, vua quan của mình thôi. Nhưng, còn là nói và nhớ đến những người “chỉ thoáng gặp một lần đâu đó, trên đường”, hoặc trên trang sách báo, màn hình nhỏ như truyện kể về một Đa-vít khác như sau:
Giáng Sinh, không chỉ là Lễ hội của hôm nay. Năm này mà thôi. Nhưng, là Lễ hội diễn ra vào mọi ngày trong đời mình. Và đời người. Ở nơi đó, ta bắt gặp những“Tôi chạy vội ra cửa hàng, định mua vét vài món quà Giáng Sinh cho con, cho cháu. Nhìn quanh, xem người người tấp nập đổ xô, mua mua bán bán. Và, trong một thoáng rất nhanh, tôi tự trách mình sao không nhanh chân lẹ tay để giờ này cứ phải đứng đây chờ với đợi, sốt ruột quá. Cuối cùng, tôi đến khu bán đồ chơi và lẩm bẩm một mình không biết bọn trẻ ở nhà có ưa các món tôi mua cho chúng không. Bất chợt, mắt tôi quay về phía chú bé kia đang ôm chặt con búp bê. Ra chiều ưng ý lắm. Một tay cầm búp bê, tay kia chú mân mê vuốt nhẹ lên tóc của búp bê. Về sau, tôi thấy chú bé quay người hỏi: “Dì ơi, Dì có chắc là mình không còn tiền để mua búp bê nữa không?” Người đàn bà khẽ trả lời: “David à, Emily không còn chơi búp bê nữa đâu”. Tôi thấy người phụ nữ lảng qua phía khác, lựa đồ. Cậu bé cứ lẽo đẽo đi theo. Tay ghì chặt lấy búp bê chưa trả tiền. Thấy David đứng thờ thẫn, tôi mon men đến gần và hỏi xem: hai dì cháu định mua búp bê cho ai vậy. Cậu bé trả lời: “Mỗi lần có Noel, là chị của cháu đều thích mua búp bê”. Tôi bảo: “Cứ từ từ cháu ạ, rồi thì ông già Noel cũng đem búp bê đến cho chị của cháu thôi”. Chú bé nói: “Không có đâu, ông già Noel không sao đến chỗ của chị cháu được đâu. Cháu phải đem búp bê cho mẹ, để mẹ đi đến chỗ đó, mà đưa cho Emily. Chỉ có cách ấy thôi.” Tôi hỏi: “Thế chị cháu ở mãi đâu, mà ông Noel không đến được, xa lắm sao?” David rơm rớm nước mắt: “Chị cháu đã về chỗ Chúa Giê-su ở rồi, bác ạ. Ba nói: Mẹ cũng sắp đến chỗ Emily và Chúa Giê-su hôm này thôi!” Nghe xong, tim tôi chừng như ngừng đập. Và, David tiếp: “Cháu có nói với ba là làm sao thì làm, để mẹ đừng có đi vội, phải chờ sao cho cháu mua được búp bê cho Emily cái đã. Cháu vẫn muốn mẹ mang búp bê tới cho Emily, của cháu cơ.” Thấy cậu bé không để ý nhìn, tôi vội đưa tay vào ví, lấy ít tiền và bảo: “David, cháu có biết đếm không?” Mắt bé sáng rực vui mừng hứng khởi. Và nói: ”Đấy, cháu biết mà thế nào Chúa Giê-su cũng cho cháu tiền để mua búp bê cho Emily mà, chắc chắn là như thế.” Tôi dúi tiền vào tay bé rồi cả hai cùng đếm. Đếm xong, David nói: “Đúng là Chúa Giê-su sẽ cho cháu đủ tiền để mua búp bê mà.” Vài phút sau, Dì của David quay lại. Thấy vậy, tôi vội đẩy chiếc xe chở đồ đi nơi khác, tránh thắc mắc của hai người. Trong bụng, tôi không khỏi suy nghĩ về bé David; và, thấy rằng hôm nay mình đã thực hiện chuyến mua sắm trong tình huống khác hẳn lúc ban đầu. Về nhà, đọc lại câu chuyện đăng trên báo vào mấy hôm trước có nói về trường hợp: một người uống rượu phóng xe đụng phải xe khác làm chết một em bé gái. Mẹ của em đang thoi thóp trên giường bệnh phải dùng ống dưỡng khí, trợ thở. Cách đây hai ngày, tôi đọc thấy gia đình của người đàn bà xấu số trong cơn hôn mê ấy, đã quyết định rút máy trợ thở, tuyệt vọng. Và, trước Lễ Chúa Giáng Sinh, báo đài còn đề cập đến tang lễ của Julia Norris cùng con gái của bà, là Emily, được cử hành vào ngày Lễ Thánh Stê-pha-nô, tử đạo. Tên người đàn ông là chồng, và cha là Michael và tên người em nhỏ, em trai của Emily, là David. Vào buổi Lễ đêm, gia đình tôi tụ tập nơi bàn tiệc nhiều thức ăn quá mức mà chúng tôi không thể ăn hết. Tay cầm món quà đắt tiền mà chưa chắc mọi người đã lấy làm thích thú. Còn bia và rượu thì uống say quá mức. Suy nghĩ kỹ, tôi thấy “tôi và gia đình mình đã để mất đi ý nghĩa của ngày Lễ Chúa Giáng Sinh, làm người phàm”. Sự kiện Chúa-ở-cùng-chúng-ta xảy đến thật đơn giản. Chỉ như một hài nhi bình thường đang cần tình thương yêu đùm bọc của mọi người. Thế mà, chỉ vì đây là ngày Lễ, ta lại phung phí bạc tiền quá sức. Ăn uống, thì vượt quá mức độ cần thiết. Đã thế, lại còn say sưa chè chén, đến lố bịch. Tôi buồn rầu rời bàn tiệc về phòng, viết vội tấm thiệp gửi đến các thành viên trong gia đình nhỏ của tôi. Tôi viết về điều mà trước đây chẳng khi nào tôi có thể nói bằng lời là: “Tôi muốn cho gia đình biết là: tôi luôn thương yêu hết mọi người.” Đọc tấm thiệp tôi viết, chắc mọi người sẽ nghĩ rằng tôi bị chứng mát thần kinh chăng. Dầu sao đi nữa, hình ảnh bé David, búp bê kia và cả Chúa Hài Đồng đã ghé thăm hồn tôi vào tuần Lễ mới, của Mùa Lễ. Và với tôi, Giáng Sinh mai ngày, sẽ chẳng bao giờ giống như Giáng Sinh năm ấy”.
Lẽ đáng ra, nên kể chuyện nào hấp dẫn hơn, cho bầy trẻ các nơi thưởng lãm, mới đúng. Nhưng, câu truyện và những cảm nghiệm về một Giáng Sinh ở trên cũng là điều bổ ích, nếu bạn và tôi, ta tản mạn qua câu truyện nào mà ít người đề cập tới. Truyện người già, những người vẫn muốn cho con cháu mình nhớ đến gốc gác tổ tiên. Nhớ going họ của mình, chẳng hạn.
Giáng sinh, không chỉ là lễ hôi của hôm nay. Năm nay mà thôi. Nhưng, là lễ hội diễn ra vào mọi ngày trong đời mình. Và đời người. Ở nơi đó, ta bắt gặp những khuôn mặt, những gia phả của các dòng họ, thân quen. Hoặc, chưa một lần quen biết. Vào Lễ Giáng Sinh, ta gặp một chân lý. Chân lý ấy, như sau: tất cả chúng ta đều có chung một dòng họ. Cùng gia phả dòng tộc. Cùng xuất tự dòng dõi của vua Đa-vít. Gia phả của vua Đa-vít, là chính gia phả Đức Ki-tô. Và, thêm một điều nữa: một khi là tín hữu Đức Ki-tô, ta đã là Ki-tô-khác rồi. Vậy, hãy cứ vui lên, vì nay ta đã biết được gia phả rất cao sang của mình. Quyết giữ lấy danh hiệu “Ki-tô-khác” cho trùng hợp ăn khớp với đường lối của Đức Ki-tô, con cháu vua Đa-vít. Tức: Ông tằng ông tổ của tất cả chúng ta. Quyết sống cho sáng danh dòng dõi, gia phả Đức Ki-tô, rất đặc biệt. Một gia đình rất thân yêu. Đầm ấm. Trần Ngọc Mười Hai, vẫn luôn tự nhắc mình nhớ về một gia phả: Gia phả Ngài
“Em đứng lên gọi mưa vào hạ…” (Yn 1:14)
Trong quá trình kể lại những chuyện phiếm Đạo-Đời – tức là: Đạo vào Đời – Đạo sống trong Đời – có bạn đã có ý kiến phản hồi, bảo rằng: tại sao khi phiếm, tác giả cứ nhắc đi nhắc lại cái câu: “Ấy là kể chuyện”, nghe khó hiểu và nhàm tai quá… Cảm tạ ơn Chúa. Còn gì thú vị bằng vừa gửi thư đi, đã có thư về. Vâng. Trong cuộc sống Đạo-Đời, mỗi khi viết lách – tức: vừa viết vừa lách – bần đạo từng thấy có những điều mình viết hoặc nói ra, không mấy thuyết phục người đọc hoặc người nghe, bèn bắt chước nhạc mẫu thân sinh, bảo ngay rằng: “Ấy là kể chuyện”. Ý muốn nói, đó chỉ là chuyện kể. Rất tầm phào. Bạn bè nghe qua, nếu đồng ý, xin rất cảm ơn. Bạn khác nghe rồi, nếu chẳng thấy có điều gì lay chuyển được lòng mình, thì cũng cảm ơn bạn đã nghe và đã đọc. Còn chuyện, có hiểu hay không hoặc có đồng ý hay không, bần đạo xin thêm nguyện cầu để được soi sáng, sẽ viết rõ hơn. Bây giờ, bần đạo mạo muội lại một lần nữa, vẫn xin: “Ấy là kể chuyện”. Chuyện kể hôm nay, cũng thuộc lọai nửa Đạo, nửa đời. Trước nhất là chuyện Đạo. Hôm ấy, bần đạo được mời đến nhà một đạo hữu nọ làm một việc mà bà con ta thường gọi là “Đọc Kinh Tôn Vương”. Nhưng hôm ấy, thay vì bà con lần chuỗi đọc những 50 kinh Kính Mừng, suy niệm về các mầu nhiệm trong Đạo, như: Năm Sự Vui, Thương, Mừng và Sáng, thì gia chủ lại đề nghị một hình thức giống như ta thường gọi “Bẻ Bánh Lời Chúa”, hay “Canh Thức Thánh Kinh”. Nghĩa là: chỉ đọc 1 kinh Lạy Cha, 3 kinh Kính Mừng và 1 kinh Sáng Danh, để xin Chúa Thánh Thần soi sáng buổi nguyện cầu tại gia, rất ấm áp mùa Hạ. Sau đó, có người đề nghị thành viên gia đình đọc một đoạn Sách Thánh, rồi mọi người phát biểu cảm nghiệm hoặc kể chuyện gì đó về Đạo. Hoặc về đời. Vì dịp đó là mùa Giáng Sinh, vào mùa nắng hạ ở Úc, nên gia chủ cho đọc đoạn Tin Mừng theo Thánh Gio-an, như sau:
“Lời đã thành xác phàm, và đã lưu trú nơi chúng tôi, và chúng tôi đã được ngắm vinh quang của Ngài vinh quang như Con Một tự nơi Cha, tràn đầy ân nghĩa và sự thật.” (Ga 1, 14)
Bữa đó, không có ai là thầy sáu vĩnh viễn, cũng chẳng có vị nào xuất thân là đấng “ta ru” hay tu ra tu vào gì cả, nên chờ mãi mới thấy người nhà của gia chủ phát biểu, như sau:
“Kính thưa quý cụ, quý anh chị, Chả nói giấu gì, con đây học hành chữ nghĩa chẳng bao lăm. Lòng đạo cũng chẳng được mấy tí, nên chẳng dám nói gì, chỉ xin kể lại câu chuyện nghe được từ người bạn về Noel như sau:
Đã lâu lắm, dịp Giáng Sinh năm ấy, Ông Già Noel lại chuẩn bị khăn gói lên đường. Lần này, ông gặp đủ mọi thứ trục trặc trên đời, lúc nào cũng gặp toàn là sự cố kỹ thuật. Các nàng tiên nhỏ thường hay giúp ông, năm nay phát quà chậm quá, nên các cháu thiếu nhi mãi đến hôm nay vẫn chưa có quà, kêu réo rất là inh ỏi. Lại thêm bà xã của Ông còn nhắn nhủ rằng thì là đêm nay “mẫu hậu” thân sinh sẽ ghé lại ngủ đêm để vui chung ngày lễ hội với hai vợ chồng. Tin này càng làm ông lo lắng, dữ hơn.
