Duc In Altum‎ > ‎

DUC IN ALTUM 80

                                                                                                                                              

Số 80 – Quý 4/2012

 

CON ĐƯỜNG LOAN BÁO TIN MỪNG HÔM NAY

Trong mấy số báo Ephata liên tiếp vừa qua, chúng tôi có dịp chia sẻ nỗi băn khoăn của chúng ta về công cuộc loan báo Tin Mừng, làm sao để Tin Mừng được lan tỏa hiệu quả trên quê hương đất nước chúng ta, làm sao để ngày càng có nhiều người nhận biết Tin Mừng và tin theo Chúa. Thời các Thừa Sai ban đầu đền Việt Nam, các ngài đã tìm kiếm để khám phá ra cách loan báo Tin Mừng cho dù gặp biết bao khó khăn về ngôn ngữ, hoàn cảnh chính trị, trình độ văn minh, các ngài đã hết mình dấn thân cho công cuộc, hy sinh tất cả ngay mạng sống của các ngài, đeo đuổi con đường đó để vun trồng cho mùa lúa bội thu của chúng ta.

Ngày nay hoàn cảnh đã thay đổi, những khó khăn ngày ấy có cái bây giờ không còn nữa, có cái đã thay đổi và cũng có cái khó khăn hơn, đồng thời xuất hiện thêm những khó khăn mới. Cũng vậy, hoàn cảnh mới chúng ta có thêm những thuận lợi mới, Chúa Giêsu nói “phải biết rút ra những cái cũ và cái mới” ( Mt 13, 51 ). Hiện tượng toàn cầu hóa và sự xuất hiện của mạng thông tin giúp ta nối liên lạc với toàn thế giới, biến cả nhân loại này trở thành một ngôi làng, mọi biến cố dù ở đâu cũng tác động lên các vùng còn lại của địa cầu. Nếu những thành tựu của một Giáo Hội bạn, Giáo Hội láng giềng ngày xưa khó có điều kiện trở thành bài học cho Giáo Hội của đất nước chúng ta, thì ngày nay cái khó đó không còn nữa, ngược lại, bài học quý giá ấy nhanh chóng được phô diễn ra ngay trước mắt chúng ta với nhiều chi tiết đắt giá.

Trong các số báo trước chúng tôi đã đặt vấn đề “hiện tượng Hàn Quốc”, chẳng phải ngôi sao ca nhạc hay minh tinh màn bạc, nhưng là Giáo Hội Công Giáo Hàn Quốc với sự phát triển “thần kỳ”, vì đâu mà họ tự tin và đạt được hiệu quả cao và nhanh như thế ? Dĩ nhiên không dễ dàng gì có thể khám phá ra hết những kinh nghiệm quí báu của họ, nhưng chúng ta thử xem một vài hiện tượng.

Số báo Tuổi Trẻ ra ngày thứ tư 28.11.2012 mới đây có bài của một vị luật sư ký tên Hà Hải, tựa đề “Giúp cô dâu Việt thoát bạo hành” đăng nơi trang 9. Bài báo đề cập đến hiện trạng các cô dâu Việt trên đất Hàn lâm cảnh bơ vơ khốn cực khi có những mâu thuẫn nảy sinh trong đời sống hôn nhân, bài này tiếp nối nhiều bài khác khi trong những ngày vừa qua có một người phụ nữ Việt đã ôm hai đứa con nhảy lầu tử tự vì bị dồn vào đường cùng nơi đất khách quê người. Bài báo này ra đời sau khi vị luật sư tác giả nói chuyện với một đồng nghiệp luật sư ở Hàn Quốc. Tác giả lược qua hoàn cảnh bất lợi của các cô dâu Việt và thế bề tắc lâm phải ở Hàn Quốc, rồi tác giả viết những dòng cuối như kết luận “… cách tốt nhất là các cô dâu Việt chạy đến một Nhà Thờ gần nhất. Nơi đây sẽ cưu mang và bảo vệ các cô dâu cơ nhỡ, bị bạo hành, nếu sự việc nghiêm trọng thì đại diện Nhà Thờ có thể thay mặt cô dâu Việt khởi kiện, tố cáo người chồng”.

Chúng ta tạm dừng lại ở kinh nghiệm của vị luật sư này:

-    Chạy đến một Nhà Thờ gần nhất: Vậy là ở Hàn Quốc đã có khá nhiều Nhà Thờ ở nhiều nơi và Nhà Thờ nào cũng là nơi người ta có thể chạy đến cầu cứu bất cứ lúc nào.

-    Nơi đây sẽ cưu mang và bảo vệ: Giáo Hội sẵn sàng đứng ra cưu mang và bảo vệ, đứng về phía người cô thân cô thế, đứng về phía nạn nhân, đừng về phía người bị áp bức, người bị bỏ rơi. Nên biết trước đó, tác giả đã phân tích tính bất hợp pháp về phương diện pháp luật của các cô dâu Việt.

-    Đại diện Nhà Thờ có thể thay mặt cô dâu khởi kiện, tố cáo người chồng: Trước đó tác giả nói rằng có thể cô dâu không có tiền để thuê luật sư bảo vệ, nghĩa là Nhà Thờ chấp nhận tốn kém vì sự sống, vì sự bình an và vì sự công bằng của con người.

Đó là kinh nghiệm của Giáo Hội Hàn Quốc và có lẽ đó là một trong những lý do người ngoại giáo nhìn về Giáo Hội Hàn Quốc với ánh mắt yêu mến và khâm phục, từ đó gương mặt Đức Kitô được trình bày hết sức cụ thể qua từng sự việc liên quan đến con người: một Đức Kitô vì người nghèo, vì người đau khổ, vì người bị áp bức. Và có lẽ khởi sự từ đó mà người ta tin theo Đạo, vì những người có Đạo đã “không sống cho mình, đã không chết cho mình, mà có sống là sống cho Chúa, có chết là chết cho Chúa” (Rm 14, 7 – 9).

Bài học này có hiệu lực thế nào đối với chúng ta ?

Lm. VĨNH SANG, DCCT, 1.12.2012

 

20 năm nhìn lại

Mây Chiều Ghi Nhanh

 

Buổi họp mặt của Gia Đình An Phong Sydney vào ngày Chủ Nhật 28/10/2012 có một dấu ấn đặc biệt.

 

Gia đình An Phong Sydney, theo thông lệ, thường có hai buổi họp mặt chính thức mỗi năm: một là vào dịp Tết Âm lịch, để các cháu vui xuân, hái lộc và nếu được số tiền nào do tặng dữ, bán đấu giá, vv.. thì sẽ dùng để yểm trợ một công tác truyền giáo nào đó của Dòng Chúa Cứu Thế Việtnam; hai là: vào ngày mừng lễ thánh An Phong, buổi họp này quan trọng vì chủ yếu là gây quỹ hiện kim để yểm trợ công việc truyền giáo của Dòng Chúa Cứu Thế ở Việt Nam, mà năm nào, số tiền gửi về yểm trợ cũng trên AUD$5000. Riêng năm 2012 vừa qua, số tiền đã lên tới AUD$6,200.

 

Tuy không có giấy mời, chỉ có nhắn tin, điện thoại, nhưng anh chị em đãđến đông đủ chưa từng có, để chào đón cha Trần Ngọc Thao đến thăm anh chị em, nhân dịp cha đang ở Sydney, trước khi trở về Việt Nam. Cách đây hơn 20 năm, anh chị em cũng từng có dịp đón cha Trần Ngọc Thao năm xưa cha còn là Bề trên Giám tỉnh cũng tại nhà anh chị Vũ Nhuận.

Thật là một cuộc hội ngộ đặc biệt, vì nó được lập lại sau 20 năm. 20 năm nhìn lại, quả thực là một thời gian dài. Nếu đời người chỉ có 60 năm, như bài hát “60 năm cuộc đời”, thì nay một số anh chị em đã vượt kỷ lục, vượt xa cái mức 60 năm mà vẫn còn an mạnh.

4 giờ chiều nay, anh Vũ Nhuận tuyên bố khai mạc, Chi Hội Trưởng mới là anh Nguyễn Văn Dũng đã mở lời chào mừng tới cha Trần Ngọc Thao và anh chị em có mặt. Chúng ta phải khen anh Vũ Nhuận, vì anh thật sâu sắc, đã trưng bày sẵn một tấm hình chụp lớn cách đây 20 năm, trong hình có cha Thao và nhiều anh chị em.

Ngày ấy, cha Thao còn trẻ nhiều, ngài chưa tới cái mốc 60, vóc dáng còn uy hùng, quả thực ngài khiêm nhường, vì nếu không, ngài đã nhận lời làm Giám mục ở Việt Nam. Cứ xem hình ngày ấy thì biết, vì các anh chị em còn trẻ lắm và các cháu thì, hồi đó nhiều cháu còn đang được bố mẹ bế bồng trên tay. Nay, đa số các anh tóc đã nhuốm bạc, các chị thì có khéo mấy cũng không che giấu được vết chân chim bên khoé mắt. Có những người anh em cột trụ đã được Chúa gọi về Nước Chúa, như: Bác Trần Tứ Cảnh, Bác Trần Ngọc Liên đều hưởng thọ trên dưới 90, và Bác Kim chưa đến ngưỡng cửa 75, khi còn sống các bác rất nhiệt tình với nhà Dòng, không khi nào quên công ơn dưỡng dục của các cha người Canada và Việt Nam.

Tại Sydney, anh Nguyễn An Bình có thể là niên trưởng, vì anh cùng lớp với cha Cao Đình Trị nguyên là Giám Tỉnh Việt Nam rất nhiều kỳ, và cha Bùi Thông Giao, Nguyễn Văn Hành… Tóc anh Bình nay đã bạc trắng, tuy không đi họp thường xuyên, nhưng tâm tình vẫn vô cùng sâu đậm với nhà Dòng, với anh em.

Vị tiếp theo có thể là anh Huỳnh Công Lợi, người học cùng lớp với các cha Vũ Khởi Phụng, Nguyễn Thành Tâm, Nguyễn Đức Mầu, Trần Sĩ Tín, Trần Ứng Tường. Anh Lợi nay đã vượt mức 70, nhưng vóc dáng anh vẫn còn cường tráng, nhậm lẹ và nhất là anh hoạt động trong các hội đoàn Công giáo Sydney không ngừng nghỉ. Tiếp theo anh Lợi, có thể là Mây Chiều, cùng lớp với anh Trần Ngọc Tá, Lm Tiến Lộc DCCT, Lm Nguyễn Minh Sang DCCT. Mây Chiều bề ngoài trông còn phong độ, nhiều người lầm tưởng anh đang ngấp nghé tuổi 70, nhưng thực ra tính theo tuổi ta thì anh vừa vượt cái tuổi “thất thập cổ lai hy”, rồi.

Còn anh Trần Ngọc Tá, một cây bút sắc bén, mỗi tuần đóng góp đều đặn các bài suy niệm Tin Mừng cho các chủ nhật và còn viết sách Chuyện Phiếm Đạo Đời, phân phát miễn phí cho bất cứ ai muốn đọc. Anh quả thực rộng rãi, đã về hưu nhưng anh hoạt động trí óc như một thanh niên đầy sức sống.

Còn những anh em khác ở Sydney, thì nay cũng ngấp nghé ở cái mức 50 hặc 60 hoặc hơn nữa. Chính cha Mai Văn Thịnh DCCT đã nói lên một nhận xét rất hay, là: cha cứ tưởng gia đình An Phong đã “dẹp tiệm” rồi, ai dè càng ngày càng thấy mạnh mẽ, mặc dù thành viên số lớn nay đã vào cái tuổi xế chiều rồi.

 

Cách xa Sydney cả mấy ngàn cây số, ở tại Adelaide xa lắc thì có bác Nguyễn Anh Cung, bác ở vào cái tuổi trên 80. Nhưng thấy Bác vẫn còn khoẻ, và mỗi khi có dịp về Sydney thăm con cháu, Bác đều tới sinh hoạt với Gia đình An Phong nếu đúng dịp. Con cái của Bác Cung là anh Nguyễn Anh Phương cũng sinh hoạt với anh em rất thường.

20 năm nhìn lại vào dịp này, xem ra anh chị em vẫn còn linh động, nhậm lẹ; nhưng, nếu còn có 20 năm nhìn lại vào dịp tiếp theo, thì tình thế sẽ ra sao? Theo Mây Chiều nghĩ, nếu có, thì một số lớn anh em đã bước vào cái tuổi 80 hoặc 90; và lúc đó, thì lớp già xem ra “out of date” mất rồi, nếu như vẫn còn hiện diện trên cõi đời này.

Phải. Cuộc đời là thế đấy. Có bắt đầu thì có kết thúc, có hợp thì có tan. Chỉ mong mỗi người đều sống đời sống đích thực của mình. Nếu Chúa giao cho mình 3 nén bạc, thì mình phải tìm cách sanh sôi thành 6. Nếu Chúa giao cho mình 1 nén bạc, mà mình lại không tìm cách sanh lời gấp hai, mà lại đem chôn cất đi, để rồi khi Chúa hỏi, mình sẽ trả lời sao đây? Hay, như trong Phúc Âm, người không sanh lợi sẽ bị tước mất phần để giao thêm cho người biết sanh lợi, còn người không sanh lợi sẽ chẳng được gì ngoài hai bàn tay trắng.

 

Mây Chiều. 

 

 

Ghi nhanh về một sự kiện, ở Úc

 

L.T.S.

Cộng đoàn Tỉnh Dòng Úc lại có thêm một tin vui.

Tin về buổi lễ thụ phong Linh mục của một thành viên từ Việt Nam,

Phó tế Antôn Trần Xuân Anh

 

 

Đường phố Melbourne đẹp thật, cây xanh mát mắt, nắng sáng long lanh như mừng một ngày mới. Người người hãy còn vui say với không khí lễ hội Melbourne Cup mấy ngày trước nên ai ai cũng "vui như tết".

 

Hòa với dòng người vui vẻ đó có Cha Hồ Đắc Tâm, Cha Nguyễn Ngọc Bích đến từ Việt Nam, và có anh chị Mai Tá, Anthony (con anh chị Mai Tá), Phương Anh ( bà xã của Lâm ) và vợ chồng tôi, từ Sydney đến tối qua, không phải để chung vui trể với lễ hội của Melbourne Cup mà là chung vui, hiệp thông với với Hội Thánh Công Giáo, Tỉnh DCCT VN và Tỉnh DCCT ÚC nhân lễ thụ phong Linh Mục của Anthony Trần Xuân Anh sáng nay 10-11-2012 lúc 10:30 tại nhà thờ Our Lady of Good Counsel Church, Deepdene.

 

Deepdence thuộc về khu nhà giàu ở Melbourne, nên nhà thờ rất lớn và rất đẹp, bao quanh nhà thờ là những con đường với hàng cây xanh mát yên tỉnh, nhà cửa thật khang trang sang trọng toát ra vẻ trưởng giả.Một giáo xứ giàu có, đó là nhìn về bề thế bên ngoài, nhưng theo cảm nghỉ của tôi thì giáo xứ này cũng giàu về đức tin, bằng chứng là nhà thờ đầy nghẹt những người là người, bên những mái đầu đen cùng dân tộc tôi dân địa phương chiếm phần đa số, và đó là điều làm cho tôi mũi lòng muốn khóc, thì ra vui mừng quá cũng làm người ta khóc được nữa. Vui vì nơi đây, trong nhà Chúa, chúng tôi cùng nhau như người một nhà không còn phân biệt đẳng cấp, màu da, giàu nghèo. Tay bắt mặt mừng cùng hiệp thông dâng lời cảm tạ Chúa đã chọn lựa và lát nữa đây chúng tôi có thêm một vị Mục Tử nữa, chúng tôi cùng cât cao lời xướng ca chung vui với các Thiên Thần trên trời hoan hô Vinh Quang Chúa. Thậy vậy, cười thật tươi mà nước mắt rưng rưng trong nổi vui mừng.

 

Bắt đầu Thánh Lễ với một đoàn dài các Linh Mục đồng tế, tìm trong các vị Linh Mục đi ngang- không thấy Cha Thịnh của mình! Ủa Cha đâu rồi cà, lát sau thấy Cha ngồi ở hàng ghế cuối nhà thờ, Lạy Chúa, xin Chúa tha lỗi chưa gì con đã chia trí rồi!

 

A Đức Giám Mục sẽ phong chức Linh Mục cho Thầy Tuấn Anh là Paul Bird của DCCT Úc, tôi biết Ngài.....mà Ngài không hề biết tôi! Số là hồi cuối tháng 10, có Cha Thao, đại diện Cha Giám Tỉnh, từ VN đến Úc dự lễ tấn phong Giám Mục cho Cha Paul Bird, đó là lần đầu tiên tôi "biết" Ngài và lần này là lần thứ nhì....Thánh lễ hôm nay do ca đoàn Filipno hát rất mạnh và rất hay trong niềm hân hoan.

 

Sau phần Phúc Âm là phần nhi thức về lễ phong chức Linh Mục, Cha Patrick Corbett gọi Anthony Xuân Anh đến và đề cữ, Đức Giám Mục tuyển chọn và sau đó Anthny Xuân Anh được gìới thiệu đến với cộng đồng, mọi ngươì vổ tay trong sự vui mừng.

 

Sau huấn từ của Đức Giám Mục,Xuân Anh tuyên hứa dâng mình cho Thiên Chúa, trung tín trong việc ban các Bí Tích mầu Nhiệm của Thiên Chúa, giảng dạy lời Chúa cũng như hứa vâng phục và luôn kính trọng các đấng bề trên.

 

Xuân Anh được giới thiệu với cộng đồng như là một món quà từ Thiên Chúa ban tặng cho chúng ta và bây giờ Anthony Xuân Anh Trần được chọn làm Linh Mục DCCT. Công đồng quỳ gối cùng hiệp thông cầu bầu với các Thánh trên trời nâng đở Xuân Anh trong nhiệm vụ nặng nề sắp tới. Trong khi đó Xuân Anh cũng sấp mình trên Cung Thánh cùng cầu bầu với Các Thánh nâng đở mình trong sứ mạng tông đồ mới, một Linh Mục DCCT, một Xuân Anh nhỏ bé thấp hèn nay đã được nâng cấp nối tiếp sứ mạng của các vị Tông Đồ, và với quyền năng cầm buột thế gian mà Thiên Chúa ban cho.

 

Xin Chúa luôn che chở và nâng đở Xuân Anh như trước đó và sau này.

 

Các Linh Mục lần lượt tiến lên mổi người đặt tay trên đâu Xuân Anh trong thinh lặng, nghi thức này được xem như là Tuấn Anh đã chính thức là Linh Mục. Xin chào mừng Cha Anthony Xuân Anh Trần CSsR. Nướt mắt tôi ướt mi trong niềm vui của sự lặng thinh này, tôi có cảm nghỉ như rồi đây mọi thử thách mới sẽ đang chờ vị Linh Mục trẻ này, thử thách của quyền lực mà Thiên Chúa vừa ban tặng, quyền lực đó rất lớn, vô cùng lớn, Xin Chúa Thánh Thần luôn soi sáng Cha mọi lúc mọi nơi để cho Cha chu toàn được công việc mà Thiên Chúa vừa giao phó cho Ngài cũng như giữ tròn được những lời mà Ngài vừa tuyên hứa hôm nay, khi nãy.

 

Nghi thức được tiếp tục dâng lên với khăn choàng và áo lễ, Cha Xuân Anh đã mặc áo lễ với khăn choàng và hẳn là sẽ có Chén Thánh nữa chứ.

Tiếp đến Ngài đã được Đức Giám Mục xức dầu lên hai bàn tay ,tôi không hiểu tại sao như vậy, chắc là ngoài việc dâng mình cho Thiên Chúa, quan trọng nhất vẫn là Thánh Hiến đôi bàn tay của Ngài cho Thiên Chúa, để từ nay Ngài có thể thay mặt Thiên Chúa dùng tay Ngài ban bình an, bí tích cũng như hiến tế Thánh Lễ mổi ngày chăng.Và Chén Thánh nay được trao. Tôi cứ cho là như vậy và cứ nghỉ là như vậy, trật trúng Cha Thịnh sẽ nói cho biết.

 

Các Cha ôm nhau trao nhau sự bình an.

 

Sau đó Cha Xuân Anh cùng dâng Thánh Lễ đồng tế. Phần rướt lễ.

 

Cuối Thánh Lễ Cha Xuân Anh đã phát biểu đôi lời cảm tạ và xin mọi người tiếp tục cầu nguyện cho Ngài trong chức vụ Linh Mục mà Ngài mới nhận lãnh hôm nay. So với hôm Cha đến Sydney trong lễ giổ Thánh An Phong của Chi Hội Sydney thì hôm nay Cha ăn nói lưu loát hơn, có lẽ có Chúa Thánh Thần hổ trợ.

 

Cha cũng mời cộng đồng sau lễ qua hội trường ăn nhẹ đồng thời theo truyền thống Cha cũng có Thánh Lễ mở tay tại nhà thờ này ngày mai Chủ Nhật 11-11-2012 vào lúc 10 giờ 30 sáng đồng thời cũng ban phép lành cho những ai không có dịp tham dự Thánh Lễ mở tay ngày mai như trường hợp của Phương Anh phải về lại Sydney vào chiều nay.

 

Phần ẩm thực bên hội trường thật phong phú, tôi nghỉ là chật nhà thờ như thế ít ra cũng cả hơn 500 người nhưng ai cũng được ăn rất no và rất ngon, nghe đâu đó là do Cha Thịnh mình có tài "hô biến" cũng như nhờ công không nhỏ của anh chị Tuyên (xin lổi nếu tôi lầm tên) là em ruột của Cha Giám Tỉnh bên VN phụ trách phần ẩm thực.

 

Xin cám ơn Cha, xin cám ơn các anh chị đãi anh chị em chúng tôi một bửa ăn ngon. Ra về hẹn hôm sau gặp lại.

 

Hôm nay Chủ Nhật, chúng tôi trước khi đi lễ đã đem hành lý bỏ vào xe, lễ xong dzung dzăng một chút thì ra phi trường bay về Sydney để mai còn kịp đi làm ca 7 giờ sáng.

 

Hôm nay chúng tôi đến nhà thờ rất sớm, do để co thì giờ ngắm cảnh ở chung quanh nhà thờ mà hôm qua không tập trung xem cho lắm. Đẹp thật, nghe vợ chồng người em sinh sống ở Melbourne bảo " Nếu trúng Loto 1 triệu thì chhắc chỉ mua được cái nhà xe của họ thôi. Ối dào.....mơ.

 

Và Phúc Âm hôm nay...nói về "Hai đồng xu của bà góa"......Tuy nhiên có một điều tôi rất khâm phục là giáo dân ở họ đạo này đi lễ rất đông, rất thoải mái và thân thiện, một thứ thâm tình với nhau. Có nhiều nơi đi lễ hằng tuần với nhau , biết mặt nhau.có thể....nhưng chào hỏi thăm nhau thì chưa có. Vì đi đến nhà thờ sớm nên tôi thấy họ gặp nhau ngoài nhà thờ chào hỏi nói chuyện rất thân thiện với nhau.Đó là điề mà tôi thấy mình nên học hỏi họ.


Lễ xong, hôm nay chúng tôi cũng được mời ra hội trường nhà thờ ăn nhẹ buổi trưa.

 

Không hoành tráng như hôm qua, nhẹ nhàng, thân thiện nên có dịp nói chuyện với các anh chị chi hội GĐAP bên Melbourne cũng như có dịp mời Cha Bích và Cha Tâm vài hôm nữa đến thăm Sydney, Chi Hội Sydney xin đãi hai Cha một bửa ở nhà anh chi hội phó Phạm Văn Chương đã tình nguyện đãi đằn, cũng như hai anh Thành và Linh tình nguyện đưa hai Cha đi tham quan Sydney một ngày. Hoan hô tinh thần của các anh trong GĐAP Chi Hội Sydney mình.

 

Trên chuyến bay về lại Sydney, tôi suy nghỉ nhiều về ơn gọi làm Linh Mục, có gọi, có thưa, cũng có hồi. Cũng có xin vâng và cũng có xin thôi. Nhưng tựu trung với cảm nghỉ của mình, tôi thấy người đời hay ca ngợi Thiên Chức làm Mẹ là nhiều, nhưng theo tôi Thiên Chức làm Linh Mục vĩ đại hơn nhiều, bởi như Linh Mục thì quá ít mà giáo dân thì quá nhiều, thời giờ của các Ngài quá ư là bận rộn, các Ngài vui buồn theo từng hoàn cảnh của mổi người mổi lúc, các Ngài còn có công việc của các Ngài nào truyền giáo nào phuc vụ nào ủi an....rồi các Ngài cũng có song thân phụ mẩu gia đình họ hàng cần chăm sóc hay thăm nom, các Ngài cô độc , đồng hành với các Ngài chỉ có Chúa, đấng đấy quyền năng nhưng vô hình, để đối thoại được với Chúa ...hẳn các Ngài phải ...độc thoại rất lâu. Thiên Chúa ban cho các Ngài nhiều quyền bính, nào phép tha tội, nào Bí Tích Thánh Thể, Bí Tích Hôn Phối....nào phải bác ái phải yêu thương .....bù lại bản thân các Ngài thì không có thì giờ chăm sóc cha mẹ người thân, phải sống khó nghèo, độc thân......Cầu xin Chúa Thánh Thấn luôn hổ trợ các Ngài và xin Chúa ban cho các Ngài luôn được đồng hành và đối thoại được cùng với Chúa trong những Thánh Lễ mổi ngày.

 

Cuối cùng tôi cũng nguyện cầu Chúa cho Cha Anthony Xuân Anh Trần luôn ghi nhớ được cảm xúc cùng lời khấn hứa của mình khi nhận ơn thụ phong Linh Mục để làm đẹp lòng Chúa trong công việc mà Chúa giao. Linh Mục DCCT.

 

Nghe thoang thoảng có lời ca ....Chúa không lầm khi Ngài đã chọn con.......

 

Tôi vừa có một cuối tuần thật đẹp.

tkp

 

DAY DỨT MÃI KHÔNG THÔI…

Hôm qua, chúng tôi, một nhóm kiến trúc sư, nhà điêu khắc và họa sĩ làm việc với nhau về một số công việc thuôc lãnh vực mỹ thuật tôn giáo. Trong buổi làm việc, có nhiều lúc tán gẫu lo ra chia trí, anh em đề cập đến sự ra đi của cha già Chân Tín, câu chuyện miên man sang lãnh vực văn học mà cha già là một nhân vật “có tiếng”, lớp “có tuổi” chúng tôi nói về báo Tuổi Hoa, nói về những dấu ấn của Tuổi Hoa trên thời hoa niên của chúng tôi ngày ấy.

Ngày ấy, Tuổi Hoa hấp dẫn chúng tôi lắm, những câu chuyện, những trang báo theo chúng tôi vào cả nhật ký, vào cả “lưu bút ngày xanh”. Những tựa đề của những câu chuyện Hoa Xanh, Hoa Đỏ và Hoa Tím quanh quẩn bên chúng tôi cả ngày. Nào là “Đường vào hang cọp”, “Chiếc xe thổ mộ”, “Tiếng chuông dưới đáy biển”, “Triều Tiên khói lửa”, “Tài xế Suzuki lý tưởng”, “Chiếc mai cua đốm”… Chúng tôi hãnh diện và biết ơn cha già đã được ơn Chúa thiết lập tủ sách Tuổi Hoa để góp phần giúp giáo dục tuổi trẻ chúng tôi…

Thế rồi đang giữa câu chuyện rôm rả lan man, một bạn nhắc đến một tác giả thời ấy, nay đã có tuổi, đã chuyển từ nghề viết văn cho bọn trẻ sang vẽ tranh và mở tiệm ăn toàn các món Huế, thế là cả bọn chúng tôi hưởng ứng kéo nhau đi “thực địa” một chầu cho vui !

Một khi có vài ly Huda và các món Huế đưa cay, câu chuyện càng trở nên hấp dẫn hơn, không có chủ đề chính nào cả, nên cứ tùy vào… “năng động tập thể” dẫn dắt. Một bạn kiến trúc sư đang giúp thi công hai Nhà Thờ cho người dân tộc ( một cho người K’hor và một cho người J’rai ) kéo anh em vào những cảm xúc riêng của mình.

Bạn tâm sự, ban đầu nhận các công trình tôn giáo như thế cũng chỉ vì muốn có việc làm cho công ty và cũng muốn đóng góp một chút vào việc xây dựng Nhà Thờ như tâm nguyện từ ngày tốt nghiệp, nhưng đến khi vào thực tế và được theo các cha đi sâu hơn nữa vào các bản làng anh em dân tộc thiểu số thì cảm thức bắt đầu đổi khác, bạn cảm thấy cần phải làm một cái gì đó chứ không thể cứ sống mãi như lâu nay.

Bạn kể… Trời chập choạng tối, chiếc xe hai bánh của cha loạng choạng vật vã trên một cung đường khá dài, lầy lội trơn trượt, đến nơi thì thấy đám con cái dân tộc ngổi hai bên đường chờ, họ ngồi bệt xuống đất trong một vùng tối đen chỉ một ánh đèn tròn mờ mờ vì điện yếu. Thánh Lễ được cử hành giữa bản làng nghèo nàn, không đàn nhạc, chỉ có mỗi âm thanh rọt rẹt của một ampli cũ rích, nghe tiếng được tiếng không, “Nhà Thờ” là một vùng đất trống che tấm bạt, không một chiếc ghế dù là ghế nhựa cho Giáo Dân ngồi... ( Ảnh chụp: Ngôi Nhà Thờ bằng gỗ của người dân tộc Stiêng buôn Bù Dó, huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước )

Đêm đó bạn ở lại ngôi làng được cha đến dâng Lễ, sáng hôm sau bạn được Cọ Kun ( trưởng làng ) mời ăn sáng tại nhà Cọ Kun, bạn đã rơi nước mắt khi Cọ Kun “đãi” bạn món bánh mì chấm sữa Ông Thọ, bạn nhớ lại thuở niên thiếu, bạn thích thú thế nào khi rưới sữa Ông Thọ vào giữa ổ bánh mì ăn sáng, bây giờ nó là món ngon và hiếm mà Cọ Kun để dành chỉ đãi riêng khách quý… Bạn còn kể về nỗi sợ hãi kinh khiếp khi chứng kiến tập quán sống trên nhà sàn của người anh em dân tộc, mọi thứ thải ra cứ việc tuôn từ trên xuống dưới nhà sàn…

Bạn nói mình phải làm một cái gì đi chứ ! Bạn xót xa và tâm nguyện từ bây giờ cho đến Giáng Sinh, bạn kêu gọi mọi người và quyết tâm có được, ít là mỗi Giáo Điểm nghèo như thế phải có một cái ampli đàng hoàng để nghe được Lời Chúa. Một bạn khác buột miệng tếu vào một câu: “Đơn vị tính của xây dựng là 10 triệu, dư sức góp !” ( của đáng tội, bữa “nhậu” hôm nay cũng sơ sơ 3 triệu ).

Không khí trùng hẳn khi bạn nói về lối sống sa hoa phung phí của nhiều nơi… Bạn thở dài về thông tin một Nhà Thờ ở thành phố bỗng dưng cha con “nổi cơn” dỡ toàn bộ gạch nền đang còn rất tốt rất đẹp của cả Nhà Thờ lát lại cho nó… hợp thời trang, thế thôi, kinh phí cũng đã ngót nghét 1 tỷ, trong khi mỗi ngôi Nhà Thờ xây dựng hoàn chỉnh ở miền sâu miền xa chỉ dám nghĩ đến từ 3 – 4 tỷ là cùng !

Có một Nhà Thờ khác bỏ toàn bộ 14 chặng Đàng Thánh Giá cũ ( nhưng còn mới ) bằng composit để đúc lại bằng đồng, chắc hắn kinh phí không nhỏ, nhưng đau đớn ở chỗ dùng bộ cũ làm khuôn nên bộ mới bị biến dạng hoàn toàn, tác giả bộ cũ ngồi tiếc ngẩn ngơ công trình của mình. ( Ảnh chụp: một ngôi Nhà Thờ hoành tráng vừa khánh thành ở Sàigòn ).

Câu chuyện lan man sang đến lối sống của Linh Mục, một vấn đề nhạy cảm mà người viết đến đây không dám kể lại nữa. Anh em họ thấy được sự cách biệt trong cách sống, lối sống, nếp sống, mức sống của các Linh Mục miền sâu miền xa với các Linh Mục thành phố, anh em họ thở dài !

Trước khi chia tay, anh em họ “đồng ý, nhất trí cao”, sẽ phải tổ chức cho anh em cả nhóm cùng lên miền dân tộc, sống kinh nghiệm cái nghèo, cái khát khao Lời Chúa, phải cùng đưa gia đình lên nữa để giáo dục con cái và nhất là thắp lửa truyền giáo cho chính mình và gia đình mình. Không thể mãi sống vô cảm như vậy nữa !

Xin Chúa chúc lành cho anh em, cho ý hướng tốt lành của anh em…

Lm. VĨNH SANG, DCCT, Lễ Mẹ Vô Nhiễm 2012

 

Hỏi ... tháp Eiffel bao nhiêu tuổi đời?

“Hỏi gió phiêu du qua bao đỉnh trời?”

(Trần Trịnh - Hà Huyền Chi: Lệ đá)

_____________________________________________________________________________________

Cảm tác viết cho riêng mình nhân chuyến Tây du năm 2010

Anthony Trần Đàm Việt Quốc

 

Tôi không biết hai nhạc sĩ Trần Trịnh và thi sĩ Hà Huyền Chi có đến Ba Lê chưa. Nhưng tôi tin chắc hai ông cũng sẽ tự hỏi mình nhiều câu vớ vẩn giống như tôi hôm ấy. Đứng dưới chân một kỳ quan của thế giới hiện đại kia, ai mà chẳng có phút mềm lòng, thả hồn mình theo từng ngọn gió mát, bay đến chốn chân trời xa, như thi sĩ Vũ Hoàng Chương đã làm thuở nào:

 

“Thiếc Tháp hờn trăng lạnh lẽo ngồi.

Em ạ, Paris toàn sắt đá,

Lòng đau, Sắt nọ Đá này thôi!”

(Vũ Hoàng Chương - Em chỉ là mây)

 

Vì nói đến cảnh vật Ba Lê mà không nói đến tháp Eiffel thì cũng như nói đến cảnh vật Hà Nội mà không nói đến tháp Rùa ở Hồ Gươm vậy. Tháp Eiffel, hay còn gọi là Thiếc Pháp, là một biểu tượng mang tính nghệ thuật nổi bật nhất của Kinh thành Ba Lê nói riêng và của nước Pháp nói chung. Tháp Eiffel ngày nay vừa là tháp vô tuyến truyền thanh và truyền hình, vừa là điểm du lịch thu hút nhiều khách ngoại quốc đến tham quan. Vì thế, ngay từ lần đầu ghé thăm Pháp cách đây 4 năm, tôi đã không bỏ lỡ cơ hội lên xem tận mắt tòa tháp cao sừng sững ấy. Lần nay thì thời gian không cho phép, tôi chỉ đành chiêm ngưỡng bóng dáng oai hùng của nó thoáng ẩn hiện sau những rặng cây dọc theo bờ sông Seine thơ mộng mà thôi.

Từ lúc khởi dựng vào ngày 28 tháng Giêng năm 1887, tháp đã được xem là một kỳ công có một không hai trong nghệ thuật kiến trúc bằng sắt. Phải mất 2 năm, đến ngày 31 tháng 3 năm 1889 tháp mới được hoàn tất. Với độ cao 324 thước tây (tính cả cột ăng- ten), tháp đã từng được bầu là một trong những công trình cao nhất thế giới cho đến thập niên 1930s. Tháp nặng cả thảy là 7 triệu kí lô, trong có 12 nghìn mảnh sắt nối lại với nhau bằng 2 triệu rưỡi cây đinh sắt. Dưới chân có 4 cái bệ bằng đá, móng mỗi cái rộng là 26 thước vuông và chôn sâu xuống đất đến 14-15 thước. Nghĩ kiểu và đốc công là viên kỹ sư thiết kế Gustave Eiffel, cho nên lấy tên ông mà đặt tên tháp.