Ông ra xe, định bụng thắng chiếc yên cho 4 cô nai vàng yêu quí chuẩn bị cuộc xuống núi lao động, bèn phát giác ra rằng 3 trong 4 cô nàng kéo xe, đang chuyển bụng sắp đập bầu. Đã vội, lại càng thêm căng thẳng, Ông chỉ còn mỗi nước độc nhất, là cột cô nàng còn lại vào càng xe rồi trao cho cô ta trọng trách bao dàn, thay thế cho mấy cô đang vỡ bầu, thôi. Vừa bước lên chiếc thổ mộ, thì càng xe gãy rục, quà cáp vãi tung tóe, khắp nơi. Nhằm vợi bớt cơn giận lành của mình, Ông Già Noel trở vào nhà bếp, định bụng làm một hớp cà-phê nóng, sau đó tính là thêm ba sợi Brandy sương sương cho lắng cơn giận đằng đằng, đang trào dâng bên trong… thì Ông lại té ngửa, phát giác thêm rằng: các nàng tiên bé nhỏ của ông cứ sợ ông gặp nạn trên đường nếu để cái thói “ngựa quen đường cũ” lè nhè một ngụm như trước thì Ông cũng chẳng làm ăn được gì cho tích sự, nên đã đập bể các chai whisky lớn nhỏ của Ông. Không chừa đến một giọt để ông thấm chút môi mềm, đêm nát rượu.
Trong lúc thất thần, ông Noel tuột tay đánh vỡ bình đựng cà phê quý giá, thế là từng giọt rồi lại từng giọt đen đen óng ánh rơi vãi trên sàn bếp nhỏ. Ông chầm chậm bước lên nhà trên, định bụng tìm cây chổi cùn quét nhẹ vài quét, kịp đón bà má vợ rất khó tính về những chuyện bếp núc soong nồi... Sờ đến chổi, mới hay đám chuột bọ ở đâu đến quấy phá, cắn nát mấy cọng chổi mà Ông bỏ công ra kết cột bằng các ống hút ny-lông xinh xinh ấy.
Vừa vặn có tiếng chuông bấm ngoài cửa, Ông Già Noel lụ khụ bước ra xem ai mà lại đến chơi vào giờ cao điểm như thế. Vừa mở cửa, Ông thấy thiên thần nhỏ đang khệ nệ bưng cây Giáng Sinh xanh mướt đem đến tặng ông làm quà. Thiên thần nhỏ cướp lời không cho ông phân trần: “Mừng Giáng Sinh Ông Già ! Hôm nay trời đẹp quá phải không ông ? Cháu có cây thông nhỏ đem đến tặng Ông làm quà Giáng Sinh đây. Ông muốn để ở đâu nào ? Cây này dễ thương lắm đó !”
Nhìn cây Giáng Sinh, Ông Già Noel ra như quên hết các nỗi bực dọc, sự cố xảy đến từ sáng đến giờ, bèn đưa tay giúp vị thiên thần nhỏ bưng cây xanh tươi đẹp vào nhà và nhắm coi tính đặt vào chỗ nào cho thích hợp bây giờ ?…
Vì thế, mỗi lần Giáng Sinh về, ta thấy nhà nào cũng có cây No-en. Trên mỗi cây, ta đều thấy có thiên thần nhỏ lủng lẳng trên ngọn chờ đợi Ông Già Tuyết, làm việc thay cho Chúa chỉ chỗ mọi người trưng bày hang đá, hoặc bàn thờ. Chuyện chỉ có thế, xin hết. Và xin quý vị góp ý.
Nghe chuyện, chẳng thấy có ai phát biểu điều gì dù là khuôn mặt ai cũng tỏ ra thích thú. Nháy bảo nhau mãi, lúc sau mới thấy một người trẻ trong gia đình, giơ tay nói:
“Em xin nói: theo em, tất cả các chuyện Giáng Sinh, từ ngày giờ, cho chí đêm khuya tịch mịch và cả đến các nhân vật trong truyện như: Ông Già Tuyết, thiên thần, hoặc các chú nai gạc..đều là hình ảnh nói lên một sự thật về việc Chúa đã hạ mình xuống thế làm người. Ngày xưa, các cụ nhà ta có thói quen đọc Sách Thánh, rồi cắt nghĩa cho con cháu hết điển tích này đến câu chuyện nọ, tìm cách làm cho mọi người dễ hiểu ý nghĩa của buổi lễ. Ngày nay, thời đại của truyền hình và vi tính, hiểu như thế cũng không sai Sự Thật về việc Chúa xuống thế làm người, hết.”
Để bổ túc, có một chị giơ tay xin được nói:
“Theo tôi thấy, khi ta lần chuỗi Mân Côi và suy ngắm các Mầu Nhiệm mà ta gọi là Năm sự Vui và nhất là khi ta đọc các kinh Kính Mừng, chúng ta đều suy niệm Mầu nhiệm Giáng Sinh. Nhất là ở chục kinh thứ nhất ta ngắm: Thiên thần truyền tin cho Đức Bà chịu thai, ta hãy xin cho được lòng khiêm nhường. Rồi chục thứ hai: Đức mẹ đi viếng bà Ê-li-sa-bét, cứ thế cho đến hết chục thứ năm, chục nào cũng có lời ngắm, hết đó. Tóm lại, khi đọc kinh là ta suy gẫm Sách Thánh và như thế là ta đã cầu nguyện, rồi.
Một anh khác, bằng một giọng chắc nịch, xin phát biểu: “Đồng ý với anh và chị gì vừa nói. Tôi không hiểu, sao có nhiều người bị thường hay bị cái mà tôi gọi là “dị ứng” với chuyện đọc kinh, lần chuỗi, quá sức. Đọc kinh, đâu phải là chuyện chúng ta lải nhải, van xin gì đâu. Mà, đó là lúc mình vừa đọc vừa nhớ lại khung cảnh diễn biến vào thời của Chúa, đấy chứ.”
Bầu khí trao đổi đã bắt đầu sôi động hơn, một chị khác giơ tay xin tiếp lời: “Tôi đồng ý với các anh chị, đọc kinh hay suy gẫm, dù bằng cách nào đi nữa, cũng vẫn là cầu nguyện. Mà, nói đến cầu nguyện, thì mình nên chọn cách thức nào thích hợp với mình hơn cả, là hay nhất.”
Không khí trong buổi đọc kinh Tôn Vương tối hôm ấy càng sinh động hơn, khi có một anh tuy thâm trầm ít nói, nhưng dường như muốn bày tỏ điều gì. Anh giơ tay phát biểu:
“Xin thưa với bà con, thật tình tôi ít có tham dự các buổi đọc kinh tối ở nhà mình hay nhà bạn bè như hôm nay lắm. Vì riêng tôi, tôi thích đọc sách tu đức, hoặc các sách Đạo, rồi suy nghĩ tìm hiểu; hoặc có gì thắc mắc, mình đi hỏi những người nào hiểu biết hơn. Ví dụ như, về mầu nhiệm Giáng Sinh, tôi có đọc một đoạn trong sách nọ, thấy hay bèn chép lại, và bỏ túi lâu lâu nghiền ngẫm. Đoạn sách ấy có nói về Giáng Sinh như thế này:
Đối với khách bàng quan xưa kia cũng như ngày hôm nay, “Giáng Sinh” chẳng qua chỉ là một biến cố lịch sử, một chuyện thời sự không hơn không kém…” Đối với chúng ta, những tín hữu Đức Ki-tô, Giáng Sinh có ý nghĩa gì ? Giáng Sinh đối với ta, ngoài tính cách của biến cố lịch sử, còn là một bước sống. Vì Thiên Chúa đã thực hiện lời hứa muôn đời liên hệ đến chính kiếp sống chúng ta. Chúng ta tin Chúa đến với nhân lọai, đã biến đổi nếp sống chúng ta… (đoạn này trích từ sách của cựu Linh Mục Nguyễn Ngọc Lan, cuốn: Chủ Nhật Hồng Giữa Mùa Tím, tr. 20) Về Giáng Sinh, tác giả viết dài lắm. Tôi không thể đọc hết ở đây, chỉ xin tóm lại điều này: là người Công Giáo chúng mình tin là như thế. Nhưng, cuộc sống của mình đã có biến đổi gì chưa, đó mới là vấn đề.”
Như mọi lần, mỗi khi ai phát biểu xong, gia chủ chỉ mời mọi người gợi ý, chứ tuyệt nhiên không cho trả lời hoặc tranh luận gì hết. Thành thử, cứ nhắc nhở xem có anh hay chị nào có ý kiến gì không, thế thôi. Lại một khoảng thời gian im lặng, để trống. Cuối cùng, có chị cất lời:
“Thú thật với quý vị, đây là một trong những lần tôi tham dự buổi đọc kinh tôn vương hơi khác thường, một chút. Nhưng phải nói là, lâu lâu ta cũng nên thay đổi bầu khí và cách thức cầu nguyện một chút. Nói như thế, tôi xin phép phát biểu là: mỗi người chúng ta nên suy nghĩ thêm về câu hỏi: Mầu nhiệm Giáng Sinh đã đặc biệt đánh động mình như thế nào ? Ai có câu trả lời, xin chia sẻ với cộng đoàn. Còn không, mình cứ để ngỏ câu này, vào một dịp nào đó, ta sẽ trao đổi tiếp với nhau sau.”
Lại một chị khác thêm ý kiến:
“Tôi thấy, tham dự những buổi như thế này, thường anh em mình ít có ai học rộng, hiểu sâu lời Chúa, cho bằng các cha, hoặc các cựu Tu Sĩ, Thầy Sáu. Anh chị nào quen biết mấy ông như thế, lần sau xin mời các vị ấy đến tham dự để mình chia sẻ cho mọi người hiểu rõ hơn ý nghĩa của việc đọc kinh.”