Như một thành phố nhỏ thu gọn ở trên không trung, tháp được chia làm ba tầng, giá vé lên tháp tính theo đầu người và tùy theo tầng cao thấp mà khách muốn tham quan. Đắt nhất là tầng trên cùng phải đi lên bằng thang máy, rẻ nhất là đi bộ lên cầu thang đến tầng đầu tiên. Tầng dưới nhất cách mặt đất 57 thước, tầng giữa 115 thước, tầng trên thì 275 thước. Càng lên cao càng nhỏ dần, và trên đỉnh tháp có một gác lầu bé con dùng làm trạm truyền thanh và truyền hình phát sóng ra toàn quốc. Ở tầng dưới và tầng giữa, đi chung quanh rộng như đường phố, có cả nhà hàng sang trọng, quán nước, cửa hàng bán đồ lưu niệm, lại có cả hội trường nhảy đầm nữa.

Và cứ thế, tôi để lòng mình trôi theo với dòng người lũ lượt mua vé lên tầng trên cùng, được dịp ngắm nhìn cảnh đô thành hoa lệ cho thỏa chí mơ ước từ bấy lâu nay. Phóng tầm mắt ra xa, tôi nhìn thấy tượng Nữ Thần Tự Do của Pháp chỉ còn là một dấu chấm nhỏ giữa không gian đầy những cảnh sắc tuyệt mỹ. Tôi còn được biết thêm rằng, người Mỹ đã phô phỏng tượng nữ thần tự do của Pháp mà đúc nên khối tượng đồng nổi tiếng thế giới cho thành phố Nữu Ước sau này. Chắc hẳn người Mỹ cũng có tham vọng biến Nữu Ước thành Ba Lê thứ hai, trung tâm quyền lực thế giới chăng?

Đứng từ đỉnh tháp mà nhìn xuống cái vườn hoa ở dưới đất không khác gì như khúc vải thổ cẩm, mảnh vuông mảnh tròn thật muôn màu sặc sỡ, lại trông các xe hơn chạy dưới đường mà như những con mối nhỏ li ti bò trên trần vậy. Đứng đấy mà chiếu ống viễn kính nhìn xuống, thì có thể thu toàn cảnh Ba Lê vào trong tầm mắt. Tôi bất giác suy nghĩ mông lung về hai thế giới Đông Tây thường hay ở thế đối lập nhau, như âm với dương, như nước với lửa. Người Tây đã tốn không biết bao nhiêu tiền của để xây nên cái tháp này, chẳng qua chỉ dùng làm món đồ chơi lạ để trang sức thêm cho chốn phồn hoa náo nhiệt mà thôi.  Thế mà tháp đã cao gần chọc trời, đáng kể là một kỳ quan của nhân loại thời kỹ thuật hiện đại. Nhưng tôi nghĩ đời sống tiện nghi vật chất của người Tây phương xem vậy mà chưa chắc đã đi đôi với hạnh phúc tinh thần cần phải có của con người. Sự tôn trọng tự do cá nhân quá đáng nhiều khi cũng có những hậu quả không tốt của nó, đưa đến căn bệnh trầm kha, bất trị trong xã hội.

Những cảm xúc bộc lộ quá dễ dàng cũng hời hợt như những bong bóng nước, chợt nổi, chợt tan. Đời sống vội vã quay cuồng theo nhịp kim đồng hồ, để rồi một ngày nào đó ta thấy mệt mỏi, trống rỗng. Những lúc ấy, ta mới cảm nhận được cái hay của vài câu thơ cổ, mới thấm thía cái hương vị dịu dàng của chén trà thơm uống trong tĩnh lặng, nhàn nhã.

 

Biết đủ, là thấy đủ, bao giờ mới đủ?

Biết nhàn, là thấy nhàn, đợi nhàn, bao giờ mới nhàn?

Nguyên văn chữ Hán:

Tri túc, tiện túc, đãi túc, hà thời túc?

Tri nhàn, tiện nhàn, đãi nhàn, hà thời nhàn?”

(Nguyễn Công Trứ: Chữ Nhàn)

 

Còn người Á Đông chúng ta lại sống khác hẳn, thường thích chơi những hòn non bộ với cây uốn cành, thu giang sơn vào một góc nhà, lấy ba thước đất làm một cái tiểu thiên địa. Thú tiêu khiển của người Á Đông chúng ta thường hay chú trọng đến cảnh sắc thiên nhiên làm chủ đạo, hòa mình với đất trời mà tiêu dao tự tại như cụ Nguyễn Du đã từng trải qua:Nghêu ngao vui thú yên hà,

Mai là bạn cũ, hạc là người quen.

           

Chúng ta sống chủ về nội tâm, cách bày tỏ cũng nhẹ nhàng, kín đáo, năng về tình cảm, ân nghĩa, nên ít khi có cảnh ‘bạo phát, bạo tàn’. Có mấy ai giải thích được rõ ràng thế nào là ‘nói mà không nói’, ‘nhìn mà không nhìn’ của Thiền Tông chưa nhỉ? Điều ấy chỉ có đương sự mới giác ngộ được mà thôi. Thật khác một trời một vực với tính thích hay khoa trương, chiếm đoạt thiên nhiên của người tây phương vốn chỉ trọng khoa học thực dụng. Họ chỉ thích lý luận sôi nổi, thích những ấn tượng mạnh mẽ của giác quan, có quan niệm rất rõ ràng mạch lạc về phải và trái, có và không. Tinh thần khoa học của người Tây phương khiến họ chỉ công nhận những gì mắt thấy, tai nghe, có thể kiểm chứng được. Và con người được coi như một cá thể độc lập, tách rời với những hiện tượng trong vũ trụ.

Trong khi đó, Đông phương luôn quan niệm rằng vũ trụ bao gồm con người, và con người cũng là một phần tử liên hệ mật thiết với vũ trụ. Những yếu tố có trong vũ trụ cũng là những yếu tố cấu tạo nên con người. Cho nên ‘Đạo’, tức chân lý của mọi hiện tượng trong vũ trụ, tồn tại sẵn trong mỗi con người chúng ta, và biết sống nương vào những định luật của thiên nhiên là sống hợp với lẽ đạo, mới có sự quân bình nơi thân và tâm. Người hiểu Đạo biết sống tùy duyên, tùy thời, thuận theo tự nhiên, bốn mùa tuần hoàn, mỗi mùa mỗi thức, hoàn cảnh tới đâu thì ứng phó tới đó. Không ôm ấp quá khứ, cũng không lo sợ tương lai, nên có thể ung dung tự tại, vững chãi vượt qua được mọi thăng trầm của kiếp phù sinh:

 

“Thu ăn măng trúc, đông ăn giá,

Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao.

Rượu đến gốc cây, ta sẽ nhấp,

Nhìn xem phú quý, tựa chiêm bao.”

(Nguyễn Bỉnh Khiêm: Nhàn-Bài số 49 trong Bạch Vân thi tập)

 

Nếu đi tu mà chỉ để thành chánh quả thì chắc khó thành vì còn mong là còn muốn, còn muốn là còn sợ, và từ đó sẽ mãi đắm mình trong bể khổ trầm luân. Sinh lão bệnh tử chẳng qua chỉ là sự chuyển hóa của từng giai đoạn trong kiếp người. Thế nên không nên sợ hãi cái chết, cái già, không còn tìm cách che dấu, chống lại nó. Trái lại hãy nên vui hưởng nó, đùa với nó, cười với nó. Các vị thiền sư ngộ được rồi thì ‘thoát vòng sinh tử’, thanh thản, an nhiên, tự tại. Không còn lo lắng, bứt rứt như Tần Thủy Hoàng đi tìm thuốc trường sinh bất lão. Cho nên một vị thiền sư Việt Nam đã viết:

 

“Có thì có tự mảy may,

Không thì cả thế gian này cũng không.”

(Thiền sư Từ Đạo Hạnh: Hữu không

Huyền Quang tam tổ dịch ra thơ Nôm)

            Hai cái tinh thần, lối suy nghĩ giữa Đông và Tây thật là khác hẳn nhau, và không ít người còn cho rằng hơn kém nhau cũng vì đó mà ra. Chuyện hơn kém, được thua giữa hai nền văn hóa lâu đời nhất thế giới ấy là công việc của các vị sử gia học thức uyên thâm, xin cho phén tôi miễn bàn nơi trang giấy này.

Tôi chỉ xin nói thêm rằng, trong vấn đề Đông và Tây thường gây tranh luận sôi nổi trong giới học giả, ngạn ngữ nước ta đã có câu dạy rằng: ‘Đứng núi này trông núi nọ’. Chắc có lẽ vì bản tính con người luôn luôn muốn thay đổi, không bao giờ biết hài lòng với những gì mình đang có. Tuy Đông và Tây như âm với dương, như tĩnh với động, âm không thể là dương, và dương cũng không thể là âm. Nhưng âm dương đều cùng chung một nguồn gốc do cha mẹ, tổ tiên mà ra, và có thể hòa hợp, hỗ trợ cho nhau để có sự quân bình, tiến hóa trong đời sống. Dù thấm nhuần văn hóa Tây phương đến mấy, bản chất con người Việt Nam vẫn còn đó, và những khuynh hướng, tình cảm trong tim không chỉ nảy sinh từ huyết thống gia đình giòng họ, mà còn mang nặng 4 ngàn năm truyền thống lịch sử văn hoá. Con người không thể nào chối bỏ cội nguồn của mình, vì chỉ ở đó, chúng ta mới tìm thấy sự thoải mái và an bình.

Dù Đông và Tây có khác nhau, nhưng trên phương diện nhân bản, con người vẫn là con người, với những bản năng và biểu lộ tình cảm như nhau. Nếu đến với nhau như những con người, và không chấp nhất đến sự khác biệt bề ngoài, con người sẽ dễ cảm thông được với nhau. Lúc bấy giờ, dù là núi Ba Vì, hay Hy Lã Lạp Sơn (Himlayas), dù là Mont  Blanc hay dãy Rocky Mountain đi nữa, thì núi nào cũng vẫn là núi, sông nào cũng là sông. Và chúng ta sẽ biết tận hưởng phong cảnh của ngọn núi mà chúng ta đang đứng ở trên đó.

 

“Mai...anh về giữa bến sông Seine

Paris có gì lạ không em?

Mai anh về giữa bến sông Seine.”

(Nguyên Sa/Ngô Thuỵ Miên -Paris có gì lạ không em?)

 

Nếu có dịp chúng ta đứng trên tháp Eiffel ngắm xuống cảnh Ba Lê về đêm, sẽ không thể bỏ qua một con sông thơ mộng đã tạo cho thành phố một cảm giác êm đềm, lãng mạn đối với du khách đặt chân đến nơi đây. Đó là sông Seine, nơi có những con tàu du lịch về đêm, đèn đuốc sáng trưng, ánh đèn bóng nước nhấp nhánh như sao, tựa như những cành hoa kết tầng trôi lờ lững trên mặt sông phẳng lặng. Sông Seine! Con sông trong cuốn trường thiên tiểu thuyết Những người khốn khổ (Les Misérables) của văn hào Vicotr Hugo, nơi đó tên cảnh sát quá ư cần mẫn đã gieo mình tự vẫn vì những mâu thuẫn giằng xé trong lương tâm hắn. Con sông trong ca khúc Paris có gì lạ không em của nhạc sĩ Ngô Thuỵ Miên, nơi chàng lãng tử thả hồn mình theo gìong nước để mơ về người tình bé bỏng năm xưa. Con sông trong thi phẩm Em chỉ là mây của thi sĩ Vũ Hoàng Chương, nơi hò hẹn dưới trăng thanh gió mát của biết bao đôi nhân tình:

 

“Lờ lững sông Seine mắt mở choàng,

Nhìn theo muôn mảnh nguyệt đi hoang.”

(Vũ Hoàng Chương - Em chỉ là mây)

 

Con sông Seine ẩn hiện trong nhiều tác phẩm văn học nghệ thuật khác nữa. Con sông trong trí tưởng tượng của tôi do quá trình nhiều năm nghiền ngẫm các tiểu thuyết lãng mạn, các nhạc phẩm trữ tình thêu dệt nên, tôi nghĩ nó phải vĩ đại lắm. Chí ít thì cũng phải cuồn cuộn những cát cùng bùn như sông Hồng của Việt Nam ta, hay phải rộng mênh mong đầy ắp phù sa như gìong Cửu Long yêu dấu. Nhưng không! Sông rất nhỏ hẹp, đi bộ qua cầu chỉ chưa đầy hai phút đồng hồ. Nước cũng không trong lắm, ban ngày có thể thấy rõ màu bẩn. Vậy mà nếu không có con sông lịch sử ấy, thì đô thành Ba Lê sẽ thiếu đi cái dáng vẻ kiêu kỳ, hoa lệ của nó.

Vì sông Seine chảy suốt từ đông chí tây, chia thành phố ra làm hai phần, có tính cách khác nhau. Bên hữu ngạn sông (Right bank) là chỗ phồn hoa náo nhiệt nhất, bao nhiêu những đường phố lớn, cung điện to, nhà lầu cao, hàng quán đẹp, đều tụ họp cả ở đấy. Bên tả ngạn (Left bank) và hai cái cù lao ở giữa sông (La Cité và Ile Saint Louis) là phố cổ nhất ở Ba Lê. Hồi nước Pháp còn là đất Gaule, thành Ba Lê còn là xóm Lutèce, nơi phát tích chính là ở hai cái cù lao này. Các bộ của chính phủ, các toà đại sứ của các nước, các biệt thự của những giới thượng lưu quý tộc, cùng các trường công lập nổi tiếng lớn nhỏ gom lại gọi là Xóm La Tinh (Latin Quarter) đều ở về bên tả ngạn này.

Sông Seine còn nổi tiếng về những cây cầu trang trí rất đẹp mắt, mà trong nội thành Ba Lê có đến hơn 30 chiếc với những kiểu dáng và màu sắc khác nhau, không cái nào giống cái nào, không thể nhầm lẫn được. Cầu thường được xây bằng gạch và trang trí bằng những tượng đá hình đầu các vị thần trong kho tàng thần thoại Hy Lạp. Nếu xét về số lượng cầu trên sông chảy qua một thành phố lớn thì sông Seine đứng hàng đầu:

 

“Cầu Neuf đằng xa buông thõng chân

Vào sông Seine, lắng tiếng vang ngân

‘Khoan hò... ‘Giọng hát buồn thê thiết

Ai nhớ nhung gì, Vân hỡi Vân.”

(Vũ Hoàng Chương: Em chỉ là mây)

            Ngoài ra, ở Ba Lê có một cảnh lạ khác nữa mà tôi dám chắc rằng ít có thành phố lớn nào trên thế giới có thể ‘ganh đua’ được, ấy là nhưng sạp bán sách cũ nằm ven bờ sông Seine ngay tại trung tâm thành phố. Trong quyển hồi ký của nhà văn người Pháp từng đoạt giải Nobel Văn Chương là Anatole France (1844-1924), “Le Livre de mon ami” (My Friend’s Book, 1885)

(Quyển này đã có bản dịch Việt ngữ:Quyển chuyện của bạn tôi - dịch giả Võ Thị May & Lê Ngọc Trụ),Tủ sách dịch thuật, nxb Bộ Quốc Gia Giáo Dục, Sài Gòn, 1962),

 

tác giả đã có tả cảnh bán sách ấy một cách rất lý thú, vì cụ thân sinh ra ông khi xưa đã từng làm nghề bánh sách cũ nơi đây. Sách cũ tập trung về bên tả ngạn sông, nơi có xây dãy tường thâm thấp như dãy bao lơn. Từ đó chạy dọc suốt từ cầu Saint Michel cho đến Cộng hoà trường (La Concorde),những người buôn sách cũ bày la liệt những sách cùng tranh ảnh vào trong những cái tủ dèm dẹp như hình cái hòm hay cái tráp đóng liền ở trên bao lơn, sáng mở ra, tối lại khoá lại.

Sách bán ở đây toàn là sách cổ hoặc sách cũ cả, không khác với chợ sách cũ đường Huỳnh Thúc Kháng, Hồng Thập Tự của Sài Gòn năm xưa là mấy. Người mua thường là những em học sinh, sinh viên, những nhà nghiên cứu. Họ còn là những ông đồ cổ của thời nay. Đến đây, du khách sẽ tha hồ ngắm nhìn cảnh những người mê sách giơ cặp mục kỉnh lên đứng hàng giờ lần giở những chồng sách cũ kỹ rách nát, lấy làm khoái lạc đến quên  cả ngày giờ không muốn dời đi nửa bước. Đó là một cảnh tượng hết sức ấn tượng cho con nhà hiếu cổ mê sách như tôi, và cũng thật đáng khâm phục cho một xứ sở tân tiến như nước Pháp đây. Giữa thời đại kỹ thuật với những chiếc máy bay, xe hơi tối tân nhất liên tục được phát minh ra, nhưng ở nơi góc phố ven sông này, vẫn có những người hiếu cổ hết lòng muốn bảo tồn lấy một nét sinh hoạt văn hoá cổ truyền của Ba Lê thời xưa.

 

“Hôn nhau phút này rồi,

Chia tay nhau tức khắc.

Khóc đi em, khóc đi em,

Hỡi người yêu xóm học.

Để sương thấm bờ đêm

Đường anh đi tràn ngập lệ buồn em...”