Thấy không có ai phát biểu gì thêm, gia chủ đề nghị mọi người giở sách ra, ta hát bài “Kinh Hòa Bình” của thánh Phanxicô, do cha Kim Long sáng tác. Để, xin hòa bình đến với muôn người. Người giàu cũng như kẻ nghèo. Nam cũng như nữ. Không phân biệt tuổi tác, quá trình thuộc loại cấp tiến hay bảo thủ, thủ cựu. Tất cả, ai ai cũng cần hòa bình. Nhất là vào những ngày mọi người mừng kính mầu nhiệm Chúa Xuống Thế làm người, với chúng ta. Và mọi giọng hát được cất lên, rất ồ ồ. Rất lanh lảnh, như sau: Lạy Chúa từ nhân, Xin cho con biết mến yêu và phụng sự Chúa Nơi mọi người. Lạy Chúa, xin hãy dùng con Như khí cụ bình an của Chúa, Để con đem yêu thương vào nơi oán thù Đem thứ tha vào nơi lăng nhục, Đem an hoà vào nơi tranh chấp Đem chân lý vào chốn lỗi lầm…
Bần đệ ra về, trong mưa. Đi trong mưa, mà lòng mừng thầm vì đã tìm thấy bình an trong tâm hồn. Dù bình an ấy, rất nhỏ. Rất tóm gọn. Và, bần đệ chợt như thấy mình đang thầm hát trong bụng bài ca nghe được hôm nào, từ giọng hát của Khánh Ly: “Em đứng lên gọi mưa vào Hạ…”
Bất chợt hát lên vì mọi nơi đã thấy mưa. Mưa vào Hạ, rất nóng ấm. Hát xong, bần đệ những mong rằng: vào mùa Giáng Sinh rất thánh, người người sẽ cùng hát như bần đệ. Vì đã đến rồi, mưa Hồng Ân trên cao. Mưa An Bình, từ Đức Chúa. Rất Giáng Hạ. Mùa Hạ.
Trần Ngọc Mười Hai vẫn cứ hát và cứ xin. Xin cho những cơn mưa, rất vào Hạ
“Nhẹ nhàng như gió thì thầm” (Lc 2, 52)
“Còn Mẹ Ngài thì giữ kỹ hết các điều trong lòng” Có một lần, một người anh rất chững chạc trong Đạo, “nhẹ nhàng như gió thì thầm” đến gần bần đệ, vỗ nhẹ lên vai bảo nhỏ: “Này bạn, đã gọi là chuyện phiếm thì thường là những chuyện tầm phào, ở đời, sao lại đem Lời Chúa vào những chuyện như thế ?” Lúc ấy, bần đệ chẳng biết nói gì. Chỉ há hốc miệng, những muốn moi óc tìm cho ra đoạn trích dẫn Kinh Sách rất Thánh có nói về “Lời” đã khiêm hạ tìm chốn tầm thường mà nương náu, giáng hạ. Mãi về sau, bần đệ mới nhớ ra lời Kinh ấy; bèn lập đi lập lại cho dễ nhớ. Từ đó, cứ nhớ mãi câu này:
“Và, Lời đã thành xác phàm lưu trú nơi chúng tôi, và chúng tôi đã được ngắm vinh quang của Ngài, vinh quang như của Con một tự nơi Cha, tràn đầy ơn nghĩa và sự thật.” (Ga:1,14)
Vâng “Lời” của Đức Chúa là “Lời” Cao sang thần Thánh, nay thành xác phàm ở với phàm nhân tục tử rất tội lỗi. Tệ bạc. Thế nhưng, “Lời” đã hòa mình đi vào đời. Một đời có nhiều chuyện để kể. Kể cả những truyện rất phiếm. Những chuyện để phiếm. “Phiếm Đạo vào đời”. Hay còn gọi là “chuyện phiếm Đạo-đời”. Chẳng thế mà, người phàm vẫn mãi không hiểu tại sao “Lời” lại mặc xác phàm. Tại sao Đạo lại phải vào đời ? Tại sao Đạo “nên” vào đời ? Thôi thì, ta cứ phiếm hoài phiếm mãi, ắt rồi sẽ hiểu. Hiểu rồi sẽ nhớ. Sự việc trên, làm bần đệ nhớ lại câu chuyện về cũng một chuyện Giáng hạ, mà người kia vẫn thấy khó hiểu. Không thể hiểu. Truyện ấy thế này: Đêm ấy, một đêm đầy trăng sao. Tiết đông lành lạnh, có một người đến từ hành tinh lạ, buồn tình làm thử chuyến du hành xuyên vũ trụ. Bay ngang hành tinh nhỏ có tên Địa Cầu, người hành tinh thấy như có điều kỳ lạ: đâu đâu cũng thấy lấp lánh đầy khắp những vì sao bằng giấy. Rất nhiều mầu. Đã thế, cạnh các vì sao nhỏ lung linh mầu sắc ấy, là các biển hiệu mang thông điệp vui tươi, những nào “Merry Christmas”, “Happy New Year”.
Sẵn tính xục xạo, muốn tìm hiểu, người hành tinh nọ vội đáp nhẹ xuống vùng phía Nam của lục địa thứ sáu mang tên là “Vùng Miệt Dưới”. Vừa ghé chân, gã nảy ra ý định “ngộ nghĩnh” mở một phóng sự bỏ túi, xem dân chúng ở hành tinh địa cầu này có trò gì mà vui nhộn thế. Chợt thấy một bé xinh xinh đang ngồi mân mê món đồ chơi bằng nhựa, xem ra có vẻ thích thú lắm. Người hành tinh bỗng tạt vào hỏi bé em về ý nghĩa các từ ngữ vừa gặp. Tại sao lại hết Merry rồi lại Happy… như thế ?
Em bé thấy có người đến chơi với mình, thích quá trả lời ngay: “Sắp tới đây, nhà em mừng lễ to lắm ! Thể nào cũng có hang đá. Có cây thông nè. Có Ông già tuyết nè. Ông già này râu tóc bạc phơ, suốt ngày chỉ mặc áo đỏ viền trắng…lúc nào trên vai cũng nặng trĩu những quà là quà. Năm nào, bé cũng được Ông cho nhiều thứ, có cả kẹo Sô-cô-la nữa. Chuyến này, bé sẽ ăn thật nhiều kẹo. Chẳng còn sợ ai la mắng. Vì Ông Già Tuyết còn lớn hơn cả bố mẹ nữa, mà.” Người hành tinh tiếp tục hành trình, đến hỏi một người lớn con hơn, chừng như đang bận rộn với công việc kiếm cơm, chạy gạo hằng ngày. Thì vị ấy đáp: “Giáng sinh ấy à ? Ối giời ! Lễ này lớn lắm đó. Cả người bên Đạo lẫn ngoài đời cũng đều ăn mừng hết đó. Lễ lớn như thế, nên già trẻ lớn bé ai cũng được nghỉ. Nên ai cũng thích. Trẻ thì được quà. Lớn được nghỉ ngơi. Nghỉ học. nghỉ làm. Chẳng ai phạt. Chẳng người nào bị đánh thuế vì mình nghỉ. Thôi thì, cũng phải có những ngày như thế để bà con có thì giờ mà chưng diện, sắm sửa chứ. Này ! Vào ngày lễ ấy, đàn ông tha hồ ăn nhậu, nhảy nhót. Đàn bà thì đua nhau mà tiêu pha, may sắm…”
Hỏi một cụ bà đang trên đường từ Nhà Thờ về, thì cụ cho biết: “Ấy chết ! Ngày lễ cực trọng như thế, mà đằng ấy lại không biết gì à ? Bộ ở trên cung trăng mới xuống hay sao mà “ngố” thế ? Thôi, để lão bà nói cho mà nghe: Cứ vào chập tối đêm hăm tư tháng chạp là ta bắt đầu có lễ đêm rồi. Lần nào trước khi bắt đầu lễ, cũng có cha ngồi toà cáo giải. Cũng có đọc kinh… đến giờ lễ lại có người đàn kẻ thì hát. Thôi thì, vui nhộn không có chỗ nào kể xiết. Vui lắm ! À mà này, bác thử đi hỏi ông cha xem lão nói có đúng không. Đây già rồi, nói bác bỏ lỗi, đôi khi lão thấy mình chả ra làm sao cả”.
Xem ra vẫn chưa mãn nguyện với các câu trả lời ở trên. Nhưng, người hành tinh cũng chẳng dám đến gặp ông cha ông cố, nào cả. Tội gì mà đến, không chừng mấy ỗng lại lôi đầu vào bắt làm việc đền tội, thì lôi thôi lắm. Vậy là, gã ta giã từ bà lão, rón rén đến gần lớp học cạnh đó. Ghé mắt nhìn xem, thì thấy lố nhố đến chục bọn nhóc loai choai tuổi dậy thì, đang làm gì có vẻ suy tư lắm. Thì ra, đứa nào đứa nấy cứ lúi húi viết viết, rồi lại xoá xoá, như đang sáng tác một tổ khúc trữ tình nào đó vậy. Phóng cặp mắt thiên thần để nhìn, gã hành tinh thấy một cô bé hí hoáy thả hồn mình trên giấy, những dòng chảy như sau:
“Christmas, Giáng Sinh, Nhập Thể… Thì, cũng như câu chuyện trang lứa của chúng em. Trọn đời, em hướng lòng mình tất cả cho “người ấy”. Chúng em thật lòng chỉ muốn ở cạnh nhau suốt ngày. Suốt đêm. Không khi nào rời. Em vẫn nhớ cái ngày Thứ Bẩy đầu tiên ấy, hôm đi chơi với chàng. Tụi em nói chuyện với nhau hằng giờ , mà sao không thấy mệt mỏi. Nếu ngồi đếm, tổng cộng có đến mười bốn tiếng đồng hồ. Nghĩa là từ mười giờ sáng hôm ấy mãi đến lúc chàng sửa soạn ra về, thì trời cũng bắt đầu choạng vạng. Ôi ! Thời gian trôi rất nhanh. Thật ra, thì bọn em vẫn chưa lấy làm đủ. Cũng mới chỉ: điểm tâm, ăn trưa nhè nhẹ, đi bộ qua bìa rừng; rồi ăn tối, thả bộ dọc bãi biển. Mườ bốn tiếng mà tưởng chừng như mới có hai giờ phù du, ngắn ngủi. Khi bạn chớm yêu, thời gian như ngừng trôi. Chẳng thế mà, có người cứ hỏi tại sao Thiên đường lại vĩnh cửu. Thiên đường là đây. Khởi điểm của cuộc tình … kéo dài.”
Ấy kìa, ngay gần bên là một chàng trai khác, tuổi tác tuy không lớn hơn là bao. Mà sao, ý tứ, chữ nghĩa lại như ông cụ đạo. Lén nhìn thoáng chốc bài “thâu hoạch” của chàng, người hành tinh đọc thấy có điều gì hơi khó hiểu. Anh chàng viết: “Giáng Sinh. Phục Sinh. Hai đại lễ, cùng một chữ Sinh. Hai sự kiện, nhưng thật ra chỉ là một. Một ý nghĩa “Sinh”. Sinh, là sống. Dù cho, có xuống thế mà sống. Hay, chết đi để rồi lại sống. Vẫn, sống dai. Sống mạnh mẽ hơn trước. Và, khi đã sống lại rồi, thì Người mới vực được cuộc sống của người khác. Vực dậy những người sống không ra sống. Sống mà như đang chết. Tức là, sống dở. Và chết dở. “Giáng sinh, có ý nghĩa gì với tôi không, ư ? Có chứ ! Với tôi, Giáng Sinh, mà không có Phục Sinh, thì tuy cả hai mang cùng chữ “Sinh” -tức là sống- vẫn cứ là một thất bại. Bởi, Giáng Sinh chỉ là khởi đầu của một cuộc Sống. Phục Sinh kia, mới hoàn tất cuộc Sống ấy. Hoàn tất cái gì? Điều gì? Hoàn tất là hoàn thành và hoàn thiện Ý định Trên Cao được báo trước, từ lâu. Ý định Cứu Rỗi. Ngang qua Phục Sinh. Đúng thế. Ý Định đã có từ lâu. Từ lúc Sa-un nhường ngôi cho Đa-vít. Bởi lẽ, Ý Định Cứu Rỗi chỉ dành để cho dòng tộc Đa-vít, một dòng giống “được chọn” mà thôi. Đọc tới đó, người hành tinh bất chợt rùng mình. Thấy lạnh ở phía sau gáy. Bèn, lẳng lặng rút về nơi thinh vắng. Suy nghĩ một hồi, gã bèn nhủ thầm: Quái ! Một Hành tinh nhỏ như trái đất này, mà lại có đứa bé có tư tưởng chẳng bé xíu chút nào cả ! Tại sao Giáng Sinh lại chỉ có nghĩa là Khởi đầu cho một cuộc Sống ? Tại sao ngôi sao Xẹt kia lại chỉ xẹt cho tinh cầu nhỏ bé thế này, thôi ? Tại sao lại là Đa-vít ? Tại sao chỉ là Ít-ra-en, dân tộc quá nhỏ ? Tại sao lại là Địa cầu ? Tại sao một hành tinh nhỏ như thế này,mà lại có đủ cả ? Có Giáng Sinh. Rồi lại có cả Phục Sinh ? Thôi chết rồi ! Bọn nó có lý. Bởi, đã có “Lời” bảo rằng: “Hãy trở nên bé nhỏ; vì Nước Trời là của chúng.” Và, người hành tinh cứ vừa đi vừa lẩm bẩm, những chữ: Tình Yêu. Nhập Thể. Giáng Sinh. Phục Sinh. Nhỏ bé. Được chọn… Nhập thể là Giáng Sinh. Giáng Sinh phải nối kết với Phục Sinh. Giáng Sinh – Phục Sinh, hai sự thể, nhưng một Nhiệm Tích. Một Ý Định. Ý Định Cứu Rỗi. Ý Định mang cùng một chữ SINH”. Nghe kể, dù chỉ là chuyện kể về một hành tinh, bần đệ thấy có điều gì đó, rất phiếm. Phiếm là phiếm Đạo vào đời. Cũng là Đạo trong đời. Một đời có đạo. Và, có phiếm. Phiếm nhẹ nhàng, như lời thơ trong nhạc bản “Gọi Người Yêu Dấu”: Người yêu dấu ơi, sao lòng se sắt đầy vơi ? Người yêu dấu ơi, thu về tìm vẫn đơn côi. Người yêu dấu ơi, khi ngàn sao đêm lấp lánh. Tâm hồn bâng khuâng, nhớ ngày vui đã qua nhanh. (Vũ Đức Nghiêm) Ngày vui qua rất nhanh. Nhưng vẫn nhớ. Nhớ rằng, Ngài đã Giáng hạ. Và, đã Phục Sinh. Giáng Sinh và Phục Sinh để con dân khắp chốn, được vui và được nhớ. Vui, vào ngày Ngài Giáng Hạ. Nhớ, điều Ngài trăn trối, hãy cứ vui. Và, cứ phiếm. Phiếm cho mình. Phiếm cho đời. Phiếm rất vui. Trần Ngọc Mười Hai Nhiều lúc cứ nghĩ, mình chỉ có thể phiếm, những phiếm và phiếm đã thấy vui
Đã là Sự thật sao vẫn còn nghi (Yn 1: 37-38)
Chỉ mới đây thôi, ngày 11 tháng chín xảy ra chớp nhoáng như trong giấc điệp. Tháng chín “đen”, cũng rất “bạc”. Một tháng chín có những sự thật rất buồn. Sự thật rành rành là thế. Nhưng vẫn có người ngờ vực. Ngờ vực nhiều nhất là từ nhà làm phim tài liệu người Mỹ, tên Michael Moore. Michael Moore, đại diện cho những người bán tín bán nghi về những sự thật đành rành về sự kiện thảm khốc, chết người ở Nữu Uớc.
Nghi và ngờ, là chuyện dài thế kỷ. Nó không chỉ xảy đến vào ngày ấy, năm nọ. Mà là chuyện của mọi nơi, mọi thời. Xảy đến với hết mọi người. Xảy đến cả hai ngàn năm về trước. Lúc, mọi người cầm chắc như đinh về chuyện xảy ra. Như đã báo trước. Thế nhưng, vẫn có người vẫn dõng dạc, những nghi và ngờ: “Nếu nơi tay Ngài, tôi không thấy các dấu đinh, và tra tay vào lỗ đinh, cùng tra bàn tay tôi vào cạnh sườn Ngài, tôi sẽ không tin.” (Yn 20: 25)
Nghi và ngờ là đặc tính không của riêng ai. Chẳng phải, chỉ mình thánh Tô-ma mới độc quyền sở hữu. Chừng như, nhiều đấng bậc nhà Đạo cũng từng mắc phải. Chép lại tên tuổi các nhân vật trong Sách thánh, ta thấy ít nhất cũng có hai nhân vật rất thánh, vẫn nổi bật. Trước hết, là ông Za-ca-ri-a người dám thưa với thần sứ Chúa: “Sự ấy làm sao tôi biết được? vì tôi đã già và vợ tôi cũng cao niên.” (Lc 1: 29) Kế đến, Đức Maria cũng lúng túng khi Mẹ nghe lời chúc tụng của thiên sứ nhà Trời:
“Nhưng lời đó đã làm bà sao xuyến và bà suy tính lời chào đó có ý nghĩa gì?” (Lc 1: 29)
Xưa nay, loài người vẫn nghi và ngờ vì nhiều lý do. Nghi, vì chuyện ấy chưa từng xảy đến (chẳng hạn như ông Za-ca-ri-a và Đức Nữ Trinh\g Maria). Và ngờ, vì chuyện này có khi không đúng sự thật. Phản khoa học. Hoặc, chẳng có lý lại xảy ra như vậy… Xem như thế, nghi và ngờ là do có vấn nạn về một sự thật. Vấn nạn về việc chuyển tải sự thật đến với người nào dễ cảm nhận. Nhưng, thế nào là sự thật mà con người dễ cảm nhận?
Câu hỏi trên, được nêu ra cách nay hơn hai ngàn năm trước. Khi Đức Chúa bị dẫn ra trước toà Công nghị của quan Phi-la-tô để luận tội. Quan tra vấn một hồi như thể vẫn nghi và ngờ về tư cách “Vua” của Đức Kitô. Vì thế nên, mọi người mới có được một khẳng định về sự thật:
“Tôi đã đến trong thế gian: ấy là để làm chứng cho sự thật. Phàm ai thuộc về sự thật, Thì nghe được tiếng Tôi. (Yn 1: 37-38)
Giống như nhiều người, quan Phi-la-tô cũng đã nghi và ngờ. Cũng từng thắc mắc gạn hỏi: “sự thật là gì?”; hoặc, “đâu là sự thật?” Hỏi, tức là đem những thắc mắc trong bụng mình, bật thành tiếng. Tức, bộc lộ ra bên ngoài điều gì mình còn nghi và ngờ. Nhưng ở đây, hỏi có nghĩa là đã chấp nhận lắng nghe. Chịu tìm để hiểu. Chịu học hỏi và cảm nhận. Như trình thuật Tin Mừng thuờng cho thấy: ít có người chịu lắng nghe và cảm nhận. Bởi, nếu biết lắng nghe và cảm nhận, thì đâu có những hạch và hỏi. Và lúc ấy, cũng không còn nghi và ngờ gì hết. Lúc ấy những ai trước đây từng nghi ngờ, nay đã biết tin tưởng và cảm nhận. Trong Sách thánh, có rất nhiều chương/đoạn Tin Mừng nói đến tình huống qua đó có nhiều người đã nghe và đã có hỏi. Vẫn chờ đợi câu giải đáp. Chính vì thế, Đức Chúa đã quả quyết về sự thật, như sau:
“Trước khi mọi sự thật đã xảy ra. “ (Mt 5: 18) Hoặc: “Quả thật, Tôi bảo thật với các ông.” (Mt 5:26; 6:2; 6: 5, 16; 8: 10; 10: 2,4,15,25; 11: 11; 13: 17; 16: 28; 17:20; 18:13,18; 19: 23,28; 21: 31; 23: 36;24:2,34,47; 25: 12,40,45; 26: 1-32; 21, 34)
Có những vị thông minh tài giỏi, thông suốt hết mọi sự. Nắm vững mọi chân lý. Đã tường tận “Sự thật” bằng xương bằng thịt, bằng chính mắt trần người phàm. Nhưng vẫn chỉ duy trì “Sự thật” ấy ở mức độ mắt thịt phàm trần, mà thôi. Vẫn chưa đạt được con mắt của đức tin và của lòng kính phục. Nên, cứ nghi và ngờ. Vẫn gạn hỏi, thách thức chính Đấng-Là-Đường-Và-Là-Sự-Thật, qua câu nói:
“Thưa Thầy, chúng tôi biết Thầy là người ngay thật và thầy dạy đuờng lối Thiên Chúa một cách chân thành; vì thầy không có thói coi mặt đặt tên. Vậy xin nói cho chúng tôi hay…” (Mt 22: 16-17)
Đúng thế. Nhóm Biệt Phái/Kinh sư thừa biết rằng “ngay thật” luôn đi dôi với sự ”chân thành. Họ còn giải thích: “Thầy không bận tâm và không có thói coi mặt đặt tên.” Nhóm Biệt Phái/Kinh sư thông hiểu mọi chuyện, từng nghe từng biết đến Đức Kitô là “Đường, là Sự Thật và là Sự Sáng”, nhưng họ vẫn cứ nghi và ngờ. Vẫn gạn hỏi. Gạn hỏi là vì lòng dạ họ ra chai đá. Cứng tin. Nay, họ chỉ muốn hiểu biết hết mọi sự, theo con đường mình đã vạch ra. Nói cách khác, nhóm Biệt phái/Kinh sư vẫn cứng ngắc với những gì có sẵn. Những luật và lệ. Hoặc, chỉ bận tâm đến những gì do chính nhóm mình đặt ra, nói ra. Chứ không phải những gì mình đã nghe và cảm nhận.
Không nghe và không cảm nhận. Cũng dễ hiểu. Vì, dù cho “sự thật có đuợc phơi bầy trên nóc nhà”, thì nhóm Biệt phái/Kinh sư vẫn “mũ ni che tai”, không chịu nghe. Chẳng chịu cảm nhận.
Đã bao lần, Đức Kitô cảnh báo những người “Có mắt mà không thấy, có tai mà không nghe”, nhưng họ vẫn có thói quen “Coi mặt đặt tên”. Vẫn cứ “bận tâm đến chuyện của người khác”, đến hạt bụi nơi mắt người khác để rồi quên lờ đi những đòi hỏi do Đức Kitô đem đến là phải mở mắt, mở tai và mở lòng mình ra mà đón nhận chính “Sự Thật” đang hiện diện trước mắt mình. Để có thể phân biệt thực/hư của mọi việc nơi trần thế, cách hay nhất là mở mắt, mở tai và mở lòng mình ra, ắt sẽ nhận chân đuợc sự thật. Về thái độ nghe nhìn và cởi mở, tưởng cũng nên nêu ra đây ý kiến của một nhân sĩ đạo Bụt, có lần đã nói về Đạo của Chúa và Sự thật, như sau:
“Tại Tây Phương, nhiều người đang muốn cho Đạo Đức Kytô đuợc hiện đại hóa, nhưng họ chưa thành công vì thái độ thủ cựu và giáo điều của chức sắc bề trên. Nhiều nhà thờ vắng bóng tín đồ. Người xuất gia rất hiếm. Chỉ vì tại người ta bảo thủ quá, không chịu làm mới, không chịu làm cách mạng giáo lý và giáo chế…” (Thích Nhất Hạnh, Hẹn Nhau Mùa Anh Đào SangNăm).