(Cung Trầm Tưởng - Chưa bao giờ buồn thế)

 

Mải mê theo dõi người ta trao đổi các sách quý hiếm với nhau, tôi đã đến Xóm La Tinh (Quartier Latin) hồi nào mà không hay. Thường được gọi là khu hay xóm La - Tinh vì cho đến ngày Cách Mạng Pháp, các chương trình giảng dạy tại đại học hoàn toàn được dạy bằng tiếng La Tinh. Nhưng trong thi ca xứ Việt còn mang thêm cái tên thật ý nghĩa là ‘xóm học’, tượng trưng cho những mảnh đời du học sinh Việt Nam lưu lạc nới xứ người mà thi sĩ Cung Trầm Tưởng và nhạc sĩ Phạm Duy đã gói ghém trong nhạc phẩm Tiễn em bất hủ. Vì đây là nơi tụ họp của giới học sinh, sinh viên, trong đó chắc cũng có không ít các em du học sinh Việt Nam được cha mẹ gửi qua đây du học. Kẻ học giỏi cũng có, mà kẻ học dở cũng có. Và cũng có luôn những công tử con nhà đại gia, mượn tiếng du học để qua đây đem tiền cha mẹ đi lãng phí ở một nơi phồn hoa đệ nhất thế giới thì cũng không phải là không.

Ở Xóm La Tinh này có một con đường vui nhộn nhất gọi là Boulevad Saint-Michel, mà bọn học sinh thường hay gọi tắt là ‘Boul Mich’. Và lạ lùng nhất là người ta chỉ đua nhau đi trên một hè phố bên trái tính từ sông Seine đi lên, còn bên phải thì thưa thớt, hỏi tại sao thì không ai biết. Ở đấy, cứ chập tối cho đến quá nửa đêm là các quán cà phê, quán rượu dọc bên hè trái phố chật ních những người ngồi, phần đông là các sinh viên ra đó tiêu khiển, hút điếu thuốc, uống ly ngọt. Cũng có khi tình cờ gặp bạn tri kỷ, ngồi đối diện đấu vui với nhau, nồng nàn dan díu, thật là những dịp cho ‘trai anh hùng, gái thuyền quên’ tỏ tình với nhau như cụ Nguyễn Du trong tác phẩm Đoạn trường tân thanh bất hủ. Nhưng các tay anh hùng ở đây toàn là những anh hùng còn đợi thời cả, và phần nhiều cũng nhẹ túi. Cho nên tuy dan díu tình duyên cho tiêu sầu giải muộn mà chưa dám miệt mài trong cuộc truy hoan như những khách ăn chơi khác. Còn bậc thuyền quyên thì vì đã ham cái phong vị ‘anh đồ’, cam lòng làm bạn với sinh viên, nên cũng không có thói yêu sách quá đáng như những phụ nữ khác trong giới có học thức.

Cho nên, xóm Saint-Michel này tuy cũng là chốn ăn chơi, nhưng là chỗ ăn chơi của bọn sinh viên, có cái phong vị khác biệt với những chốn ăn chơi khác. Ngày nay, mặc dù số lượng du khách tới đây tham quan khá đông đảo, và các cửa hàng bán áo quần thời trang đã bắt đầu mọc lên xen kẽ với những tiệm sách, quán ăn, nhưng vẫn không làm mất đi cái dáng vẻ đáng yêu của khu sinh viên trí thức lúc nào cũng lạc quan với đời trước mặt. Thời nào, nước nào cũng vậy, ở khu này bạn sẽ luôn gặp các anh chị sinh viên hồn nhiên đi giữa phố xá mà hát hò vui nhộn. Nhát quỷ, nhì ma...mà!

 

Nhà thờ Đức Bà Ba Lê( Notre Dame de Paris)

 

“Tấu lạy Bà, lạy Bà đầy ơn phước,

Cho tình tôi nguyện vẹn tợ trăng rằm.”

(Hàn Măc Tử: Thánh nữ đồng trinh Maria)

 

Tôi nhiều lúc suy nghĩ bâng quơ rằng, giá như thi sĩ Hàn Mặc Tử được sang Pháp quỳ mọp dưới chân tượng Đức Mẹ ở nhà thờ Đức Bà Ba Lê mà cầu nguyện, biết đâu chừng sẽ được Đức Mẹ ban phúc lành chữa khỏi căn bệnh hiểm nghèo của ông cũng nên. Vừa đi vừa cảm nghiệm ánh nhiệm mầu của Đức Bà Maria, tôi cất bước qua khỏi đại lộ Saint- Michel để tiến tới về phía bên kia đường, nơi thuộc về địa phận nhà thờ Notre Dame de Paris, một địa chỉ hành hương không thể thiếu của Ba Lê. Khi đến gần, tôi mới nhận thấy rõ ngôi thánh đường này quả thật là to lớn nhất ở Ba Lê, và còn cho rằng nó đẹp nhất thế giới nữa. Có lẽ tôi bị các trang tiểu thuyết Thằng gù nhà thờ Đức Bà (The Hunchback of Notre Dame) của văn hào Victor Hugo làm cho mê hoặc rồi chăng? Nhà thờ ở Ba Lê thì vô số kể, lớn nhỏ kể ra phải đến hàng trăm ngôi, nhưng đạt đến trình độ tuyệt mỹ về nghệ thuật kiến trúc thời Trung cổ thì chỉ có ngôi thánh đường này thôi. Có nơi khác to lớn hơn nhiều, hoặc có một vài phần tuyệt, nhưng không đâu có được cái quy mô bề thế của quần thể kiến trúc kết hợp lại thành một khối hài hoà như bằng ở đây.

Victor Hugo đã vẽ trong trí tưởng tượng tôi một ngôi nhà thờ còn hùng vĩ hơn thế nữa, có tường đá bao bọc và cổng ngoài đồ sộ, lại được chút không khí bí hiểm như những chuyện cổ tích thời xưa. Tôi đã ngồi trước quảng trường rộng lớn nhìn ngắm ngôi thánh đường này thật lâu, lòng vẫn còn hồi tưởng bởi biết bao câu hỏi về những con người năm xưa, hồn nay ở đâu bây giờ: đâu là lầu chuông, nơi Quasimodo dấu nàng Esmeralda? Đâu là cái cổng mà đám ăn mày đã công phá năm nào? Đâu là dãy hành lang bên trên, chỗ Quasimodo đổ nước hắc ín sôi xuống? Đâu là khúc sông Seine đã từng chứng kiến lão giáo chủ Frollo đưa Esmeralda đi trốn? Đâu là bãi pháp trường treo cổ nàng kiều nữ ? đâu là cái máng xối mà tay giáo chủ đã bíu lấy trước khi rơi xuống chết tan xác? Đâu là hầm mộ tử tù từng chứa thi thể chàng gù quắp chặt xác nàng trinh nữ bất hạnh? mỗi câu trả lời, là lòng tôi lại dâng lên nỗi cảm xúc khó tả.

Nhà thờ được xây theo kiểu Gothique, khởi công xây dựng từ thế kỷ 13, sửa sang thay đổi mãi cho đến thế kỷ 14 mới hoàn thành, vì vậy mà đã kết nạp được các tinh hoa của nền kiến trúc thời trung cổ. Ngày nay, nhà thờ đã được tôn lên làm nhà thờ chính toà, hay còn gọi là Vương cung thánh đường (Cathedral) của Ba Lê, là trụ sở chính của Tổng Giáo phận Ba Lê, nên trong nội thất trang hoàng rất lộng lẫy. Đi một lượt trong nhà thờ, rồi vào phòng thánh (sacristy) ở bên hữu, là chỗ để kho tàng các vật quý giá của nhà thờ. Muốn vào đây xem, phải do linh mục dẫn vào cắt nghĩa từng món đồ cổ vật cho nghe, mỗi lần xem chỉ giới hạn cho một nhóm 15-20 người du khách thôi.

Đồ để trong kho toàn là đồ vàng ngọc, gấm vóc, đều có niên đại trên mấy trăm năm, mà mỗi món đồ đều có liên quan đến lịch sử giáo hội, hoặc của lịch sử nước Pháp nói chung. Chẳng hạn như trong chuyến vào thăm mùa hè năm 2006, tôi đã trông thấy tận mắt chiếc áo long bào của Hoàng đế Nã Phá Luân mặc khi chịu lễ đăng quang tại nhà thờ. Ngoài ra còn có một cây thánh giá bằng vàng của vua tặng cho nhà thờ sau buổi đăng quang ấy, và một bức hình Đức Chúa Giê Su làm bằng ngà, chạm trổ rất công phu. Những đồ tế khí làm bằng vàng bạc châu báu, thì nhiều lắm, nào là chén thánh (chalice), thánh thể (ciborium) hào quang (monstrance, tiếng Pháp là ostensoir). Còn những áo xiêm tế của các vị chức sắc trong nhà thờ thuộc về các đời trước, xếp đầy từng tủ, không biết bao nhiêu mà kể, trông cái nào cũng khảm đầy những vàng ngọc rực rỡ cả. Đến đây rồi, mới thấy nhà thờ Đức Bà ở Sài Gòn chỉ là phiên bản mờ của nguyên gốc mà thôi. Có chăng chỉ là gợi nhớ chút hoài niệm nơi du khách lưu lạc xứ người. Tuy nhiên cũng dâng lên trong tôi lòng nhung nhớ đến nhà thờ Đức Bà ở Sài Gòn, nơi tôi vẫn thường được được đến khi còn bé.

 

“Tiếng tơ réo rắt trong nhà Nguyện Thánh

Không gian như có giây tơ,

Bước đi sẽ đứt, động hờ sẽ tiêu.”

(Xuân Diệu: Chiều/Phạm Duy: Mộ khúc)

 

Xem xong nhà thờ Đức Bà, tôi vòng ra ngoài đi tiếp đến chỗ Toà án (Palais de Justice) để từ đó mới len vào xem được nhà nguyện Sainte Chapelle ở khuất trong sân sau. Vừa lúc có buổi hoà nhạc cổ điển sắp trình tấu ngay trong nội thất nhà nguyện, cả gia đình tôi bèn mua vé vào nghe, chỉ tốn có 8 Euro mỗi vé. Suốt gần 2 tiếng đồng hồ, dàn nhạc dây trình diễn liên tục các tấu khúc tiêu biểu nhất cho loại nhạc cổ điển như Tứ thời khúc (Four Seasons) của nhạc sĩ Antonio Vivaldi, Concerto dành cho ban nhạc dây của Johann Sebastian Bach  và Wolfgang Amadeus Mozart.

Cả hội đường đều im lặng ngồi nghe một cách say đắm, một phần vì lối kiến trúc nơi đây tạo ra những thanh âm vô cùng nồng ấm làm thỏa mãn khách sành điệu. Họ không cần dùng đến các hệ thống khuyếch-âm như máy vi-âm (microphone) hay loa phóng thanh (loudspeaker), mà cử toạ ngồi góc nào cũng có thể nghe rõ từng tiếng tơ réo rắt như đang chơi ngay kế bên mình. Cộng thêm với kỹ thuật trình tấu của các nghệ sĩ quá điêu luyện. Đây là một kỷ niệm nhớ đời của tôi về một Ba Lê văn hoá. Nói theo ngôn ngữ của cụ Nguyễn Du, tôi đoan chắc rằng nếu cụ có được dự buổi hoà nhạc hôm ấy, cụ cũng sẽ khen hay đến nỗi thánh nhân cũng phải  “vỗ đùi” (nếu quả là thánh cũng... vỗ đùi?) giống như tôi vậy! Chả thế mà chàng thi nhân họ Nguyễn đã từng ví von tiếng đàn qua 4 câu thơ ‘tuyệt bút’ sau đây sao?

 

“Trong như tiếng hạc bay qua

Đục như tiếng suối mới sa nửa vời

Tiếng khoan như gió thoảng ngoài

Tiếng mau sầm sập như trời đổ mưa.”

(Nguyễn Du: Truyện Kiều)

 

Buổi hoà nhạc đã chấm dứt rồi, mà dư âm vẫn còn vang vọng đâu đây. Chân bước ra về mà lòng dạ tôi hãy còn liên tưởng đến câu thơ của thi sĩ Tản Đà đã được nhạc sĩ Võ Đức Thu phổ thành nhạc:

 

“Cái hạc bay lên vút tận trời

Trời đất từ đây xa cách mãi

Cửa động

Đầu non

Đường lối cũ

Nghìn năm thơ thẩn bóng trăng chơi.”

(Võ Đức Thu phổ thơ Tản Đà: Tống biệt)

 

Sau này, tôi mới biết nguyện đường Sainte Chapelle là nhà thờ bé nhỏ do vua Louis thứ XIX xây nên từ thế kỷ 13, làm chỗ cất chứa các thánh tích gồm hơn 30 loại có liên quan đến cuộc khổ nạn của Đức GiêSu. Như chiếc mão gai Chúa đeo trên đầu trước khi bị đóng đinh trên thập giá, một mảnh thập tự giá mà Chúa vác lên đồi Golgotha, giải khăn sô mà người ta đã nhúng giấm để đưa Chúa uống cho đỡ khát trong cuộc khổ nạn, hoặc đầu mũi mác dùng để đâm Cháu chết trên cây thập giá. Tất cả thánh tích này đã được vua Louis mua lại từ Hoàng đế Baldwin Đệ Nhị của đế quốc Constantinople (thuộc Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay) vào năm 1239 với giá 125,000 quan Pháp, và do các giáo sĩ thành Venice đem đến trao dâng. Trong khi đó, số tiền quyên được để xây nguyện đường chỉ tốn 40 ngàn quan Pháp mà thôi.

Hiện nay, nhà nguyện không còn sở hữu các bảo vật này nữa. Chúng được cất giấu trong kho báu của nhà thờ Đức Bà do Đức Tổng Giám Mục ủy cho các Hiệp sĩ Mộ Thánh (Knights of the Holy Sepulchre) canh giữ. Mỗi chiều thứ Tư đầu tháng, các bảo vật được bày trên bàn thánh cho giáo dân sùng kính chiêm bái. Ngoài dịp ấy ra, chỉ có ngày Thứ Sáu Tuần Thánh (Good Friday) hàng năm mới được đem bảo vật ra tôn kính cả ngày. Lần cuối cùng mà các bảo vật ấy được cho phép xuất giá ra khỏi thánh đường là vào năm 2001, trong cuộc triển lãm tại viện bảo tàng Louvre, rất được công chúng hoan nghênh.

Nhà nguyện nằm ngay sát bên nội cung để dùng làm chỗ chiêm lễ riêng cho nhà vua và hoàng gia, chỉ có một tầng dưới và một  gác lửng nơi hậu đường. Tầng dưới thì để cho các quan đại thần, tầng trên thì dành cho vua chúa và các công hầu ngồi chầu lễ. Nhà nguyện tuy nhỏ, thấp, nhưng được chạm trổ rất tinh vi, nội thất làm toàn bằng loại gỗ sên, sơn son thếp vàng chói toả cùng khắp gian thờ, và bộ tượng tạc 12 ông thánh tông đồ trông thật uy nghi lẫm liệt.

Đặc biệt các hệ thống cửa sổ lồng kính ngũ sắc nơi đây được xem là hoàn hảo nhất thế giới, với đủ màu sắc rực rỡ kể chuyện  sự tích về cuộc đời Chúa Giê Su cam chịu nhục hình để cứu nhân loại. Chính nhờ có hệ thống cửa sổ đó đã tạo nên không khí thoáng mát, chan hoà ánh sáng mà không cần phải thắp đèn như các ngôi thánh đường khác. Nếu đem so sánh với các ngôi nhà thờ lớn khác, thì nhà nguyện này chỉ ví như một cái khám thờ nho nhỏ xinh xinh nhưng tinh xảo vô cùng, đáng kể là một kiệt tác trong kiều kiến trúc Gothique. Ngày nay, nhà nguyện không còn dùng làm nơi tổ chức thánh lễ nữa, mà chỉ giữ làm nhà lưu niệm mở cửa cho du khách vào xem mỗi ngày mà thôi.

 

Đại lộ Champs- Élysées- Những con đường huyền thoại

 

Khôn em, cũng ở trong bồ,

Dại chị, cũng ở kinh đô chị về.

(Ca dao miền Bắc)

 

Trong kho tàng ca dao tục ngữ của chúng ta có nhiều câu như thế rất hay, làm bổ sung thêm cho câu nói của cổ nhân: ‘Nhân sinh tu đáo đế vương đô’, nghĩa là kinh đô là chỗ danh thắng, sơn thuỷ tốt, phong cảnh vui. Kinh đô còn là nơi đô hội, bao nhiêu cái khôn cái khéo, bao nhiêu người hiền tài trong nước, đều tụ tập tại đó cả. Cho nên tới ở chốn kinh đô cũng bằng đi du lịch một lần khắp trong nước vậy.

Với người Pháp, đến kinh đô ánh sáng mà chưa đi tản bộ trên đại lộ Champs – Élysées là xem như chưa thể gọi là biết Pháp được, vì tất cả tinh hoa của nước Pháp đều tập trung nơi đây. Người Pháp thường nói đại lộ này đẹp nhất Ba Lê, có kẻ còn tôn lên ‘nhất thế giới’ nữa.

 

Nguyên văn tiếng Pháp : ‘La plus belle avenue du monde’, dịch ra tiếng Anh như sau: ‘The most beautiful avenue in the world’).  

 

Đại lộ dài chừng 2 cây số, một đầu là nơi Cộng hoà trường Concorde, một đầu là Bắc đẩu Khải Hoàn môn (Arch de Triomphe de l’Etoile). Bề rộng có thể là nhất Ba Lê, nhưng đối với tôi hãy con thua nhiều nơi mà tôi biết. Hai bên đường, với hành lang/ vỉa hè rộng rãi, có những khách sạn, nhà hàng, bảo tàng, cung điện, ngân hàng, sứ quán một số nước. Phủ Tổng Thống của nước Pháp cũng toạ lạc ngay trên đường này. Cái đẹp của đại lộ Champs - Élysées theo tôi không phải ở những điểm nói trên, hay đúng hơn, không chỉ do có vậy. Đại lộ này nổi tiếng với thế giới là vì cái khung cảnh sang trọng, gợi lại cho du khách những dư ảnh của thời vàng son quá khứ. Nơi đây có giá thuê mặt bằng đắt nhất thế giới, với giá thuê có thể lên đến 1.1 triệu euro (tương đương với 1 triệu rưỡi Mỹ kim) hàng năm cho một khoảnh đất cỡ 90 thước vuông. Nếu mỗi tấc đất là một tấc vàng, thì ở đây phải nói là một tấc kim cương mới đủ hình dung ra được giá trị của nó.