Vâng. Thiền sư đạo Bụt nhận định cũng không sai cho lắm. Cách nay hơn hai ngàn năm có lẻ, chính Đức Kitô đã đem tin vui đến với các “chức sắc/bề trên” của thời đại xa xưa ấy, để họ chịu làm mới, làm cách mạng giáo lý và giáo chế thủ cựu của họ. Nhưng, họ vẫn chẳng chịu nghe. Vẫn thủ cựu và giáo điều. Cứ gạn hỏi rồi nghi ngờ chính Đạo, chính Sự Sáng và Sự thật. Họ còn bịt miệng sứ giả của Sự Thật dù Ngài vạch rõ cho mọi người thấy thế nào là thực, thế nào hư. Thế nào là Sự Sống đích thực. Đâu là niềm an vui vĩnh cửu.
Thực/hư,hư/thực quả là những điều được các sứ giả chuyển tải và mang đến, ngày hôm nay. Nhưng nào mấy ai chịu để mắt hoặc vểnh tai ra mà tiếp thụ, nhận lãnh. Nếu bảo rằng điều ấy là lỗi thời; thì đây thêm một thông điệp nữa từ vị thiền sư đạo Bụt: “Nếu thế kỷ hai mươi là thế kỷ trong đó con người chinh phục được thiên nhiên thì thế kỷ hai mươi mốt phải là thế kỷ trong đó con người chinh phục đựơc chính mình. Nếu thế kỷ hai mươi là thế kỷ của chủ nghĩa cá nhân và ý hướng thoả mãn tư dục thì thế kỷ hai mươi mốt phải là thế kỷ của nếp sống vô ngã, trong đó con người biết sống hài hoà với cộng đồng xã hội và thiên nhiên.” (Thích Nhất Hạnh, Thông Bạch Đầu Thế Kỷ)
Thế giới hôm nay đang có các nhân sĩ, những vị chọn ở ngoài hay ở trong Đạo, vẫn chuyển tải cho mọi người nghe biết về một sự thật. Sự thật ấy là: chỉ có tình yêu thương mới cứu thoát con người. Cứu thoát mọi người. Chỉ có hòa hõan mới đưa con người xích lại gần nhau hơn. Sống bớt đụng chạm sẽ an vui hơn. Hài hòa hơn. Bởi, ở đâu có sự hài hòa yêu thương quần tụ, thì ở đó Sự Thật mới thực sự diễn ra và hoà hợp với mình. Ngoài ra, tất cả chỉ là hư cấu. Hoặc, khéo che đậy. Tất cả chỉ là hư hư thực thực. Hoặc, có đấy nhưng xem như không thực.
Có thể nói, câu chuyện dưới đây được coi như một thông điệp sự thật. Một sự thật về cuộc sống và về sự vui sống. Về tình Yêu thương. Và dĩ nhiên, về sự hiện diện của Đạo, của Sự thật và Sự Sáng. Một câu chuyện cho người ở trong lẫn ngoài Đạo. Vì, Đạo là tình thương. Đạo là Sự Thật. Là, lòng tin yêu và sự vui mừng. Tin Mừng.
“Bên Trung quốc, có người con gái tên Lili đã đến tuổi cập kê. Và, cô lập gia đình về sống với chồng và mẹ chồng của mình.
Sau một thời gian chung sống, cô thấy mình không thể nào ở với bà mẹ chồng quá quắt này được nữa. Tính nết của bà rất là khó chịu, lại chẳng biết điều một tí nào. Nên, cô không thể nào làm vừa lòng bà được. Thêm vào đó, lúc nào bà cũng tìm cách chỉ trích, bới móc và còn nói xa nói gần khiến cô luôn thấy nhức đầu, khó ở.
Ngày lại ngày, mẹ chồng/nào dâu vẫn cứ tranh chấp bất bình với nhau chẳng thể hàn gắn được. Theo thông lệ, thì dù gì đi nữa bổn phận làm dâu, Lili vẫn phải tuân theo ý muốn của bà mẹ chồng. Bởi thế, mọi chuyện trong nhà cứ đổ lên đầu lên cổ người chồng hiền lành vốn ở thế rất khó xử.
Lâu dần, Lili chịu còn không nổi tính độc đoán vô lý của mẹ chồng thêm một ngày nào nữa. Cô quyết định dứt khóat với bà. Bèn, tìm đến một ông bác vốn là bạn thân của bố ruột mình để vấn kế. Đó là bác Hoàng, một thầy lang nổi tiếng trong vùng.
Gặp thầy, cô dông dài kể về tình thế khó thở trong gia đình. Và, yêu cầu ông bác cho cô ít thuốc độc như thuốc chuột chẳng hạn, để loại trừ bà mẹ chồng quái ác kia ra khỏi không gian nhỏ của cô.
Thầy lang nghe chuyện, suy nghĩ một phút chốc, rồi ôn tồn bảo: -Này cháu, bác sẽ giúp cháu giải quyết vụ này, cũng dễ thôi. Nhưng cháu phải tuyệt đối nghe lời bác dặn, không được sai phạm điều gì. Vì, sai một li đi một dặm, đó cháu. -Vâng. Cháu sẽ nghe lời bác dạy. Thầy lang bước vào trong, sắp sử đôi ba vị thuốc, rồi trở ra quầy mang theo một nắm dược thảo trong tay. Thầy nói với cô: -Ta không thể dùng thuốc cực độc để trừ khử bà cụ được. Vì, làm như thế sẽ khiến nhiều người hiểu lầm và nghi ngờ là chính cháu ra tay hạ độc thủ. Nay, bác đề nghị thế này: bác cho cháu một ít dược thảo. Nó rất độc, nhưng có tác dụng dụng chầm chậm. Cháu đem mấy thứ này về bỏ vào các món ăn nào cụ thích. Cứ nấu các món ấy cho cụ xơi; và, mỗi lần nấu hãy cho một ít thứ này vào đó, rồi khuấy đều lên. Mỗi ngày một ít thôi. Nhưng đồng thời cũng tuyệt đối phải đối xử sao cho ngọt ngào với cụ, làm như không có chuyện gì xảy ra giữa cháu và bà cụ. Để nếu cụ có nằm xuống, không ai dám nghi ngờ cháu là thủ phạm hết. Hãy xử sự làm sao cho mọi người thấy là chẳng có chuyện gì xảy ra giữa hai người và mọi chuyện trước sau vẫn tốt đẹp.
Lili ra về lòng những hớn hở vui mừng. Phen này cụ bà sẽ biết tay.
Ngày qua ngày, Lili phục vụ mẹ chồng không có điểm nào đáng chê bai, chẳng ai có gì để đàm tiếu. Cô nấu những món đặc sản mà bà rất thích. Cứ thế, mỗi ngày cô bỏ vào thức ăn chỉ một ít dược thảo mà ông bác đã bốc thuốc cho cô. Cô bắt đầu nói năng thưa gửi có phần ngọt ngào hơn và không ai có gì để nghi ngờ cô. Cô luôn nghe lời mẹ chồng coi bà như mẹ ruột, và ngay những người gần gũi như ông chồng nhút nhát thiếu lập trường kia cũng không nghi ngờ cô điều gì.
Sáu tháng trôi qua, mọi chuyện thay đổi theo chiều hướng tốt đẹp. Mẹ chồng – nàng dâu không còn cảnh cãi vã, giận hờn nhau như trước. Bà cụ cũng đã thay đổi hẳn thái độ. Bà bắt đầu thương cô con dâu hơn. Đi đâu bà cũng khoe khang, nói tốt về cô. Bà còn tuyên bố với mọi người rằng bà thương cô còn hơn cả con ruột của bà nữa. Chồng cô cũng rất hãnh diện và mừng thầm về sự thay đổi tốt đẹp này. Gia đình trở nên đầm ấm, thân thương hơn khúc ruột của bà nữa.
Ngày nọ, Lili lại tìm đến ông thầy thuốc bắc bạn thân của bố cô để một lần nữa báo cáo kết quả. Cô nói với thầy. -Bác ơi, cháu phải đến thưa với bác rằng mẹ chồng của cháu bây giờ đã thay đổi rồi bác ạ. Bà không còn khó khăn và dở người như trước. Nên hôm nay, cháu đến chỉ để xin bàn với bác xem bác cháu mình có cách nào để hút hết các chất độc dược mà bác cho cháu hôm trước ra khỏi người mẹ chồng cháu được không. Cháu đã lỡ bỏ hết vào thức ăn nấu cho bà rồi. Bây giờ thì cháu không còn muốn ra tay triệt hạ bà mẹ của cháu nữa. Bác cố làm sao giúp cháu cứu vãn tình thế đi bác! Thầy lang nhìn cô, quan sát một hồi rồi nói: -Cháu à! Cháu đừng lo lắng thái quá. Không nên. Những thứ hôm trước, bác đưa cho cháu chẳng có gì là độc dược hết. Cũng chỉ là ít thuốc bổ chung để giúp bà cụ ăn ngon ngủ khoẻ, thế thôi. Độc hay không, cái đó nằm ở trong đầu của cháu, ác hay không đều do cách thức cháu đối xử với bà cụ mà thôi. Nay cháu không còn có thái độ ấy nữa thì độc tố cũng chẳng lưu lại nơi bà làm gì.
Sự thật là thế đó, cháu ạ.
Vâng. Sự thật, sự Sáng hay Đạo vẫn lưu lại ở với chúng ta. Dù chúng ta không chấp nhận. Dù chúng ta có muốn loại bỏ hay trừ khử Sự Thật ra khỏi nơi nào cũng thế. Sự Thật vẫn kiên nhẫn. Vẫn thật sự nhẫn nhục. Nhẫn và nhục để chịu đựng nổi mọi thái độ độc và ác của con người.
Hãy cứ yêu thương và chịu đựng lẫn nhau. Rồi ra, mọi người cũng sẽ mở mắt. Sẽ mở tai và mở lòng mình. Khi đó Sự Thật sẽ đến ngự trị và cũng sẽ chỉ ngự trị trong cung lòng nào biết yêu thương, biết cảm nhận lòng yêu thương đích thật . Vì, Sự Thật là tình yêu thương, là lòng độ lượng. Và, cũng còn là sự vui sống. Sốngan hòa Sống hứng khởi Sống bền đỗ
Đó là thông điệp rút từ mỗi sự kiện. Mọi sự kiện. Đôi khi sự kiện có vẻ tàn nhẫn, gây đau lòng đến thế nào đi nữa. Hãy cứ vui đón Sự thật. Chỉ có Sự Thật mới giải phóng con người. Giải phóng mình ra khỏi cảnh tha hoá. Ác độc.
Trần Ngọc Mười Hai Và những suy nghĩ nhân có hiện tượng nghi và ngờ.
Bảo đảm, bảo trợ lẫn bảo kê (Gíáo luật #872)
Trước nhất phải nói, viết đầu đề cho chuyện phiếm mà lại viết theo kiểu trên, thì chẳng có gì bảo đảm là người bảo trợ sẽ bảo kê đọc suốt cuộc đời. Dù đã bảo lãnh, rất rành rọt. Và, việc bảo lãnh, bảo kê hay bảo trợ, nay vẫn chưa là bảo đảm, đáng tin như với các cơ quan bảo hiểm. Nhất thứ, là khi cơ quan bảo hiểm ấy lại bảo mật bảo trì như truyện kể, ở bên dưới:
Một truyện kể rất vui. Rất ý nghĩa. Và, cũng rất hàm ẩn bài học về sự bảo bọc cuộc sống rất nhiêu khê sôi động, khó bảo hành. Bởi, những chuyện bảo hành/bảo chứng vẫn được bảo ban/dạy bảo, rất xa xưa. Thôi thì, xưa hay nay cũng xin đi thẳng vào vấn đề như chuyện kể sau:
Hồi ấy, Gia-vê Đức Chúa thấy A-dong ngồi phờ phạc bên đám thú ngoan hiền, mà sao vẫn không được vui. Gia-vê vội lên tiếng, hỏi: -Này hỡi A-dong, sao con có chuyện gì mà buồn thế? -Thưa Ngài, con không có bạn hiền để bảo ban, tâm sự. Nên con buồn. Gia-vê bèn động lòng trắc ẩn bèn chờ đến lúc ông thiếp ngủ, Ngài nhè nhẹ tiến đến gần, rút ra một đốt xương sườn cụt, và tạo nên người đàn bà rất “khó… bảo”. Xong xuôi đâu đấy, Ngài nhìn A-dong hiền khô mà thấy tội, mà ái ngại bảo thầm: -Con à, Ta làm việc này chẳng qua cũng là vì con muốn, đó thôi. Đây sẽ là giấc ngủ bình an cuối cùng của con, đấy. Ta thật ra chẳng muốn bảo đảm gì thêm…
Vâng. Việc bảo đảm một bảo trợ về sau, dù là chuyện nhỏ, Gia-vê cũng chẳng muốn làm. Huống hồ là, các bảo lãnh to tát khác. Về những bảo trợ cho nên đạo đức chức năng của đám con nuôi hay con đỡ đầu, lâu nay vẫn là chuyện không có gì bảo đảm là sẽ không thay đổi. Chính vì thế, nhiều người hằng thắc mắc, mỗi khi thấy có đổi thay nơi cuộc sống nhà Đạo. Như, thắc mắc dưới đây:
Cách đây 63 năm, khi chịu phép thêm sức, ba mẹ tôi có vận động cho lắm cũng chỉ được phép nhờ vả có mỗi người bảo trợ do mình chọn, thôi. Và, khi con cháu của tôi đã lớn lên, chúng chỉ được phép có một người bảo trợ cho mỗi đứa, thôi. Còn bây giờ, sao tôi thấy lung tung nhiều luật lệ quá. Nếu tôi không lầm, thì lúc truớc, mỗi lần bảo trợ hoặc đỡ đầu cho ai, ta không giới hạn tuổi tác. Chỉ cần minh chứng cho cha xứ lo thêm sức/rửa tội biết là người bảo trợ con cháu mình là người Công giáo đàng hoàng đáng tin cậy. Người ấy vẫn đi nhà thờ thường xuyên, là được.
Vừa qua, cháu ngoại tôi rửa tội theo nghi thức Công giáo, nhưng sao thấy có những hai người bảo trợ, một là người Công giáo, còn người kia thuộc Giáo hội Anh giáo. Tôi không thấy điều gì tốt đẹp trong chuyện này cả. Xin vui lòng cho biết là: giáo hội của ta ngày nay có luật lệ gì bắt người bảo trợ phải như thế không?
Và dưới đây, là câu trả lời. Và, là câu trả lời của một đấng bậc khôn ngoan, nhưng rất ba phải. Lm John Flader, ở Sydney trả lời trên báo ngày 19/08/2007, như sau:
Trước tiên, xin được phép trả lời, là tôi thấy có hơi lạ ở chỗ bác lĩnh nhận phép bí tích đã từ lâu. Lúc ấy, sao lại chỉ có một người duy nhất bảo trợ cho các em. Cách đây cũng khá, hồi tôi chịu phép thêm sức, lại không như thế. Và, chuyện này không thuộc về giáo luật, lúc bấy giờ. Bình thường, cứ mỗi em chịu phép thêm sức, đều được phép có người bảo trợ cho mỗi em. Về người bảo trợ, hay còn gọi là vú/bõ đỡ đầu khi rửa tội, Giáo hội không bắt buộc là phải luôn luôn có người bảo trợ, nhưng Giáo hội vẫn đề nghị chuyện này.
Luật Hội thánh có ghi: “Đến nay, ai rửa tội cũng nên tìm ra người bảo trợ. Nếu người rửa tội là nguời lớn, thì vai trò của người này là giúp đỡ người mới gia nhập Đạo có được bước khởi đầu vững vàng, đi vào niềm tin. Nếu là trẻ nhỏ, trọng trách ấy thuộc cả cha mẹ em bé lẫn người đỡ đầu. Hai bên đều phải có mặt lúc cháu bé chịu phép thanh tẩy. Và cả hai, đều phải làm sao giúp cho cháu sống Đạo phù hợp với tư cách của người đã chịu thanh tẩy. Có quyết tâm thi hành bổn phận đi kèm với bí tích thanh tẩy. (Gíao luật số 872)
Xem như thế, ta chỉ cần một người bảo trợ thôi, cũng đủ. Và, người bảo trợ có thể là nam nhân hay nữ giới. Nhưng như luật Hội thánh nói, cũng có thể được phép có hai người bảo trợ, thuộc phái tính khác nhau. (Gl 873)
Bởi, vai trò của người bảo trợ là để giúp đỡ người lĩnh nhận bí tích đích thực biết sống niềm tin của mình. Và, một điều quan trọng, người bảo trợ phải là người có đặc tính hoặc phẩm chất đặc biệt. Về đặc tính/phẩm chất, Giáo luật liệt kê năm đặc tính như sau:
Trước hết, người bảo trợ phải do người chịu phép bí tích hoặc cha mẹ hoặc người giám hộ đề cử. Cũng có thể, là do linh mục chánh xứ hoặc thừa tác viên phụ trách thanh tẩy đề ra. Người bảo trợ, phải có quyết tâm chu toàn tròn vai trò được giao cho mình (Gl 874, 1: 2). Người bảo trợ không chỉ có nhiệm vụ hiện diện vào những lúc cần mà thôi; nhưng phải đảm nhận trọng trách giúp người rửa tội biết sống đích thực niềm tin của họ, nữa. Và nhất là, người bảo trợ phải có quyết tâm thực hiện vai trò này. (Gl 874 1: 2)
Thứ hai, nguời bảo trợ phải ít nhất là 16 tuổi, trừ phi có lý do chính đáng để được miễn trừ (Gl 874 1:2).
Thứ ba, người bảo trợ phải là người Công giáo từng chịu phép thêm sức và rước Mình Thánh Chúa. Người này, phải có đời sống đức tin bảo đảm chu toàn mọi công việc dành cho mình. (x Gl 874 1: 3) Vì thế, mọi người mong là, nếu được, thì người bảo trợ nên là người Công giáo vẫn đi nhà thờ đều đặn.
Thứ tư, người bảo trợ không thể là người đang ở trong tình trạng “rối”, tức bị Hội thánh kỷ luật, như: dứt phép thông công, hay treo chén, vv (Gl 874 1: 4).
Thứ năm, người bảo trợ không thể là cha hoặc mẹ của người được rửa tội hay thêm sức (Gl 874 1: 5). Bởi, vai trò của người bảo trợ là giúp đỡ cha mẹ của người rửa tội trong việc nuôi dưỡng trẻ lĩnh nhận bí tích ấy. Tuy nhiên, người bảo trợ có thể là anh/chị hoặc bà con gần gũi với người rửa tội, thêm sức.
Dù rằng những ai ở ngoài Đạo Công giáo không thể bảo trợ hoặc làm vú/bõ đỡ đầu theo nghĩa chính xác. Nhưng, Giáo luật Hội thánh cũng cho phép những ai đã rửa tội cùng giữ Đạo Chúa Kitô, nhưng khác giáo phái, vẫn có thể đứng ra cùng làm nhân chứng chung với người bảo trợ Công giáo (Gl 874 2). Tín hữu Anh giáo mà bác đề cập trong thư, có lẽ lúc ấy chỉ đóng vai trò người làm chứng, đúng hơn là làm vú/bõ đỡ đầu theo nghĩa của danh từ.
Về người bảo trợ/đỡ đầu cho bí tích Thêm sức, một lần nữa Giáo hội không đòi hỏi gắt gao là phải có người giống như thế. Nhưng Giáo hội đề nghị nên có người bảo trợ. Việc của người bảo trợ là chăm nom cho người rửa tội hay thêm sức khả dĩ có thể xử sự như chứng tá Đức Kitô; đồng thời, biết chu toàn bổn phận kèm theo bí tích này” (Gl 892)
Thành thử, vai trò người bảo trợ là chu toàn bổn phận giúp đỡ các người nhận phép bí tích như đề cập ở trên, như trong giáo luật, điều khoản số 874. Thêm vào đó, dù là không cần, nhưng nếu người bảo trợ cũng là vú/bõ đỡ đầu như hồi rửa tội, thì càng tốt. (Gl 893).
*
Quả đúng như điều bà con mình tiên đoán, câu hỏi nào hắc búa đến đâu, mà giao cho đấng bậc chuyên giải đáp thắc mắc, thì khỏi lo có đảm bảo hay không bảo đảm chất lượng. Bởi, câu trả lời chắc chắn rất thích hợp.
Dầu sao đi nữa, nhắc lại chuyện trên ở đây, tưởng cũng không là chuyện thừa. Nhắc, là: có được người bảo trợ đúng qui cách, và có chất lượng, thì ai mà chẳng thấy bảo đảm là có được giấc ngủ bình yên, như A-dong ở trên. Dù, ông chỉ ngủ trong chốc lát, hoặc ngủ một giấc dài bằng cả một đời người, ắt vẫn luôn cần đến sự bình yên của giấc ngủ. Rất đúng!
Đúng qui cách. Đúng chất lượng. Được như thế, thì các cơ quan bảo hiểm ở đời, mới dám bảo kê, lê thê chuyện bảo trợ, chứ? Với nhà Đạo, đề cử hay không đề cử người bảo trợ, việc cần bảo đảm là vị ấy phải có đủ tư cách và phải đảm bảo mình là người có chất lượng, mới được. Không tư cách và đủ chất lượng như mình mong muốn, thì người và việc sẽ cứ ở vào tình cảnh bát nháo, hỗn loạn. Chẳng ra sao.
Hôm nay, phiếm về một bảo trợ và bảo đảm hoặc bảo kê chuyện Đạo, việc Đạo cũng là điều rất hữu ích. Hữu ích để sống Đạo. Trong đời.
Trần Ngọc Mười Hai chỉ dám phiếm luận sơ chợt khi có bát nháo xảy đến nơi nhà Đạo, ở Sydney.
Cầu xin: nguyện cầu hay xin xỏ? (Mc 14: 38)
Mỗi năm, khi con dân nhà Đạo bước vào phụng vụ Mùa Chay, Giáo hội lại đưa ra các yêu cầu: sám hối, nguyện cầu, đổi thay, vv. Sám hối - đổi thay, là chuyện ta đã quyết tâm vào mỗi thánh lễ, ngày của Chúa. Còn, nguyện cầu mới chính là đòi hỏi mà Giáo hội khuyên nhủ người dân đi Đạo hãy tích cực thực hiện trong suốt cuộc đời. Tư thế nguyện cầu mà Giáo hội muốn ta làm, bao gồm các động tác, hành vi hoặc thái độ cả về tâm linh lẫn tu đức. Tức: hiệp thông, suy niệm, cầu nguyện. Gọi là cầu nguyện hay cầu khẩn, nghe còn êm tai. Chứ, bảo: hãy cầu xin, như lời ca mở đầu các nghi thức trong Đạo, thuở xưa:
“Cầu xin Chúa Thánh Thần, Người luôn thăm viếng hồn con..” nghe ra không mấy ổn?