Với giá thuê mướn đắt như thế, nên quán cà phê, nhà hàng nằm trên con lộ này cũng phải theo thời giá mới mong đủ trả tiền chi phí. Cung cách phục vụ dĩ nhiên là rất lịch sự Âu Tây, lại là lịch sự Ba Lê thì khỏi phải bàn. Bù lại, khách phải móc hầu bao ra để đổi lấy việc ‘mua vui’ cũng được ‘một vài trống canh’. Để tránh tình trạng du khách bị mắc nạn phải ăn ‘cơm tù’ như ở bên quê nhà, các tiệm ăn ở Pháp theo luật bắt buộc phải dán giá cả thực đơn ngoài cửa tiệm để khách liệu cơm mà gắp mắm. Tuy vậy, nghệ thuật ẩm thực của người dân Ba Lê nói chung, và trên đại lộ Champs – Élysées nói riêng, đã đến mức tuyệt hảo.

Vào một buổi tối đẹp trời, ba người chúng tôi đã có dịp được thưởng thức cung cách phục vụ cũng như nghệ thuật trình bày món ăn tại nhà hàng Le Fouquet’s trong khuôn viên khách sạn Hotel Fouquet’s Barrìere Paris. Muốn vào ăn tối tại đây, thực khách phải ăn mặc cho lịch sự, nam thì phải đeo cravat (neckties)  với áo jacket  khoác ngài, nữ cũng tương tự như vậy. Nhà hàng này toạ lạc tại góc đại lộ Champs – Élysées  và đại lộ George V, ngay sát bên Bắc đẩu Khải Hoàn Môn và đối diện với cửa hàng bán ví phụ nữ sang trọng Louis Vuitton. Khách sạn và nhà hàng do một vị bá tước người Anh, ông Fouquet Barriere, khánh thành vào năm 1899, cách đây đã hơn 1 thế kỷ. Kể từ đó trở đi, nhà hàng đã lần lượt đón tiếp các minh tinh màn bạc, các vị nguyên thủ quốc gia, đến đây chọn làm thực khách của nhà hàng. Trên tường còn thấy treo những bức chân dung có chữ ký tặng của danh hài Charlie Chaplin, nào là Maurice Chevalier, Marlene Dietrich, Francois Truffaut, Jean-Luc Godard,Thủ tướng Anh Winston Churchill, Tổng thống Mỹ Franklin Roosevelt, lại còn có cả Đệ nhất phu nhân Jackie Onassis.

Mỗi năm, các siêu sao thắng giải phim ảnh Cesar Awards của Pháp (tương tự như giải Oscars của Mỹ) đều kéo nhau ra đây để ăn mừng. Nghe đâu trong kỳ đắc cử vừa rồi, Tổng thống Pháp Nicolas Sarkozy đã bày tiệc thết đãi các chính khách ngay trong khuôn viên nhà hàng. Tối hôm đó, gia đình tôi đã chọn thực đơn 3 món với giá cố định, không bao gồm nước uống và tiền phục vụ (tiền tip). Nhà hàng đem ra món khai vị paté gan ngỗng (Nguyên văn tiếng Pháp: ’fois gras terrine‘- Jean-Loup Dabadie. )

Ăn với bánh mì phết bơ và mứt củ dền (Rhubard purée), tất cả đều do anh đầu bếp Jean - Yves Le rangeur trứ danh người Pháp tự tay chế biến chứ không mua sẵn. Vì thế mà hương vị rất tươi ngon, chúng tôi cứ mải mê ăn bánh mì mãi mà bụng đã hơi căng rồi. Nửa tiếng sau, nhà hàng mới đem ra món chính là thịt trừu nướng kèm theo dưa leo tây (zucchini) và lasagne (Nguyên văn tiếng Anh: ‘Lamb bone marrow withtapenade, zucchini and colourful cardoon lasagne). Còn trừu thì nhà hàng đặt nuôi bằng thức ăn gia truyền nên thịt thơm dai, và không bị mùi hôi béo ngậy như thứ trừu nuôi công nghệ mua ở siêu thị.

Đến phần điểm tâm mới độc đáo làm sao, miếng chocolat ở đây được ướp với hương vị hoa hồng và ăn kèm theo với trái vải xay nhuyễn (Nguyên văn tiếng Anh: ‘Manjari chocolate with rose extract and lychee sorbet).

Thấy miếng chocolat có khắc tên của nhà hàng, chứng tỏ không phải là hàng chợ, tôi chỉ muốn thò tay giấu vào trong túi áo đem về làm quà kỷ niệm cho bữa ăn đáng ghi nhớ này, nhưng lại không dám vì thấy cô bồi bàn hãy còn đứng lẩn quẩn gần đấy. Anh đầu bếp nấu ăn tính toán thật khéo, đến món cuối cùng là vừa đủ no, không dư mà cũng không thiếu. Ăn xong lại nhớ đến câu châm ngôn của cổ nhân rằng: ‘Miếng ngon ăn ít nhớ nhiều’, và khuyên con cháu chớ nên vì ‘miếng ăn quá khẩu thành tàn’. Xem ra cách ăn uống của người Việt chúng ta cũng điệu nghệ không kém với người Pháp là bao.

Chúng tôi ngồi ăn từ 5 giờ rưỡu chiều cho đến gần 10 giời rưỡu tối mới ăn xong món tráng miệng. Đi ăn tối ở Pháp là phải mất cả buổi như thế, khách có muốn hối thúc dọn ra hết cũng không được. Tôi nghĩ đây cũng là ưu điểm của người Pháp vì ăn uống là cả một nghệ thuật, lại là dịp để cho thực khách có cơ hội trò chuyện xã giao với nhân viên phục vụ, và với thực khách ở bàn bên cạnh. Thực khách ngồi ăn cả buổi tối, nhà hàng không thể lấy thêm khách vào như những thành phố khác, nên giá tiền cũng không rẻ, phải bỏ ra ít nhất $200 euro cho mỗi đầu người, nếu kể luôn cả tiền bia rượu và tiền phục vụ.

 

Bắc đẩu Khải Hoàn môn (Arch de Triomphe de l’Étoile)

Vẫn còn đấy

Khải Hoàn Môn hoàng hôn hay nắng rỡ

Em xa rồi một thuở trầm hương

Anh vết thương nương hơi thở theo cùng

Tim lỗi nhịp, hồn bay tìm cánh gió
(Kim Thành: Em đã trở lại Paris)

 

Ăn xong một bữa tối thịnh soạn, ra ngoài đường trời vẫn còn sáng. Bởi vì mùa hè Tây Âu nằm gần mũi Bắc cực nên mãi đến gần nửa đêm trời mới tối hẳn. Một điểm khác thường nữa là mặt trời lại không lặn hẳn lúc sang hè. Quá nửa đêm rồi mà bầu trời vẫn còn giữ màu xanh thẫm, chứ không đen tuyền như ở bên Úc châu của tôi.  Tháng nào ngày dài, tháng nào ngày ngắn do sự xoay chuyển của trái đất như ca dao mình nói, mấy khi mình nghĩ đến những việc ấy. Đến khi qua đây thì mới thấy rõ ràng, chưa tới 5 giờ sáng chim đã líu lo hót, ngủ chưa kịp ngon giấc trời đã sáng trắng, tối khuya nửa đêm mà vẫn còn thấy đường:

 

                                    Tháng năm chưa nằm đã sáng,

                                    Tháng mười chưa cười đã tối.

 

Chúng tôi đi dạo một vòng cho tiêu mỡ rồi mới đón taxi về khách sạn. Bước chân ra ngoài đường mới cảm nhận thấu đáo hết cái không khí của kinh đô ánh sáng về đêm. Mà thật không có cảnh nào đẹp bằng cảnh con đường thông cù này lúc trời tây đỏ úa, khi bóng cây đã hiu hắt gió chiều, mà đường về thì còn xa, lòng bùi ngùi nhớ chốn cố hýõng ðã mịt mờ nhân ảnh:

 

Bóng dâu đã xế ngang đầu,

Biết đâu ấm lạnh, biết đâu ngọt bùi!

(Nguyễn Du: Truyện Kiều)

 

Hai bên đường có hai lối đi riêng trồng cây xanh um trông thật mát mắt, hai lối này chỉ dành cho khách bộ hành đi dạo phố. Từ bốn giờ chiều trở đi, những trai thanh gái lịch cùng với khách ngoại quốc kéo đến dạo chơi ở đấy đông lắm. Ở giữa thì xe hơi chạy phom phom như muốn chạy thi cùng với trăm nghìn bác tài khác.

Đi một chập ngoảnh lưng lại đã thấy ngọn Tháp Bút Ai Cập(Obelisk) đột ngột cao vụt lên giữa khoảng không nơi Cộng hoà trường Concorde nằm ở cuối đường. Nhìn lên trước mặt thì mới hay mình đã đến ngay chân cái cửa đá sừng sững như một toà thành cao ngất. Đó là cửa Bắc đẩu Khải Hoàn môn (Arch de Triomphe de l’Étoile). Người ta đã nói nhiều đến nó cũng như tháp Eiffel, và cho rằng cửa này là cửa khải hoàn lớn nhất và đẹp nhất trên thế giới. Mấy chữ ‘lớn nhất, đẹp nhất’ bây giờ bị lạm dụng quá tựa hồ như thành nhàm, song chính thật như thế, không phải là một câu nói nơi đầu môi chót lưỡi nhằm đánh bóng tên tuổi của thành phố chính mình. Tôi đã từng đến xem Khải Hoàn môn ở thủ đô Tân Đề Li (New Delhi) bên Ấn Độ do người Anh xây dựng và đem ra so sánh với bên Ba Lê thì mới thấy những lời tán tụng trên cũng không phải là lộng ngôn.

Cửa này khởi công từ năm 1806, là đài kỷ niệm chiến tích của quân đội Pháp và các binh sĩ vô danh của họ. Công trình bị bỏ dở một thời gian, đến năm 1825 mới làm nốt, tổng phí cả thảy là hơn 9 triệu quan. Bề cao 45 thước rưỡi, bề rộng hơn 40 thước , lòng cửa từ mặt đất lến đến mái vòm cuốn cao là ngót 30 thước. Nghe đâu đã có chiếc phi cơ bay lọt qua được lòng cửa nhân dịp duyệt binh kỷ niệm trọng thể lễ Quốc khánh Pháp. Chung quanh cửa có chạm khắc những bức phù điêu ghi chiến tích oai hùng đánh đuổi ngoại xâm. Hiện nay ở dưới cuốn cửa có chôn di hài người lính vô danh đem ở trận tiền về năm 1920 sau khi Thế chiến thứ nhất chấm dứt, trên đấy có đặt một tảng đá khắc mấy chữ kỷ niệm: ‘Đây là di hài một người lính vô danh đã vị quốc vong thân’ (Nguyên văn tiếng Pháp: ‘Ici repose un soldat inconnu mort pour la Patrie.’)

Trên nền cổng có chỗ ghi:‘Để tưởng niệm các chiến binh Đông Dương’. Tôi dẫm lên nó, gìong chữ như ngọ nguậy dưới chân, bất giác làm tôi vụt nghĩ: Phải chăng đây là nét man rợ trong tầng sâu của nền văn minh Pháp? Hay chỉ là mặc cảm tự ti của một con dân gốc An nam mít nhược tiểu như tôi? Từ đấy trở đi, chỗ này trở thành một nơi hành hương, cả ngày lũ lượt đón tiếp những du khách du lịch các nước đến ngả mũ chắp tay kính viếng vong linh người anh hùng vô danh, là biểu tượng cho hơn trăm vạn đồng đội đã bỏ thân nơi chiến địa.

Bao bọc lấy chung quanh công trường cửa Khải hoàn này là một bùng binh rất lớn, tập trung 12 con đường lớn chạy thẳng băng ra khắp mọi phía thành phố, tựa như tia sáng của một ngôi sao chói tỏa tứ phương. Chính vì lẽ đấy mà cửa Khải hoàn đã được đặt tên là Bắc đẩu Khải hoàn môn (Arch de Triomphe de l’Étoile).

 

Cộng hoà trường (Place de la Concorde)

Ngược về phía đầu kia của đại lộ Champs - Élysées là Cộng hoà trường (Place de la Concorde). Các buổi lễ trọng thể như ngày Quốc khánh Pháp thường diễn ra ở đây, diễn hành duyệt binh trải dài gần 2 cây số, đến Khải hoàn môn mới chấm dứt. Công trường có diện mạo như ngày nay là được tu sửa từ năm 1854. Trước đó, ở giữa công trường có đặt tượng đài vua Louis thứ 15, sau đó bị phế bỏ đi. Đến cuộc Cách mạng Pháp năm 1793, nơi đây được dùng làm pháp trường chém đầu vua Louis thứ 16, bà Hoàng hậu Marie Antoinette và ngót 3 nghìn người thuộc về đảng ủng hộ chế độ quân chủ cùng với đảng đối lập phản đối Chính phủ Cách mạng. Vì tấm thảm kịch này mà đời sau đã mỉa mai đặt tên cho nó là Cộng hòa trường, nghĩa là từ nay muôn dân sẽ cộng hưởng thái hòa, không còn sợ bị bọn điạ chỉ bóc lột nữa. Thật cũng là một sự nực cười của lịch sử và là một tấm gương cho kẻ thế nhân nông nổi, nhân danh Cách mạng mà đã giết oan biết bao kẻ vô tội.

Hiện nay, ở giữa nơi công cộng có dựng bia đá Obelisk cao 23 thước, nặng 50 tấn, người mình quen gọi là Tháp Bút, là biểu tượng cho quyền lực của Hoàng đế Ai Cập cổ đại. Tháp Bút cao ngất này nguyên là một trong hai tấm bia dựng trước cổng vào tòa miếu thờ cổ thành Thebes (bây giờ là tỉnh Luxor nước Ai Cập). Nghe nói Phó vương Ai Cập lúc bấy giờ là Mehmet Ali, hồi nước này còn là thuộc địa của đế quốc Anh, vì bị Pháp đánh lừa nên đã nghe lời tặng 2 ngọn tháp quý giá cho vua Louis  Phillipine nước Pháp năm 1829. Phía nước Pháp thì hứa tặng chiếc đồng hồ quả lắc khổng lồ cho Phó vương, nhưng khi giao đến Ai Cập thì bị hư không sửa được. Vì vậy cho nên người dân Ai Cập mới luôn miệng kêu mình bị lừa, đã đem đồ thật trao nhầm kẻ bất lương, đến khi biết ra thì đã quá muộn. Hơn 2 năm sau, vào tháng chạp năm 1831, vì vận chuyển quá nhiêu khê, chỉ có một tháp là đến nơi an toàn. Còn tháp kia thì vẫn còn nằm trên đất Ai Cập, và mãi đến thập niên 1990s, Tổng Thống Pháp là Francois Mitterand mới chính thức trao tặng ngọn tháp thứ hia kia lại cho chính phủ Ai Cập. Chẳng biết có nên coi đây là niềm tự hào của nước Pháp không? Và nếu người Ai Cập đòi lại ngọn tháp thứ nhất thì sẽ ra sao nhỉ?

Tháp Bút được dựng ở công trường có hình cột vuông, bốn mặt đều có khắc văn tự cổ Ai Cập gọi là hieroglyphics tán dương công đức vua Ramses đệ nhị từng trị vì nước Ai Cập cách đây đã trên 34 thế kỷ. Chung quanh nơi công trường còn có dựng 8 cái đình nhỏ bằng đá, mỗi cái đặt một pho tượng khắc hình một nơi đô thành lớn ở nước Pháp: Lyon, Marseille, Bordeaux, Nantes, Routen, Brest, Lille Strasbourg. Hẳn rằng nhà vẽ kiểu Jacques-Ignace Ittorff muốn nói lên rằng tất cả nước Pháp hội họp lại ở chốn kinh đô này là để biểu dương cái nghĩa Cộng hòa, toàn dân cùng nhau xây dựng đất nước ngày một tốt đẹp hơn. Tối đến ở đây đèn thắp như sao sa, xem rất là ngoạn mục.

Đến đây thì đêm đã về khuya, mà trời vẫn còn chưa tối hẳn. Không gì đẹp bằng góc trời hôm đó, ánh tà dương nay đã xế bóng, áng mây vàng như vẫn còn vẩn vơ đâu đây, mà cũng không gì buồn bằng đám mây hôm đó.  Vì trông mây lại sực nhớ đến quê nhà:

           

Trời Tây bảng lảng bóng vàng,

Lòng quê gửi đám mây Hàng xa xa,

(Nguyễn Du: Truyện Kiều)

 

Bâng khuâng mến cảnh mà nhớ nhà, nhớ nhà mà mến cảnh, trong lòng lại càng ngổn ngang trăm mối. Ngoài kia, đường khuya đã vắng khách bộ hành, như muốn giục khách tha hương mau về kẻo muộn. Chúng tôi đón taxi về đến khách sạn, phải đi bộ ngang qua mấy khu phố mới về đến nơi. Lủi thủi bước đi, gót giầy nện xuống con đường đá trống trải, tiếng vang động cả một góc phố. Nhưng đá tựa im hơi, không nói nên lời, hay là vẫn nói đấy mà lòng mình đã bị đám mây lúc nãy mang đi xa mất rồi, không để tai nghe nữa.

Về đến khách sạn nghỉ ngơi, mãi canh khuya quá 2 giờ sang vẫn trằn trọc chưa ngủ được. Ánh trăng huyền ảo chiếu qua đầu giường, bao kỷ niệm xưa cũ của vùng trời ký ức chợt hiện về, lòng buồn man mác nằm nhẩm lại bài thơ Đường mình đã từng đọc thời cắp sách đến trường:

 

Đầu giường, ánh trăng rọi,

Ngỡ mặt đất phủ sương

Ngẩng đầu nhìn trăng sáng,

Cúi đầu nhớ cố hương.

(Lý Bạch: Tĩnh dạ từ)

 

Bản dịch của Tương Như: Cảm nghĩ đêm yên tĩnh)

 

Từ ngày sang đây đến giờ, đêm hôm nay mới thấy buồn là một, thật là:

 

“Lạnh lùng thay giấc cô miên,

Mùi hương tịch mịch, bóng đèn thâm u!

(Nguyễn Gia Thiều: Cung oán ngâm khúc)

 

Anthony Trần Đàm Việt Quốc

 

 

   

 

 

 

Giọng cũ xa gần

Dân Gầy phụ trách

 

*Tuổi già là cái chi chi:

Nó đi đi mãi có chờ “anh” không?

Không dám đâu. Chỉ xin góp ý bằng bài thơ dịch ở đời như sau:

 

CHỢT THẤY TUỔI GIÀ CHỒNG CHẤT

 

 "QUAND LES ANS S'ADDITIONNENT"

Le coin de la rue est deux fois

plus loin qu’auparavant !

Et ils ont ajouté une montée que

je n’avais jamais remarquée.

J’ai dû cesser de courir après l’autobus,

Parce qu’il démarre bien plus vite qu’avant.

Je crois que l’on fait les marches

d'escaliers bien plus hautes

que dans notre temps !

L’hiver le chauffage est beaucoup

moins efficace qu’autrefois !

Et avez-vous remarqué les petits caractères

que les journaux se sont mis à employer ?

Les jeunes eux-mêmes ont changé !

ils sont bien plus jeunes que

lorsque j’avais leur âge !

Et d’un autre côté les gens de mon âge

sont bien plus vieux que moi.

L’autre jour je suis tombée sur

une vieille connaissance; elle avait

tellement vieilli qu’elle ne

me reconnaissait pas !

Tout le monde parle si bas qu’on

ne comprend quasiment rien !

On vous fait des vêtements si serrés,

surtout à la taille et aux hanches,

que c’est désagréable !

Je réfléchissais à tout ça

en faisant ma toilette ce matin.

Ils ne font plus d’aussi bons miroirs

qu’il y a 40 ans …

CHỢT THẤY TUỔI GIÀ

 

Góc đường đó , mỗi ngày tôi qua lại

Bỗng hôm nay sao thấy xa lạ thường

Xa gấp đôi còn thêm một con dốc

Con dốc này ai đắp từ bao giờ ?

Chuyến xe buýt hôm nay sao vội vả

Tôi ngẩn ngơ không kịp chuyến xe chờ

Những cầu thang hình như cao hơn trước

Cao rất nhiều so với buổi hôm qua

Mùa đông giá năm nay sao rét quá

Lò sưởi không còn đủ ấm tấm thân

Tờ nhật báo giờ đây sao khó đọc

Hàng chữ nhạt nhoà nhỏ xíu lăng quăng

Những thanh niên bây giờ trông thanh lịch

Họ trẻ hơn tôi so với tuổi cùng thời

Và những người cùng trang lứa với tôi

Trông lẩm cẩm và già hơn số tuổi

Bỗng một hôm gặp người yêu dấu cũ

Rất sững sờ khi gặp lại người xưa

Em nhìn tôi như nhìn người xa lạ

- Hai đứa ngỡ ngàng ngơ ngác xót xa

Xung quanh mình ai cũng thầm nói khẻ

Cố lắng nghe không hiểu họ nói gì?

Áo quần bây giờ mỗi ngày mỗi chật

Bệnh béo phì chậm chạp đến thăm tôi

Sáng nay, soi mặt trong gương

Thấy mình không phải là mình năm xưa

40 năm trước xuân thì

Bây giờ ta đã nhạt nhoà như sương

 

(Tôn Thất Phú Sĩ phỏng dich)

 

*****

 

TUỔI ĐỜI CHỒNG CHẤT

 

Góc đường đó tới lui quen thuộc lắm ,

Sao hôm nay thăm-thẳm gấp mấy lần .

Lại thêm con dốc ác độc nó hành .

Đã lâu lắm, mình bao giờ để ý .

Chuyến xe buýt hụt rồi , chạy chẳng kịp ,

Dường xe nào cũng phóng vội hơn xưa .

Những bậc thang cao nghệu thật khó ưa ,

Nhớ lúc trước làm gì cao qúa vậy !

Mùa đông giá năm nay run lẩy-bẩy ,

Lò sưởi nầy không đủ ấm hay chăng ?

Báo hằng ngày chử nhỏ-rức lăn tăn ,

Thật khó đọc, hình như thay mẫu mới ?

Những người trẻ hôm nay trông phơi-phới ,

Trẻ hơn tôi so với tuổi đồng thời .

Còn những người , xấp-xỉ với tuổi tôi ,

Nôm lụ khụ , già hơn tôi thấy rõ .

Bỗng ngày nọ gặp người em thuở nhỏ ,

Em qúa già , tôi thật khó nhận ra .

Em nhìn tôi xa-lạ chẳng thiết tha .

Buồn man-mác hai tâm hồn tri-kỷ .

Thấy thiên hạ quanh tôi luôn lí-nhí ,

Vểnh lổ tai chẳng hiểu họ nói gì ?

Áo quần tôi chật cứng bởi béo phì ,

Thật bực bội xác to cùng bụng phệ .

Sáng nay sớm soi gương như thường lệ ,

Thấy ai kia sao chẳng giống chút nào .

Bốn mươi năm thân xác đã bèo-nhèo ,

Ta thấm thía đời người sao chóng thế !!

phỏng dịch

 

*Lại đến lượt Bác Trần Ngọc Liên

Mấy ngày đầu tháng 9 năm 2012, lại có tin bác Trần Ngọc Liên, đương kim niên trưởng trong Gia đình rất An Phong, lại đã mệt nhiều, e khó qua. Một số anh em trong Gia đình An Phong kéo nhau tới bệnh viện Liverpool kẻ vào được nguời không, đều thấy là Bác đã ở vào giai đoạn cuối của bệnh ung thư phổi, nay phát tán.

Dưới đây là các điện thư/tin tức về tình trạng của Bác Liên:

 

From: Nguyen Phung tkp10002000@yahoo.com.au

 

Chao cac anh chi

Khi nao cac anh chi den de doc kinh cho bac Lien,xin nhan mot tieng de em di cung voi.

Rat toi nghiep bac rat het long voi DCCT,khi con song bac co noi voi em la khi nao di hop GDAP nho cho bac theo voi,mot nam hop mat co 2 lan,ma Tet thi khong den cung khong sao nhung ngay gio Thanh AnPhong co met cung rang di.Hom tuan roi vo chong em co den tham bac trong benh vien,bac rat met ,luoi bi cung,ca ngay hom do co gang noi nhung khong duoc ,vay ma khi nghe noi co anh em ben GDAP den tham ,tu dung bac noi rat lon tieng va ro rang lam la "Cam on" va "Di le",lam ca gia dinh phai ngac nhien.Hom do moi nguoi co noi voi bac la co gang 2 bua nua thi Cha Thinh se thu xep va den lo cho bac....co le bac cung rang cho Cha do.Toi cho bac ....luc nao cung nhac den nha dong minh.

Xin Chua thuong cho linh hon bac.

 

From: Mai Dam maidam09@gmail.com

 

Phụng ơi,

Rất tiếc là anh Tá và mình không gặp được bác lần cuối. Ngay khi được tin bác Liên vào nhà thương, mình đã điện thoại hỏi thăm số phòng để đi thăm nhưng bác gái có nói xin cầu nguyện thôi vì nhà thương hạn chế người thăm bệnh vì sợ bác mệt nhiều.

Thứ 5 này tụi mình sẽ dự lễ Phát tang. Tối thứ Sáu thì của anh em GDAP cầu nguyện canh thức và thứ 7 lễ an táng.

Thân mến

 

Và, cáo phó từ gia đình của Bác:

 

Trong niềm cậy trông phó thác vào lòng nhân từ của Chúa, Gia đình tang quyến chúng con xin được kính báo đến Quý Cha, Quý Tu Sĩ, Quý thân bằng quyến thuộc: Chồng, Cha, Ông, Ông Cố của chúng con là:

 

            Cụ Ông Phaolô Trần Ngọc Liên

            Sinh ngày 03-03-1925 tại Tuy An, Phú Yên Việt Nam

            Vừa hoàn tất cuộc hành trình đức tin Công giáo nơi dương thế,

            nay đã về nhà Cha trên trời lúc 4.30 sáng thứ Ba ngày 04 tháng 09 năm 2012,

            tại bệnh viện Liverpool, Sydney Australia

            hưởng thọ 87 tuổi

 

Chương trình tang lễ:

Thứ Năm 6/9/12: 5pm Thăm viếng tại nhà quàn Trường An

                                     356 The Horsley Drive Fairfield NSW 2165

                            7pm: Nghi thức làm phép xác & phát tang

                            7.30pm Giờ kinh I (nhóm Thăng tiến Hôn nhân)

                            sau đó tiếp tục thăm viếng đến 9.00pm

 

Thứ Sáu 7/9/12: 5pm: Thăm viếng

                           6.30pm: Giờ Kinh 2  (Hội Legio Mariae)

                           7.30pm: Giờ Kinh 3 (Gia đình An Phong)

                           sau đó tiếp tục thăm viếng đến 9.00pm

 

Thứ Bẩy 8/9/12: 10.00am Thánh lễ An táng tại nhà thờ  St Theresa Lakemba

                                           15 Garrong Rd, Lakemba

                                            sau lễ di quan đến khu hoả táng Rookwood Cremation Centre

                                            (đối diện nghĩa trang Cộng đồng Công giáo VN ở Rookwood, Lidcombe

 

Tang gia đồng kính báo:

Vợ: Bà quả phụ Nguyễn Thị Tứ Thuận (Australia)

Trưởng nam: Trần Ngọc An, vợ và các con, các cháu (Australia)

Thứ nam: Trần Ngọc Bảo, vợ và các con (Australia)

Thứ nam: Trần Ngọc Châu, vợ và các con (Australia)

Út nam: Trần Ngọc Dũng, vợ và các con (Australia)

Truởng nữ: Trần Thị Hải Đường, chồng và các con (Australia)

Thứ nữ; Trần Thị QUỳnh Giao, chồng và các con (Australia)

Thứ nữ: Trần Thị Tuyết Hằng, chồng và các con (Australia)

Út nữ: Trần Kim Khác, chồng và các con (Australia)

 

Cáo phó này thay thế thiệp tang

Tang gia xin miễn phúng điếu.

 

*Đôi tâm tình san sẻ cùng gia đình Bác Liên:

Tâm tình này, anh Trần Ngọc Tá đã đạo đạt vào buổi “Canh Thức Cầu Hồn” tối thứ Sáu 7/9/12, như sau:

 

Canh Thức Nguyện Cầu

cho gia đình Bác Trần Ngọc Liên

Kính Bác Liên gái và gia đình,

Cứ mỗi lần, đưa tiễn bạn bè người thân về miền vĩnh cửu, là chúng ta hiệp thông vào sự thương khó, thống khổ của Đức Giêsu Kitô, là Chúa chúng ta. Kể về nỗi thống khổ của Chúa lúc ra đi, thánh sử Gioan đồ đệ gần gũi Chúa nhất, viết thế này:

 

            “Trước lễ Vượt qua,

            Đức Giêsu biết rằng đã đến giờ Ngài qua khỏi thế gian này

            để đến cùng Cha

            đã yêu mến các kẻ thuộc về Ngài còn trong thế gian

            thì Ngài đã yêu mến họ đến cùng.”

(Ga 13: 1)

 

Sau đó, thánh Gioan lại kể việc Chúa làm cử chỉ yêu thương, rửa chân đồ đệ. Và tạ từ bằng những lời:

            “Hỡi anh em là những người con bé nhỏ của Thầy,

Thầy còn ở với anh em một ít lâu nữa thôi.

Anh em sẽ tìm kiếm Thầy;

nhưng như Thầy đã nói với người Do-thái:

"Nơi Tôi đi, các người không thể đến được".

(Ga 13: 33)

 

            Hôm nay, người thân yêu của chúng ta, tuy nằm đây, nhưng đang trên đường “về với Cha” như Chúa đã trải qua. Chắc chắn, người ở lại, không ai lại không có tâm trạng sầu buồn, vẫn muốn níu kéo người thân ở lại. Để trả hiếu. Để gần gũi. Cảnh tượng này, Chúa cũng từng khuyên:

 

                        “Anh em đừng xao xuyến!

Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy.

Nhà Cha Thầy, có nhiều chỗ ở;

Thầy nói với anh em rồi,

Thầy đi, là để dọn chỗ cho anh em.

Nếu Thầy đi để dọn chỗ,thì Thầy sẽ lại đến và đem anh em về với Thầy,

để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó.”

(Ga 14: 1-3)

 

            Cựu Ước cũng có lời trấn an mọi người như thế này:

 

“Ở dưới bầu trời này,

mọi sự đều có lúc, mọi việc đều có thời:

một thời để chào đời, một thời để lìa thế…”

(Gv 3: 1, 2, 4, 8)

 

Cũng thế, có lần người anh em lớp trên tôi là anh Nguyễn Ngọc Lan cũng có lời nhắn thế này:

 

“Con người vốn là sinh vật duy nhất ý thức mình sẽ chết. Vừa biết mình phải chết, vừa không chấp nhận được cái chết. Lòng tin Chúa Kitô đã sống lại và mình cũng sẽ được sống lại không hẳn sẽ miễn cho người tín hữu khỏi nỗi xao xuyến lo âu, khựng lại trước niềm đau và nỗi chết của mình, lòng tin ấy không phải là thuốc an thần, thuốc giảm đau.

Trái lại, lịch sử tư tưởng nhân loại cho thấy không đâu bằng trong Kitô giáo, vấn đề khổ đau được đặt ra triệt để và ý thức cái chết là ý thức bi đát. (x. Nguyễn Ngọc Lan, Chủ Nhật Hồng Giữa Mùa Tím, nxb Cơ sở Hy Vọng 2002, tr. 160)

 

            Ở đây nữa, khi người thân của ta ra đi “về với Cha” các vị ấy cũng sẽ không ra ngoài con Đường của Chúa. Các vị ấy cũng đi cùng một con đường Chúa đã đi. Đi với Chúa và ngang qua Chúa bằng niềm tin chấp nhận Lời Ngài trăn trối, trước cơn mê. Về với Cha:

 

                        “Nếu anh em yêu mến Thầy,

                        anh em sẽ vui mừng vì Thầy đi đến với Cha.

bởi vì Chúa Cha cao trọng hơn Thầy.

Bây giờ, Thầy nói với anh em trước khi sự việc xảy ra,

để khi xảy ra, anh em tin.”

                        (Ga 14: 28)

            Và giờ đây, người thân của chúng ta đã ra đi, nhưng bù lại, chúng ta đã có Thánh Thần Chúa ở cùng. Như thế, sẽ không còn lý do gì để sầu buồn, nhưng là tin tưởng và hy vọng. Trong niềm hy vọng vào ngày Phục Sinh, gặp lại người thân. Ở chốn miên trường vĩnh cửu. Sẽ được vui và mãi mãi phấn khởi.

            Hôm nay, trước linh cửu người thân, xin cho anh em tôi được có đôi lời với Bác trai rằng:

 

Thưa Bác Liên,

Đàn em của Bác hôm nay tụ tập ở đây vẫn nhớ lời Bác từng nói lên niềm tin tưởng rằng có sống là có chết. Và chết, là tin vào lời hứa Phục Sinh của Chúa. Dù có chết, Bác vẫn nhắn nhủ anh em thực hiện tinh thần yêu thương giữa người đồng môn, đồng thuyền lâu nay từng sinh hoạt. Đàn em đây, là những người từng hiên ngang đáp lời gọi mời của Chúa sống đời đệ tử sinh DCCT. Đàn em đây, nay xin gạt nước mắt buồn sầu để sẽ nói cho mọi người biết rằng: dù ở cương vị nào đi nữa, Bác và đàn em trong Dòng vẫn nghe lời Chúa mời gọi.

 

Thưa Bác Liên,

Xin Bác nhận nơi đây lời chào trân trọng của đàn em.

Hẹn gặp Bác ở bên ấy, chốn vĩnh hằng, qua câu hát sau đây:.

 

            “Ngày ấy Chúa cất tiếng gọi khắp nơi.

            Ngày ấy đến với Chúa đi vào đời.

            Ngài muốn hết thế giới được lắng nghe

            loan tin vui cùng nắm tay chung xây trời đất mới…”

 

*Sinh hoạt của Gia Đình An Phong Bắc Cali:

Giọng cũ, lâu nay lại đã nghe được tâm tình của người anh em trời Âu Mỹ, ở bên đó, có những điều mới lạ, rất như sau:

 

HOM NAY  TAI TU GIA ANH VU DINH THIEP, HIEN LA HOI TRUONG CUA HOI AI HUU CUU DE TU DCCT BAC CALIFORNIA DA CO MOT BUOI HOP DAC BIET:

ANH HOI TRUONG TUYEN BO TU CHUC VI SUC KHOE ANH CHUA CHO PHEP LAI XE

ANH EM DA DE CU ANH TAM NGUYEN LEN THAY THE VA ANH TAM DA NHAN LOI.

CAC ANH EM KHAC VAN O LAI CHUC VU HAY TRACH NHIEM DA NHAN TU TRUOC DEN NAY

XIN CHUC MUNG  MOT SO ANH EM CUU DT DA CO MAT VA DONG Y SINH HOAT CHUNG VOI ANH EM TU NAY.  HOAN HO

XIN THONG BAO ANH JOHN KHOAN DE BO TUC DANH SACH EMAIL GROUP

don chao cac anh tan hoi vien:

anh BS DANIEL HUYNH

    (916)230 6312  danielhuynh1942@hotmail.com

anh NGUYEN NGOC PHI

    (916) 402 7020  phinguyen2005@yahoo.com

anh LAI QUOC HUNG

    (916) 685-5673   hg_quoclai@yahoo.com  

BY NGUYEN CONG BINH

 

Và thêm một tin khác:

 

TIN VUI:

HOM NAY ANH VU DINH THEP, HUYNH TRUONG CUA CHUNG TA  VA GIA QUYEN DA TO CHUC LE TA ON TAI TU GIA 9824 WATERFOWL DR. ELK GROVE CA. 