Cầu xin. Phân tích kỹ, ta thấy cụm từ này bao gồm hai hành vi nhưng một ý lực: cầu khẩn và xin xỏ. Cầu khẩn hay nguyện cầu là cốt bày tỏ quyết tâm thực hiện điều gì. Quyết đạt được điều gì không cho riêng mình, nhưng để giúp nhiều người lạ lẫn thân quen. Trong khi đó, xin xỏ hay cầu xin chỉ là: muốn thâu nhập thêm vào cho riêng mình những gì ta cần đến. Một ân huệ. Lợi lộc vật chất. Hay ít nhất, thứ gì thỏa mãn những khao khát / dục vọng của con người. Hôm nay, phiếm luận về chuyện cầu xin hay nguyện cầu, cũng chỉ để mạn bàn về những điều rất thông thường. Những chuyện thường gặp trong cuộc sống. Nơi thói quen của dân con đi Đạo. Nhưng, trước khi đi thẳng vào vấn đề, xin (cũng lại xin) có một câu chuyện kể rất thật , để quý vị và các bạn xem xem có đúng và có phải lẽ không, để còn tùy định liệu. Hôm ấy, vào buổi xế chiều ngày thường, đang lê gót chân mềm ra chỗ gửi xe để về nhà, tôi nhận thấy có tấm giấy nhỏ ai cài nơi đầu mũi. Tưởng đâu giấy phạt hay tờ quảng cáo, nhưng nhìn kỹ mới thấy giòng chữ có lời nhắn nhủ, như sau:
Hãy đọc lời kinh sau đây một cách tin tưởng, bạn nhé! Chẳng cần biết bạn có cảm nghĩ thế nào khi đọc lời ấy. Nhưng, nếu bạn đọc mỗi câu mỗi ý này với sự chân tình và nhiệt tâm, chắc chắn bạn sẽ gặt hái được nhiều kết quả tốt đẹp về mặt tinh thần. Bạn sẽ cảm nghiệm ra Đức Giê-su và chính Ngài sẽ biến đổi đời bạn một cách trọn vẹn. Và đặc biệt. Tin tôi đi. Bạn sẽ thấy được phép lạ hiện ra với bạn, nnếu bạn quyết tâm gặp gỡ Đức Kitô ngang qua nguyện cầu.” (ký tên Peter Mary Rookey, OSM)
Một điều khá ly kỳ trong chuyện kể, là: tờ rời đến với tôi ngay vào tuần lễ thứ hai Mùa Chay năm đó. Như thế, có phải tác giả của tờ rời muốn nhắc những người vẫn cho mình bận rộn với đủ mọi thứ công chuyện, hãy để tâm “nguyện cầu”, một chút trong mùa này. Vâng. Thắc mắc như trên quả cũng có lý. Ngay từ đầu, các thánh sử đã chẳng trích dẫn Lời Chúa nhắn nhủ trong Tin Mừng: “Hãy tỉnh thức và cầu nguyện” (Mc 14: 38), là gì? Với thánh sử Mar-cô, việc nguyện cầu còn được nhắc đi nhắc lại, nhiều hơn:
*“Từ biệt dân chúng rồi, Ngài lên núi cầu nguyện” (Mc 6: 46) *“Các ngươi hãy cầu xin để đừng xảy ra vào mùa đông.”(Mc 13: 18) * “Các ngươi hãy ngồi lại đang khi Ta cầu nguyện.” (Mc 14: 32)
Riêng thánh Mat-thêu, thì thế này:
* “Hãy yêu mến kẻ thù địch và khẩn cầu cho những người bắt bớ các ngươi. (Mt 5: 44) * “Khi các ngươi cầu nguyện, thì chớ làm như bọn giả hình, chúng ưa đứng cầu nguyện trong hội đường và các ngả đàng… Còn ngươi, khi cầu nguyện hãy vào buồng, khóa cửa lại mà cầu nguyện với Cha ngươi, có mặt cả nơi kín ẩn” (Mt 6: 5-6) * “Cầu nguyện, thì các ngươi chớ lải nhải như người ngoại. Chúng tưởng hễ nói nhiều thì sẽ được nhậm. Chớ bắt chước chúng, vì Cha các ngươi biết rõ các ngươi cần gì, trước khi các ngươi xin Người.” (Mt 6: 7-8)
Còn, Luca thánh sử? Thánh Luca cũng dùng cụm từ “cầu nguyện” và “khẩn cầu” (theo bản dịch của lm Nguyễn Thế Thuấn, CssR) như dưới đây: (Lc 5: 33): môn đồ của Gio-an ăn chay và cầu nguyện (Lc 6: 12): Ngài ra núi cầu nguyện. (Lc 6: 28): Khẩn cầu cho kẻ ngược đãi. (Lc 9: 28): Ngài lên núi cầu nguyện. (Lc Lc 11: 1): Dạy môn đồ hãy nói câu “Lạy Cha” (Lc 22: 46): Hãy cầu nguyện kẻo sa cơn thử thách.
Riêng thánh Gio-an, môn đệ yêu dấu của Đức Giêsu, đề cập đến lời nguyện tế hiến của Chúa, thánh nhân dùng cụm từ “cầu xin”: * “Con cầu xin cho chúng, Con không cầu xin cho thế gian” (Yn 17: 9)
hoặc: * “Con không chỉ cầu xin cho chúng mà thôi..”(Yn17: 20)
Các bạn thấy đấy. Về từ ngữ, khi dịch các chữ Orare (Latinh),Prier, Prières (Pháp ngữ), hoặc Pray, Prayer (Anh ngữ)…, cha giáo kinh thánh Nguyễn Thế Thuấn rất uyển chuyển. Nếu không muốn nói là “huê dạng”. Cụ không cứng ngắc với điệp từ “nguyện”. Tức là, khi đã “cầu” thì vẫn có thể là “xin”, là “khẩn” hay là “nguyện” . Hoặc như ai đó, muốn thêm thắt cho đa huê đa dạng một chút, như: “cầu mong”, “cầu chúc” , hoặc “cầu cùng” ,vv.. đều được cả. Miễn là, ngôn từ ấy diễn bày được ý hướng hoặc lòng thành của người đề xuất ngôn ngữ, ý tưởng ấy, là được. Nói tóm lại, khi đặt mình trong tư thế nguyện cầu, bạn hay tôi dù mang trong đầu “ước nguyện”, hay “ý định” có tính xin xỏ một chút thì cũng tốt thôi. Không sao. Chúa biết lòng mình. Tuy nhiên, vấn đề cần nêu thêm, là: thời buổi văn minh hiện đại, mọi thứ đều có đủ, thì nội việc “nguyện” với “ước” có thực sự cần thiết không? Nói khác đi, khi mọi sự trên đời, kể cả chuyện biến đá biến sỏi thành cơm, mà người ta còn nghĩ là mình làm được, thì việc khẩn nguyện hay van xin … đâu là chuyện “cần phải làm ngay”. Phải thế không, thưa các bạn? Nếu quả như thế, thì ngay lời dạy của Đức Kitô bảo ta “xin được hằng ngày dùng đủ” (chứ không phải dư thêm một chút) cũng chỉ là chuyện bằng thừa. Có đúng thế không, thưa bạn? Đưa ra câu hỏi trên, bỉ nhân không dám bảo là đã có sẵn đâu đó, câu trả lời thoả đáng, đâu. Nhớ lại một chuyện xảy ra cách nay không lâu, vào bữa trưa nhân ngày Quốc Tế Thực Phẩm, một đồng nghiệp say sưa kể về quan niệm của bạn khác, cho rằng: trong cuộc sống thường nhật, nếu ai không cầu nguyện hằng ngày, ắt thể nào cũng bị Đức Chúa trừng phạt… Nghe đến đây, mọi người đều cười ồ. Và, chọc quê anh bạn giờ này mà vẫn còn quan niệm ngây ngô, kỳ khú ấy. Bữa ấy, tôi không dám ra mặt bênh vực anh bạn bị nhạo báng, nhưng chỉ lẩm nhẩm câu thơ của thi sĩ nọ: “thế thái nhân tình, gớm ghiếc thay…”, thiên hạ người ta muốn cầu nguyện mà cũng không yên được với chòm xóm, đồng nghiệp. Đành rằng, ở chốn văn minh tiến bộ này, ai muốn đi nhà thờ, cầu nguyện hoặc gẫm đàng thánh giá, xưng tội, phạt xác,vv.. đều có tự do con cái Chúa. Miễn đừng rung chuông, gõ mõ bằng loa đặt trên gác chuông hay cột cao vời vợi, gây mệt nhĩ “những người đang cần được yên giấc”, là được. Thật thế. Quanh ta, hiện rất nhiều người đang cần được an giấc. Nhưng rốt cuộc, họ vẫn chẳng “an” được “giấc” nào hết. Có lẽ, một phần, vì họ cứ bỏ ngoài tai lời nhắc nhở của Đức Chúa, vào dạo trước:
“Ôi thế hệ cứng tin và tà vạy!” (Mt 17: 17),
Và:
“Giống này không thể tống khứ được nếu không bằng cầu nguyện và ăn chay” (Mt 17: 21)
Vâng. Quả là thế. Ăn chay - nguyện cầu, không phải để có thêm điều này, thứ nọ. Nhưng, chính là tình huống quan yếu của con dân nhà Đạo. Theo thiển ý, nguyện cầu, ngoài ý nghĩa “xin xỏ” hay “van xin” ra, còn là trạng huống tự đặt mình thuận theo đòi hỏi của Thiên Chúa. Tức, đòi hỏi “luôn tỉnh thức”, và “hiệp thông” với Cha trên trời. Ngõ hầu, thánh Danh Ngài được vinh hiển. Ý Ngài được tỏ lộ và, người người đều tuân thủ. Đó là ý hướng mà Đức Kitô khuyên dạy tất cả mọi người chúng ta từ lúc ban sơ. Khi Ngài quyết định hiệp thông với thế giới nhân trần qua động tác mà người ngoại cuộc cho là “rồ dại”. Động tác có một không hai nơi trần thế. Tức, chấp nhận cho mình xác phàm trơ trẽn; để rồi, cùng làm người với con người. Ở thời buổi văn minh vật chất thiếu vắng hiệp thông lẫn cảm nghiệm, thì “cầu” và “nguyện” vẫn là chuyện phải làm. Và nên làm. Theo sự hiểu biết nông cạn của bản thân, “cầu” và nguyện” là động tác, là trạng huống của những “hiệp” và “thông”, rất thường tình. Không có cái này , cũng chẳng có được cái kia. Mà, “hiệp” và “thông”, lại là cứu cánh của cuộc sống xã hội. Nói khác đi, sống mà không biết “thông” và “hiệp” với người khác, nhóm khác, ai khác… thì, không phải là sống mà chỉ là kéo dài động tác hít thở, cựa quậy của xác phàm gồm những xương và thịt vô tri, vô tính khí. Nhân vị, khi ấy chỉ là con ong, cái kiến có được bộ óc nhũn nhẽo, không hồn. Và, cũng chẳng là người nữa. Chỉ là thứ người máy giống tựa hình người. Hoặc, một người hình như là “máy”, giống người máy, thế thôi. Không hơn không kém. Bản chất “hiệp” và “thông” là tính “ắt và đủ” của cái gọi là HOMO SAPIENS mang tên rất “người”. Lại nhớ về câu chuyện do nhà nhân chủng học tên tuổi, bà Margaret Mead kể lại phong tục của bộ tộc nọ xứ Amazone. Theo bà, hình phạt nặng nề nhất đối với sắc dân bộ tộc này, là: bị trục xuất khỏi xã hội nhỏ mình đang sống. Tức, không còn được phép “hiệp” và “thông” với mọi người trong bộ tộc ấy nữa. Bị như thế, đương nhiên mất đi tính chất “hiệp thông” của con người. Xem thế, “hiệp” và “thông’ chẳng phải là đặc tính xã hội. Mà, là cứu cánh của sự sống. Và, đã là cứu cánh, thì ở thời nào, nơi nào con nguời cũng phải trân trọng. Tóm lại, ở mọi nơi mọi thời, lời dặn của Đức Kitô luôn bức thiết, tồn tại: “Hãy tỉnh thức và nguyện cầu!”. Đến đây, còn một câu hỏi cuối nữa, là: sống gần bên những người không nghĩ rằng nguyện cầu là việc cần thiết, hoặc những người cứ bêu rêu tư thế cầu nguyện của người khác, thì làm thế nào để chính mình và người khác được thức tỉnh? Làm sao để khuyến khích tất cả nên nguyện cầu? Để trả lời cách ngắn gọn, xin ghi lại đây ý kiến của anh thanh niên có tên là Raymond Halter thuộc tu hội The Marist khi viết đề tựa cho cuốn “Cầu nguyện như một hoàng tử của Đức Vua” của tác giả Jean Pliya, như sau:
“Cuối cùng thì, mọi lời cầu nguyện đều dẫn đến câu: “Abba, lạy Cha yêu dấu!” Bởi lẽ, tuyệt đỉnh của việc nguyện cầu chính là gặp gỡ Tình yêu Thiên Chúa Ba ngôi.”