TRONG THANH LE, ANH DA SOT SANG CAM TA CHUA CHO ANH DUOC TAI QUA NAN KHOI VA CAM ON MOI ANH EM DA CUA NGUYEN CHO ANH

THANH LE DON SO VA TRANG NGHIEM.  SAU DO CO TIEC MUNG

THAY CO SU HIEN DIEN CUA ANH TRUONG LAO LA THIEU TUONG HUYNH LAC, VA  CAC ANH CHI KHAC.. XIN COI MAY HINH CHUP VOI VANG SAU DAY

XIN TIEP TUC CAU NGUYEN CHO ANH MANH KHOE HON DE CO THE LAI XE VA LAM XONG MOI DIEU ANH UOC NGUYEN

XIN CAM ON ANH THIEP VA GIA DINH DA MOI AN BUA COM THAT NGON MIENG. CHUC ANH MANH GIOI

 

*Tâm tình bốc chậm nhưng rất chắc:

Đó là tâm tình của thành viên An Phong Sydney, suýt chút nữa làm Chi Hội Phó kỳ bầu bán vừa rồi. Đó cũng là tâm tình của người anh người chị trong Gia đình An Phong, nay có đôi lời về tình thần rất An phong:

 

Ra phố hôm nay mọi người đều thấy không khí vui nhộn của ngày lễ hội, kèn xe in ỏi,cờ xí rợp trời,dân Sydney cổ động cho đội banh bầu dục BullDog đấu chiều nay.Âm thanh tiếng kèn xe len lỏi tận cùng mọi ngõ ngách của khu phố và len cả vào trong không gian cần yên tỉnh của Thánh lễ hôm nay, hẳn Chúa trên cao Ngài cũng rất bận rộn với bao nhiêu lời cầu xin "Cho con thắng cá độ...con sẽ, con sẽ...."Mặc cả với Chúa,chắc ai cũng từng trải qua.Như em mới vừa rồi cũng đã cầu xin Chúa giúp con được job con sẽ..con sẽ...cũng là hứa hẹn là mặc cả đấy thôi.Mặc cả hay hứa hẹn. Không khác gì.

 

Chúa cũng thường nhậm lời mặc cả,em thì thấy vậy,chắc Chúa muốn tạo dịp cho chúng mình có thêm tý lòng bác ái của con nhà đạo (bác ái có điều kiện ,,hì hì  ) để thêm lòng tin là Chúa của mình hiện diện khắp mọi nơi ,mọi hang cùng ngõ hẽm....Chúa thật nhân từ và bao dung .Cứ gỏ thì cửa sẽ mở, có đúng thế không? Thế thì có mặc cả được với Chúa để vào được Nước Trời không? Được không vậy anh Tá ? Bởi khi mặc cả thì phần lợi thường hay nghiêng về phía nhỏ bé hơn. Hay cuộc mặc cả  này chắc khó thành công để dê biến thành chiên.

 

Tháng rồi,trong tang lễ của bác Liên, anh Lợi lên đọc tiểu sử của bác Liên.Được nghe thoạt đầu bác đã được Chúa chọn,một trong những người ngoại,để theo Chúa trên hành trình truyền giáo,để rồi sau đó khi bác tự xét mình không đủ khả năng làm linh mục, bác đã xin ra khỏi Nhà Dòng,bác có mặc cả với ơn gọi của Chúa không ?Em không biết,hay phải  chăng cuộc mặc cả đó là bác xin với Chúa cho bác được theo chân Chúa trong một hướng khác,một hành trình khác  Hứa luôn mến Chúa yêu người dạy dổ con cái theo tôn chỉ Ngài,luôn ghi nhớ và yêu thương Nhà Dòng mà bác sẽ bước ra.

Khi chia buồn với gia đình tang quyến, anh Dũng có nhắc đến tâm tình của bác Liên với những trăn trở về các cuộc họp mặt của GĐAP mà bác vắng mặt hay những đóng góp hổ trợ về Nhà Dòng mà bác luôn nhớ đến,điều đó nói lên tâm tình của bác đối với nhà Dòng mà bác đã có thời nương tựa, nơi đó có Chúa nhân từ hứa luôn che chở ủi an.Có phải bác gắng làm tròn phần nào lời hứa hôm nào chăng?

 

Mặc cả đó,hứa hẹn đó nay cũng thêm vào những CPĐĐ mà anh Tá, anh Nhuận miệt mài,rồi anh Thành góp giọng đọc , và của ai nữa mà em chưa nhận ra, (xin thứ lổi ), rồi IT Lâm mình đưa lên Net truyền nhau khắp cùng mọi nơi mọi xứ.Hoặc như anh Lợi góp phần không nhỏ,lừng danh trong việc truyền giáo trong cộng đồng,làm việc Chúa còn nhiều hơn làm việc nhà.Hay như anh Chương mình,lúc nào cũng tình nguyện lúc nào cũng xung phong,mà phải nói rõ là xung phong việc Chúa thôi,chứ nhác như anh Chương thì chẳng dám xung phong ra trận đâu,hì hì nói nhỏ cho các anh nghe ,đi máy bay mà ảnh còn sợ máy bay rớt....phải không anh Chương..Hoặc như liên lạc viên Linh.Hoặc như những đóng góp âm thầm mà hiệu quả của các anh khác nữa.Đặc biệt là sự gần gủi quan tâm,yêu thương lúc nào cũng hiện diện bên cạnh các anh, khi vui cũng như lúc buồn để khích lệ an ủi các anh của Cha Thịnh,dù Cha bận trăm ngàn việc nhưng chẳng khi nào Cha quên các anh.Tâm tình đó em đã nhìn thấy được qua tất cả các anh trong GĐAP chi hội mình hôm nay,luôn yêu luôn nhớ về Nhà Dòng.Thật đẹp, thật dễ thương.Dễ thương là nay nhìn các anh,ai cũng đã ngoài 50 hay tròm trèm, như Lâm của mình còn rất trẻ,mà khi nhắc đến những ngày xưa ở Nhà Dòng, Nhà Tập....(em chẳng hiểu gì cả ) ôi cũng rộn rã,cũng hào hứng um sùm như những tiếng kèn xe sáng nay trên đường phố.Rất rôm rã rất dễ thương.Cũng rất dễ thương và đầy xúc động như cùng nhau hát bài Salve Regina và Oh Ma Mère trong tang lễ của bác Liên hôm nọ,làm bao người không cầm được nước mắt.Nước mắt cho ân tình của các anh.


Như từng dấu chấm nối liền nhau thành dấu gạch rồi thành đường thẳng đường cong.Như từng mẩu tự kết nối với nhau thành từng chữ từng câu.Các anh như những mẫu tự nối kết nhau lại thành Chi Hội Gia Đình An Phong Sydney. Cứ tưởng mai một nhưng ngày qua ngày vẫn tồn tại.Vẫn keo sơn gắn bó,chất keo bền chắc đó là Nhà Dòng Nhà Tập của các anh,là ân sủng là sự quan phòng, là Thiên Chúa của chúng mình,Thiên Chúa của muôn loài.Vòng tay,xin cứ nắm chắc như vậy.


Rất tin.


tkp.

 

*Tất cả chỉ một chữ, cũng rất “được”

 

ĐƯỢC

Sống một kiếp người bình an là được

2 bánh, 4 bánh, chạy được là được.

Tiền ít tiền nhiều, đủ ăn là được

Người xấu người đẹp dễ coi là được.

 

Người già, người trẻ miễn khỏe là được

Nhà giàu, nhà nghèo, hòa thuận là được

Ông xã về trễ, miễn về là được

Bà xã càu nhàu, thương mình là được.

 

Tiến sĩ cũng được, bán rau cũng được

Tất cả phiền não, biết xả là được

Kiên trì cố chấp, biết quên là được

Bạn bè xa gần, nhớ nhau là được.

 

Không phải có tiền, muốn gì cũng được

Tâm tốt việc tốt, số mệnh đổi được

Ai đúng ai sai, trời biết là được

Tích đức tu thân kiếp sau cũng được.

 

Thiên địa vạn vật, tùy duyên là được

Có rất nhiều việc, nhìn xa sẽ được

Nói nhiều như vậy, hiểu được là được

Vẫn còn chưa hiểu, xem lại là được.

 

"Hạnh phúc đơn giản là khi mình thấy ĐƯỢC" có đúng không anh? Phải thế không chị? Anh và chị trong thánh hội ở trần gian!

 

*Những ngày vui ở Sydney:

Ngày vui, nói ở đây là ngày rất vui và cũng mừng, vì anh chị em trong gia đình An Phong Sydney lại được dịp đón tiếp Lm Giuse Trần Ngọc Thao, cựu Giám tỉnh và đương kim cố vấn Nhà Sàigòn qua Úc dự lễ phong chức Giám Mục thành Ballarat cho cựu Giám tỉnh Paul Bird. Đây là lần thứ hai, cha Trần Ngọc Thao lại ghé bến Sydney sau 20 năm chẵn chòi.

Mời bà con cùng chung vui với Chi Hội Trưởng Nguyễn Văn Dũng và Chi Hội Phó Phạm Văn CHương, qua thư mọi họp mặt ở bên dưới:

 

Gia Đình An Phong

Chi Hội Sydney

 

Nhân dịp Cha An Phong Trần Ngọc Thao

Cựu Giám Tỉnh vào những năm trước sau 1992

và nay là Cố Vấn nhà Sài gòn sang Úc

Gia Đình An Phong Chi Hội Sydney sẽ tổ chức một buổi đón tiếp Cha.

Vào lúc 3:30 chiều, ngày Chủ Nhật 28/10/2012

(Sẽ có Thánh Lễ vào lúc 4 giờ chiều)

Tại nhà anh Vũ Nhuận

Số 22 Tudor Cres - Cecil Hill - NSW 2171

Kính mời tất cả các anh chị em hội viên và thân hữu đến tham dự.

 

                                                                                  CHT : Nguyễn Văn Dũng

                                                                                   CHP : Phạm Văn Chương

 

*Thư từ qua lại về chuyến viếng của Lm CỰu Giám Tỉnh:

Những thông tin bên dưới, dĩ nhiên dành cho các bạn ở xa không có cơ hội tham dự buổi họp mặt 20 năm gặp lại với cha Giuse Trần Ngọc Thao, cựu Giám Tỉnh DCCT VN.

Trước nhất là những giòng chữ của Cha Thao gửi một vài anh chị trong Gia Đình An Phong

 

      Anh Chị Trần Ngọc Tá thân mến,

     Xin gửi lời mến chào và vấn an Anh Chị và quý quyến.

     Hết lòng cám ơn Anh Chị đã có nhã ý gửi cho tôi khá nhiều quà.

     Mấy ngày trước đây, tôi đã bắt đầu soạn E-mail để cám ơn Anh Chị ; sau đó, vì phải đi đây đó với

     gia đình cô em, nên không kịp hoàn thành E-mail để gửi trước khi đến họp mặt với GĐAP ở Sydney

     ngày CN 28.10. Xin Anh Chị thông cảm cho tôi về sự chậm trễ hồi âm nhé.

     Bầu khí thật ấm cúng, thân tình chiều hôm qua để lại nơi tâm hồn tôi nhiều ấn tượng sâu xa. Xin

     chân thành cám ơn Anh Chị và toàn thể Chi Hội về cuộc họp Gia đình đó.

     Tôi sẽ  rời Sydney về lại VN ngày 2.11. Xin thân chào Anh Chị và mọi thành viên của Chi Hội. Xin

     Chúc Cứu Thế ban phúc lành Anh Chị, quý quyến và mọi thành viên của Chi Hội trong GĐAP !

                                                                            Thân mến,

                                                                   Joseph Trần Ngọc Thao

 

Tiếp theo, là đôi giòng từ người em gái của cha, tức chị Trần Thị Tuyết Thu ở Dean Park, Sydney:

 

Chị Tá thân mến !

Cha Thao có khoe ra 5 tấm hình cha chụp chung với các anh . Thu gửi cho anh chị xem , chắc các anh có nhiều tấm đẹp hơn . Cha nói có 1 tấm hình chụp toàn thể anh chị . Vậy khi nào tiện anh chị gởi cho Thu qua Email . Hôm đó rất tiếc tụi em không tham dự được vì có buổi họp mặt quan trọng trong KQ . Cha rất vui và hân hạnh được các anh chị đón tiếp rất là nồng hậu và chu đáo , những ân tình này chúng em và Cha sẽ không bao giờ quên .... Mến chào anh chị .

 

Tiếp nữa, là giòng chảy của phu nhân và là người đại diện cho Chi Hội Trưởng Gia Đình An Phong Sydney nhiệm kỳ 2012-2013, như sau:

 

Hai mươi năm nhìn lại....

Thời gian cũng đủ dài để có những đổi thay.

Trước nhất là chúng ta thấy được cơ ngơi nhà anh chị Vũ Nhuận .....có vẻ ăn nên làm ra...

Thứ đến là thời gian cũng điểm tô cho chúng mình nào là dấu chân chim,nào là tóc trắng như lau nào là huyết áp nào là tê thấp,....thế  nhưng bầu nhiệt huyết vẫn đầy, cười vẫn tươi,trí vẫn sáng lòng còn tin,tim luôn rộng mở  và tay nắm chặt tay chan chứa tình đoàn kết yêu thương trong tình Chi Hội.

Và đó là ưu điểm để cho Chi Hội chúng mình vẫn vững mạnh ,bởi vì chúng  mình đến với nhau trước nhất bởi các anh yêu quá khứ, rồi đến với nhau vì yêu quý nhau hôm nay và đến với nhau vì chung một Đức Tin cho sau này, không vì một tư lợi nào cả.Mong mãi mãi như vậy.

Đời người được mấy lần 20 năm ? Tình của các anh với Nhà Dòng, tình của Chi Hội mình với nhau nhìn lại thấy đầy những kỹ niệm đẹp.Cũng đã được mấy lần 20 năm rồi.

Xin Chúa nhân từ luôn che chở chúng con.

Xin ban cho Cha Thao được nhiều sức khỏe.

Xin ban cho Chi Hội chúng con lúc nào cũng yêu thương gắn bó với nhau như hôm nay.

 

*Tin Buồn về người thân:

Anh Mười Hai vừa chuyển cho Dân Gầy một tin buồn về thân phụ của các anh Nguyễn Duy Vũ và Nguyễn Duy Lâm, cựu đệ tử Vũng Tàu, Chợ Lớn và Thủ Đức, rất như sau:

 

Xin bác Tá chuyển ai tín này đến bác Chi Hội trưởng GĐAP Sydney (vì chờ mãi chưa thấy ai báo tin):

 

Thân phụ của anh Nguyễn Duy Lâm, cụ Phanxicô Xaviê NGUYỄN DUY HIỀN vừa được Chúa gọi về sáng hôm qua 22/11/2012 tại Việt Nam.

Nghi thức tẩn liệm lúc 10g00 ngày 23/11/2012

Thánh lễ an táng sẽ cử hành lúc 6g00 ngày 26/11/2012 tại Đền Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp Sài Gòn (38 Kỳ Đồng, quận 3) do cha Giám Tỉnh chủ sự.

Tư gia: 42 Trần Quang Diệu, P.14, Q.3

Đinh Hữu Thoại, CSsR Việt Nam

 

*Và đôi lời phân ưu rất sớm từ các anh/chị Chi Hội Trưởng/Phó Chi Hội Sydney, như sau:

 

Nhan duoc hung tin than phu cua anh Nguyen duy Vu va Nguyen duy Lam

vua ta the tai Vietnam,giadinh anphong Sydney xin chan thanh chia buon

cung hai anh ve su mat mat qua to lon nay. Nguyen xin Chua thuong xot

linh hon Phanxico Xavier duoc huong nuoc Chua muon doi.

Thanh kinh phan uu cung hai anh va tang quyen,

TM  Giadinh anphong Sydney

CHT Nguyen van Dung

 

Và phản hồi từ bà xã của Nguyễn Duy Lâm, cũng rất sớm:

 

Em cam on Anh da dien thoai chia buon voi gd em, em goi anh Chuong trinh tang le cua Ba anh Lam, xin anh cung chung loi cau nguyen voi tui em.  Anh Lam va gia dinh rat mung co Cha Giam Tinh DCCT se lam le an tang cho Ong Cu.  Kind regards

Nguyễn Ngọc Phương Anh

           

*Lại một hung tín từ quê nhà:

 

Tin mới nhận ngày 1/12/12 từ Tỉnh Dòng Việt Nam như sau:

 

Cha Stêphanô Chân Tín vừa qua đời lúc 16:15, ngày 01.12.2012

                                              CÁO PHÓ

Tỉnh DCCT Việt Nam, và gia đình huyết tộc trân trọng báo tin:

CHA STÊPHANÔ NGUYỄN TÍN ( CHÂN TÍN ), DCCT

Sinh ngày 15.11.1920, tại làng Vạn Xuân, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên – Huế

Thuở nhỏ học tại trường làng Vạn Xuân

1933 – 1943: gia nhập Đệ Tử viện DCCT Huế

1943 – 1944: vào Tập viện DCCT tại Hà Nội

Ngày 2.8.1944: Khấn lần đầu trong DCCT

1944 – 1949: Học tại Học Viện DCCT Hà Nội

Ngày 6.6.1949: Lãnh sứ vụ Linh Mục

1950 – 1953: Du học tại Rôma với học vị tiến sĩ Thần Học ( 6 năm 1953 )

1953 – 1961: Giáo sư Thần Học và Giám Đốc Học Viện DCCT Đà Lạt

1961 – 1978: Giám Đốc Nguyệt san Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, Bán Nguyệt san Tuổi Hoa và xuất bản sách Tuổi Hoa ( xanh, đỏ, tím ), Chủ nhiệm Nguyệt san Đối Diện, Đứng Dậy,…

1990 – 1993: Bị chính quyền quản thúc tại Nhà Thờ Cần Thạnh, Cần Giờ, Sàigòn.