Thành thử, nếu đã nhất quyết nguyện cầu, thì nói gì, làm gì cũng đều là chuyện tốt. Miễn là, biết đặt mình trong hiệp thông với Tình yêu Thiên Chúa. Đó mới là chuyện chính. Viết đến đây, tôi tự bảo: các bạn hẳn cũng ưu tư nhiều với vấn đề cốt thiết này. Hẳn cũng đã kinh nghiệm nhiều về vấn đề nêu ở trên. Để kết thúc, xin được phép nhái lại câu văn của thánh Âu Cơ Tinh, rằng: “Hãy cầu nguyện đi, sau đó muốn làm gì thì làm.” Bởi, khi nguyện cầu tức là ta đã hiệp thông với Chúa. Và, đã hiệp thông với Ngài rồi, thử hỏi ai dám làm trái ý Ngài không? Hoặc, nếu bạn còn ái ngại cho câu nói trại ở trên, thì xin nói lại: “Ama, et fac quod vis!” Tức,” Hãy cứ yêu đi, sau đó muốn làm gì thì làm!”
Trần Ngọc Mười Hai thử đề nghị mình, đề nghị bạn.
“Hạnh phúc tôi, từ ngày con nước về”
Hạnh phúc, có là tên gọi của ai đâu, mà sao nghệ sĩ họ Từ mải réo gọi. Gọi mãi, mà không thấy có trả lời. Có lẽ, nghệ sĩ nhà mình những tưởng hạnh phúc đời thường vẫn là bông hoa biết nói. Là, người con gái đẹp, rất như tranh. Là, bức hoạ trinh trong của cuộc đời, đó chăng ? Hạnh phúc, có đích thật là như thế, không ? Câu trả lời, hẳn là không. Không là bởi vì, với mọi người, hạnh phúc là cái gì khác hẳn. Người, cho đó một hành trình. Kẻ lại bảo, đấy là một gặp gỡ. Nói chung, mọi người đều hiểu: Hạnh Phúc là những gì ta có. Những gì ta thưởng ngoạn, rất mê say. Nhưng kỳ thực, hạnh phúc là những gì ? Để trả lời, tưởng cũng nên đi một vòng kiểm chứng. Kiểm và chứng bằng câu truyện. Những truyện kể về một kinh nghiệm, về định nghĩa. Kinh nghiệm và định nghĩa đơn giản như câu chuyện sau đây: “Cụ già tên Hứa nay cũng đã tròm trèm 90. Dáng người mảnh dẻ. Thân hình tương đối cao. Cụ ăn mặc rất gọn gàng. Mặt tươi sáng, luôn vui vẻ. Ở tuổi cửu tuần với ngày tháng cuối cuộc đời, mà sắc mặt cụ vẫn săn sái, hóm hỉnh. Mới đây, người vợ ít tuổi hơn cụ đến 20 năm, đã lặng lẽ đi trước. Từ khi bà ra đi, cụ được yêu cầu dời vào chỗ người già. Vì không ai chăm sóc cho cụ nữa. Thế mà cụ chẳng lấy đó làm buồn lòng Vào nơi mới, cụ theo nhân viên gia cư đến ngồi ở phòng đợi chờ làm thủ tục, rất lâu. Khá mệt. Nhưng, vẫn thấy nơi cụ phảng phất một nụ cười nhẹ, tuy không còn tươi như trước nhưng vẫn sắc nét. Khi được nhân viên dẫn đến phòng, cụ nhìn quanh quất, thấy không được khang trang cho lắm, nhưng vẫn vui vẻ chỉ vào tấm trải dùng làm màn gió che cửa, rồi nói: tôi thích cái kiểu chế biến màn che đầy sáng tạo như thế này. Người dẫn cụ thấy vậy bèn nói: “Cụ chưa biết phòng mình tốt xấu thế nào, mà sao cụ vẫn nói mình thích nó?” Và cụ già trả lời: “Chuyện tốt xấu nơi ở của mình đâu có thành vấn đề. Này cậu, sở dĩ tôi nói mình thích nó, là bởi vì với tôi, Hạnh Phúc là thứ gì mình đã chọn trước khi có nó, ở trong tay. Lão tôi có thích cái phòng nhỏ này hay không đâu có tuỳ thuộc vào tấm màn che cửa xấu tốt. Mọi chuyện thích hay không, đều do mình chọn lựa cả thôi, cậu ạ. Nói thật với cậu chứ: ngay trước khi bước vào đây để ở, lão tôi nhất định đã nói trong đầu là mình sẽ thích cái đó. Và, nếu mình quyết định là thích, thì tất nhiên nó sẽ tốt và sẽ thích. Đây cũng là thói quen cố hữu của lão vào mỗi sáng. Cứ sáng sáng là lão tôi đều làm thế, ngay khi thức dậy. Để lão tôi kể cậu nghe cho vui. Mỗi sáng, lão tôi có thể quyết định cứ nằm nướng như thế trên giường lo lắng đủ mọi thứ khó khăn xảy đến trong ngày, từ chuyện đau mình đau mẩy cho chí mấy chuyện ăn uống sao cho đầy bụng, vv. Hoặc, quyết định vụt dậy, đạp tung chăn gối vội ngồi dậy và nguyện thầm những lời cảm tạ trời đất đã cho mình còn đủ sức để sắp xếp mọi chuyện cho có lớp lang, đàng hoàng. Thế là tốt rồi. Nói để cậu nghe đừng cười lão nhé ! Lão đây, ngày nào cũng tâm niệm là mỗi ngày 24 tiếng trời cho, đó là món quà quý mình đừng nên phung phí. Thay vì ngồi đó nhăn nhó, rên la thì lão đây chọn: hãy cứ bằng lòng với hiện tại mình đang có ! Rồi sau đó, tập trung xem mình sẽ làm gì cho đỡ buồn chán, vào những ngày còn lại. Thế là bao nhiêu kỷ niệm đẹp của những ngày vui sống với vợ con, cứ thế từ từ trở về trong ký ức, là thấy vui. Nói của đáng tội, tuổi già nó giống như cái tài khoản trong ngân hàng, vậy. Ta có thể rút từ từ mỗi ngày một chút, xài lai rai trong suốt những tháng ngày còn lại mà mình vẫn chắt chiu và vẫn tiếp tục bỏ vào. Bởi thế cho nên, bữa nay lão tôi đề nghị cậu hãy bắt chước lão mà rút ra từ từ mọi thứ mà cậu nghĩ đó là hạnh phúc. Rồi sau đó, hãy bỏ nó vào cái tài khoản đầy ắp những kỷ niệm. Và, cậu lôi nó ra mà nhớ mà hưởng lai rai ba sợi, như thế là hạnh phúc, chứ còn gì nữa, phải không ? Để lão nói thêm, hãy bắt chước lão mỗi ngày ráng làm sao đừng để cho những chuyện bất ưng hoặc khó chịu nó xâm nhập, nằm mãi trong bụng của mình. Cứ sống đơn giản, như lão đây từng sống. Cứ xài tiền nhà nước cấp, rồi đem cho bọn nít những gì chúng ưa. Và, đừng trông mong sẽ có người đem đến cho mình quà cáp này nọ. Được như thế, tự khắc thấy mình hạnh phúc nhất trên đời, cho mà xem. Thế đó, là định nghĩa và quan niệm của cụ già 90, về hạnh phúc. Thế còn, nhà Đạo mình thì sao ? Tản bộ vào vườn hoa Kinh thánh, ta bắt gặp những quan niệm, như: Ở Cựu ước, ta thấy: “Hạnh phúc thay, kẻ được Ngài giáo huấn” (Thánh vịnh 94 ) “Người đặt niềm tin vào Đức Chúa, hạnh phúc dường bao!” ( Châm ngôn chương 16 )
“Còn người gian ác, hạnh phúc làm sao được...” (sách Giảng viên chương 8 ) Với Tân ước, thì: “Hỡi đầy tớ trung thành, hãy vào mà hưởng hạnh phúc với chủ mình. (Mt 25, 21)
“Hãy tôn kính cha mẹ, để người được hạnh phúc trên mặt đất này” ( Ep 6, 2) “Quả thật, Thiên Chúa đã trù liệu cho chúng ta một phần hạnh phúc tốt hơn…” (Hp 11, 40)
“Thiên thần bảo tôi: Hãy viết: Hạnh phúc thay kẻ được mời đến dự tiệc cưới Con Chiên.” (Kh 19, 9) Tiệc cưới bày sẵn, nay mời con dân nhà Đạo đến dự. Đến, mà hưởng hạnh phúc tràn đầy, đã dọn sẵn. Thế nhưng, hạnh phúc của tiệc nhân gian, chỉ dành để cho những người đã nghe và nhận thức được điều Ngài chúc phúc, trong Hiến Chương Nước Trời. Nước Trời là “đệ nhất khung trời của hạnh phúc. Nhưng, hiến chương “Hạnh Phúc” của Nước Trời không nằm ở những gì cao sang, lộng lẫy, rất hấp dẫn. Trái lại, chỉ ở vào những điều mà mọi con dân thấy rất đời thường, ở huyện. Những nào: nghèo khó, sầu khổ, bị bách hại… được rao truyền như sau: "Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ. Phúc thay ai hiền lành, vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp. Phúc thay ai sầu khổ, vì họ sẽ được Thiên Chúa ủi an. Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương… (Mt 5, 3 – 7) Trên đây mới chỉ là phân nửa của Hiến chương 8 điều về Hạnh phúc đích thật. Nhất nhất, mỗi điều đều đề nghị những thứ mà mọi người từng ngán ngẫm. Thế nhưng, những gì mà con người chán ngán không muốn ôm vào mình, lại chính là nguyên tắc làm nền cho mọi thứ hạnh phúc. Cố Linh Mục Nguyễn Thế Thuấn, DCCT, trong sách chú giải Tin Mừng về hạnh phúc đích thật Chúa rao truyền, đã hơn một lần xác định rằng: “Tin Mừng đã đáp ứng với nhu cầu hạnh phúc của con người. Nhưng, hạnh phúc mà Chúa Yê-su đem lại không phải là (cái) hạnh phúc rẻ tiền. Đây là thứ hạnh phúc phải tranh thủ và chỉ có những người không sợ nỗ lực, và nhiệt thành chết thôi, mới hưởng được… Hạnh phúc này nâng cao con người lên và lên án mọi thứ hạnh phúc ươn hèn, biến đổi (cái) lòng mong muốn hạnh phúc mà con người chỉ muốn hưởng, chứ không muốn có nỗ lực nào hết.”(Lm. Yuse Nguyễn Thế Thuấn, Hiến Chương Nước Trời, giáo án nội bộ, tr. 49)
Nhưng cố giáo sư Kinh Thánh chú giải còn đi xa hơn, qua nhận định:
“Chúa Yêsu muốn sự cao trọng của người ta chứ không muốn lấy bất cứ thứ hạnh phúc nào để làm chiêu bài cho Tin M |