1990 – 2007: Truyền giáo tại Giáo Điểm An Thới Đông, Cần Giờ, Sàigòn

2007 – 2012: nghỉ hưu tại Nhà Hưu Dưỡng của Tỉnh Dòng

Được gọi về Nhà Cha lúc 16g15 chiều thứ bảy 1.12.2012,

Hoàn tất hành trình 92 năm ở trần gian, 68 năm Tu Sĩ DCCT,  63 năm thi hành sứ vụ Linh Mục.

Thánh Lễ nhập quan cử hành lúc 16 giờ 30 chiều Chúa Nhật 2.12.2012.

Nghi thức di quan từ Tu Viện ra Đền Đức Mẹ, cử hành lúc 21 giờ tối thứ hai 3.12.2012.

Thánh Lễ An Táng cử hành lúc 6 giờ sáng thứ ba 4.12.2012, tại Đền Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp Sàigòn.

Hoả táng tại Bình Hưng Hoà.

Xin hiệp lời cầu nguyện cho cha Stêphanô Chân Tín. Xin miễn phúng viếng vòng hoa các loại.

Cha Stêphanô tâm sự:Lý tưởng tu trì và Linh Mục DCCT thật cao đẹp. Tôi cũng đã cố gắng vươn lên để phục vụ ơn cứu độ, mặc dầu không tránh được những lỗi lầm. Tạ ơn Chúa, Đức Mẹ, cha Thánh Anphong và Nhà Dòng, cùng tạ lỗi trước bao nhiêu ân huệ của Thiên Chúa đã tuôn đổ trên cuộc đời bất xứng của tôi…”

Điểm nổi bật của cuộc đời Cha Stêphanô là luôn nỗ lực loan báo Tin Mừng trong mọi tình huống.

Văn Phòng Tỉnh DCCT Việt Nam

 

Tường thuật thánh lễ an táng cha Stêphanô Chân Tín

Đăng bởi cheoreo lúc 12:08 Chiều 4/12/12

 

Trước thánh lễ, một thầy Học viện đã đọc tóm tắt tiểu sử của cha Stêphanô Chân Tín

Khi ca đoàn các thầy Học viện và cộng đoàn hát Ca nhập lễ, đoàn đồng tế hơn 100 linh mục từ phòng khách của Tu viện Sàigòn tiến vào nhà thờ.

Thánh lễ do cha Vinhsơn Phạm Trung Thành, Giám tỉnh DCCT chủ tế và chia sẻ Lời Chúa. Cùng dâng thánh lễ có cha Gioan.B Huỳnh Công Minh, Tổng đại diện Tổng giáo phận Sàigòn, cha Giuse Ngô Sĩ Đình, Giám tỉnh dòng Đaminh, hơn 100 linh mục trong và ngoài Giáo phận, một số tu sĩ nam nữ thuộc các dòng tu và khoảng hơn 1000 người là thân nhân, chị em giáo dân có đạo, không có đạo cũng đến tham dự thánh lễ tiễn đưa cha Stêphanô.

Hơn 100 linh mục trong và ngoài Dòng tới tham dự thánh lễ an táng cha Stêphanô

Mở đầu thánh lễ, cha chủ tế  Vinhsơn Phạm Trung Thành, Giám tỉnh DCCT đã ngỏ lời chào tới quý linh mục, tu sĩ nam nữ, anh chị em giáo dân đã đến tham dự thánh lễ.

Trong bài giảng cha Vinhsơn Phạm Trung Thành đã dựa vào Tin mừng Gioan nói về việc Đức Giêsu cho anh Lazarô chết trong mồ bốn ngày được sống lại để chia sẻ với cộng đoàn.

Khi nói về cha Stêphanô, cha Vinhsơn nói: “Công tội tùy từng góc nhìn, công tội tùy từng lập trường, thế nhưng chắc chắn một điều không ai trong chúng ta có thể kết án cha Stêphanô, bởi vì Đức Kitô, Con Thiên Chúa đã chết cho chúng ta, thì ai có thể lên án chúng ta?”

“Công tội để cho lịch sử phân minh nhưng Thiên Chúa lại là Chúa của lịch sử, nên quyền thuộc về Thiên Chúa. Và chúng ta biết, Thiên Chúa của chúng ta là một Thiên Chúa giàu lòng xót thương, và tình yêu của Ngài dành cho con người, dành cho mỗi con người chúng ta vô bờ bến.”

“Truyền thống của người VN khi một người nằm xuống chúng ta thường rất dễ tha thứ cho nhau. Con ước ao và nguyện xin các Cha, các Bề trên, các anh chị em tu sĩ và tất cả mọi người, giờ phút này trong tình yêu thương của Thiên Chúa, trong tấm lòng hiệp thông và trong truyền thống tốt đẹp của dân tộc, chúng ta cầu nguyện cho Cha già, chúng ta tha thứ cho ngài những gì ngài làm cho chúng ta buồn khi ngài còn sinh tiền, những gì ngài làm cho chúng ta bị thiệt hại có khi là vô tình, không cố ý.”

“Truyền thống của dân tộc và lòng yêu mến của Thiên Chúa ban, chúng ta lại có quyền nhìn vào những điều cao đẹp của một người đã ra đi, để nhận ra đó hồng ân và quyền năng của Thiên Chúa.”

“Trong biến cố năm 1987, biến cố Hội Thánh tuyên phong các Thánh Tử Đạo VN thì Cha Stêphanô Chân Tín là một trong những người ít ỏi dám đứng lên để bênh vực Giáo hội, dẫu rằng bối cảnh xã hội thời bấy giờ rất khó khăn. Sự đóng góp của Cha Già vào trong sự nghiệp và trong biến cố tuyên phong các Thánh Tử Đạo VN, dẫu nhỏ nhoi thôi, nhưng đã góp phần cho Giáo hội của chúng ta hôm nay có một lễ Thánh Tử Đạo, có cả ngàn tượng các Thánh Tử Đạo và có cả bao nhiêu sách vở viết về các Thánh Tử Đạo và đây là một niềm hãnh diện cho cả Giáo Hội VN về tổ tiên cha ông của mình. Chúng ta hãy cảm tạ Chúa cho sự quyết định, sự can đảm và lòng quả cảm của Cha Già.”

“Cuộc ra đi của Cha Già từ 1990 – 1993, bị quản thúc tại An Thế Đông. Cha Già đã đóng góp và khởi công xây dựng giáo điểm An Thới Đông mà ngày hôm nay, một số đại diện con cái Cha Già ở An Thế Đông đã xin chúng tôi được chịu tang ngài như là những đứa con mà ngài sinh ra. Khi đó, Cha Già đã 73 tuổi vẫn cứ ngồi trên chiếc xe hai bánh vượt qua những con đường sình lầy, trơn trượt của vùng của An Thới Đông, vẫn ngồi trên những ghe xuồng để len lỏi vào những kênh rạch, vẫn ngồi trên những căn nhà lá, nhà tranh vách đất, hở trong hở ngoài để ôm những đứa con nghèo đói, những đứa con ở bên nách của một Thành phố lớn lao văn minh nhưng vẫn chìm đắm trong đau khổ và nhất là chưa được biết Chúa. Suốt mười mấy năm qua, Cha Già vẫn một nhịp điệu đi đến với giáo điểm này từ một giáo điểm trắng để ngày hôm nay cả Giáo Hội chúng ta hãnh diện việc loan báo Tin Mừng có trên 500 tín hữu ở giáo điểm an Thới Đông và có các tín hữu khác ở các giáo điểm khác, bên cạnh An Thới Đông như là Lý Nhơn, An Nghĩa, Doi Lộc. Thiên Chúa đã dùng cha già trong việc loan báo Tin mừng.”

Cha Giám tỉnh cám ơn sau thánh lễ

Cha Giuse Hồ Đắc Tâm, Bề trên tu viện DCCT Sàigòn cử hành nghi thức tiễn biệtCác thầy Học viện khiêng linh cữu cha Stêphanô ra xe tang

Cuối thánh lễ, cha Giám tỉnh thay mặt Tỉnh Dòng CCT và gia đình linh tông, huyết tộc cha Stêsphanô cám ơn cha Tổng đại diện, quý Bề trên, quý linh mục, nam nữ tu sĩ và cộng đoàn.

Trong lời cám ơn, cha Giám tỉnh nói: “Có rất nhiều những lời chia buồn, những điện thư từ khắp nơi trên toàn thế giới và ở Việt Nam gửi đến cho Nhà dòng chúng con. Từ  những tổ chức, từ những cơ quan về nhân quyền của thế giới, các báo chí nước ngoài, các cá nhân trong nước, các tôn giáo bạn; Từ những người nghèo, những người xem ra là tầm thường trong xã hội, đến những người quyền cao chức trọng trong xã hội, mấy ngày nay đã gửi điện, điện thoại, đã đến hiệp thông với nhà Dòng chúng con.”

“Như Lời Chúa đã nói, cha Già của chúng con đã ra đi bình an và được nghỉ ngơi trong Chúa. Với tư cách là người chịu trách nhiệm trong Tỉnh dòng, với tư cách là người con, người học trò của cha Già, con xin quý cha  và mọi người tha thứ cho cha Già của chúng con những gì mà Cha Già chúng con đã mắc phải, đã làm phiền lòng, đã làm thiệt hại những ai khi Cha Già chúng con còn sống. Xin thương tha thư và cầu nguyện cho Cha Già chúng con. Con tin rằng, Cha Già đã ra đi bình an và Cha Già sẽ phù hộ cho chúng ta.”

Trước khi cha Giám tỉnh cám ơn cộng đoàn, Cha Giuse Hồ Đắc Tâm, Bề trên tu viện DCCT Sàigòn đã cử hành nghi thức tiễn biệt cha Stêphanô.

Khi linh cữu được đưa ra xe cuối nhà thờ, rất đông anh chị em đã đứng tiễn biệt cha Stêphanô.  Khoảng 200 người, gồm các cha các thầy trong Dòng, bà con huyết tộc và những người yêu mến tiễn cha Stêphanô tới nhà hỏa táng Bình Hưng Hòa.

Hôn may, chúng tôi cũng thấy một số anh chị em thường lên tiếng cho công lý và hòa bình đã có mặt  trong thánh lễ cùng như tại khu vực hỏa táng. Bên cạnh đó chúng tôi cũng thấy một số an ninh mật vụ tham dự thánh lễ và  tiễn cha  Stêphanô tới nơi an nghỉ cuối cùng.

Tại nhà hỏa táng Bình Hưng Hòa, cha Giuse Trịnh Ngọc Hiên, Giám đốc Học viện DCCT Việt Nam đã cử hành nghi thức cuối cùng, trước khi linh cữu cha Stêphanô được hoản táng.

Thánh lễ an táng và nghi thức hỏa táng cha Stêphanô Chân Tín kết thúc lúc 8 giờ 45.

Sau thánh lễ, nhiều anh chị em đứng cuối nhà thờ tiễn linh cữu cha Stêphanô

 

Cả cuộc đời của cha Stêphanô, ngài "luôn cố gắng rao giảng Tin mừng trong mọi hoàn cảnh". Xin Thiên Chúa đón nhận cha vào Nước Trời

 

*Tuổi già là cái chi chi:

Chi chi hay gì gì, cũng mặc. Cứ đọc giòng thơ văn thi tứ cả tiếng Tây lẫn tiếng Việt, hẳn bà con mình sẽ rõ, rất như sau:

 

Je croyais que vieillir. . .

Je croyais que vieillir me rendrait bien maussade,

Craignant chaque saison, les années, le tapage,

Le grand vent et la pluie, l’esprit qui se dégrade,

Les cheveux clairsemés, les rides du visage.

 

Et puis je m’apercois que vieillir n’a pas d’âge,

Qu’il ne faut point gémir, au contraire chanter

Et même, à petits pas, les jours ont l’avantage

D’être beaux et trop courts quand ils sont limités.

 

Je croyais que vieillir c’était le ciel tout gris,

Le printemps sans les fleurs, les lèvres sans sourire,

Les fleurs sans chansons, les arbres rabougris,

Un livre sans histoire, un crayon sans écrire.

 

Et puis je m’aperçois que vieillir rendre bien sage,

Que je vis chaque instant sans penser à demain,

Que je ne compte plus les années de mon âge,

Peu importe le temps, le crayon à la main.

 

Je croyais que vieillir transformerait mon âme,

Que je ne saurais plus contempler les étoiles,

Que mon cœur endurci n’aurait plus cette flamme,

Qui transforme la vie lorsque le ciel se voile.

 

Et puis je m’aperçois que les plus belles roses

Fleurissent à l’automne et sous mes yeux ravis,

Je respire très fort ce doux parfum que j’ose

Garder pour embaumer l’automne de ma vie.

Marcelle Paponneau

(La voix de l’Hospitalité)

 

.Cứ Tưởng Già …(phỏng dịch theo Marcelle Paponneau)

Tôi cứ tưởng nỗi buồn tênh tuổi tác,

Tháng năm tàn gió dập với mưa sa,

Tiếng ồn ào tâm hồn ta tản mác,

Tóc bạc dần gương mặt dưới làn da.

Có ngờ đâu tuổi đời không phải vậy,

Đừng thở than cho mộng ước tàn đi,

Từng bước nhỏ hẹp dần cho ta thấy,

Nỗi mến yêu ngắn đậm tuổi xuân thì. Với ảo ảnh một bầu trời đen xám,

Với mùa thu không hoa nở môi cười,

Với câu hát không gợi ngầm lá thắm,

Với sử xanh không bút  tả nên lời.

Nhưng đây nhé, tuổi đời thêm hiểu rộng,

Mỗi bước dồn không nghĩ đến ngày mai,

Cùng năm tháng già đi ta đâu thấy,

Ta không màn biết tuổi chốn thiên thai.

Tâm hồn ta không hề thay đổi nữa,

Ngàn trăng sao cho ước hẹn ngày mai,

Tim ta đã không còn tham mộng ước,

Khi trời trong nhẹ cuốn tháng năm dài.

Rồi ta ngắm những đóa hồng rộn nở,

Giữa mùa thu ta mở mắt nhìn đời,

Mùi thơm ngát nhẹ nhàng vương hơi thở,

Ta ôm choàng gối mộng giữa hoa rơi.

TTT(2012)

 

 

 

 

 

 

 

.TÔI TƯỞNG rằng già...

 

 

(Phỏng theo bài Je croyais que vieillir ... cùa Marcell Paponneau)

 

 

Tôi cứ tưởng tuổi già nhiều trầm cảm

Sợ tháng năm mưa bão sẽ cuốn đi

Làm sụp suy trí óc với những gì...

Như tóc rụng...nếp nhăn hằn trên mặt .

 

 

Nhưng thật ra già không đo bằng tuổi

Hãy vui tươi mà không phải than van

Vì thời gian quả là bạc là vàng

Quá ngắn ngủi để ta còn hưởng phước !

 

 

Tôi cứ tưởng khi già trời u ám

Tắt nụ cười..và xuân đến không hoa

Chẳng còn hương...tay run rẩy, mắt lòa

Ta sẽ trở thành con người vô dụng!

 

Nhưng thật ra, càng già càng thấy rộng

Sống bây giờ , không bận bịu ngày mai

Chẳng cần đếm tuổi ta và tuổi ai

Cứ vui sống,còn bao lâu không quan trọng .

 

Tưởng khi già tâm hồn ta thay đổi

Sẽ không còn thích ngắm những vì sao

Trái tim không còn rực nóng máu đào

Không tha thiết như ngày còn son trẻ.

 

Nhưng giờ đây tự mình tôi tìm thấy

Những đóa hồng đang rộ nở bên tôi

Mùi hương thơm tỏa tràn ngập đây rồi

Tôi hoan hỷ sống cuối đời tôi...thật đẹp !.

 

 

Jun, 2nd. 2012

motthoi

 

 

 

 

 

 

.Cứ ngỡ khi tuổi già... - Hoang Phong chuyển ngữ

 

Cứ ngỡ khi tuổi già...

Ta cứ ngỡ tuổi già toàn tẻ nhạt,

Ngại bốn mùa năm tháng lướt qua nhanh,

E gió mưa ủ dột đáy lòng ta,

Ngại tóc thưa, da mồi trên gương mặt.

Bỗng chợt thấy già nua nào có tuổi,

Chẳng buồn lo, hân hoan lòng tràn ngập.

Ngày tháng trôi, ra đi từng bước nhỏ,

Tuyệt vời thay, ngăn ngắn một ngày qua.

Ta cứ ngỡ tuổi già trời ảm đạm,

Xuân không hoa, miệng thiếu cả nụ cười,

Hoa biếng hát, ủ rũ lá cành khô.

Trang sách buồn, ngòi bút chừng khô mực.

Nhưng bỗng thấy tuổi già sao thanh thản,

Phút này đây, chẳng nghĩ đến ngày mai.

Đếm làm gì, năm tháng cứ trôi đi.

Mặc thời gian, nâng bút một vần thơ.

Ta cứ ngỡ tuổi già lòng héo úa,

Còn lúc nào bay bổng với trăng sao?

Tim khô cằn không một tia lửa ấm,

Sưởi lòng ta giữa khung trời giá buốt

Bỗng chợt thấy một đóa hồng nở rộ.

Say ngắm hoa rạng rỡ dưới trời thu,

Ta hít mạnh giữ lại mùi hương cũ,

Sưởi lòng ta trong những buổi chiều thu.

(Nguyên bản bằng tiếng Pháp của nữ sĩ Marcelle Paponneau.Bà đã 77 tuổi và gần như mù loà, thế nhưng đã đạt được nhiều huân chương và khoảng 192 bằng khen thưởng)

Bures-Sur-Yvette,

Hoang Phong chuyển ngữ

 

Je croyais que vieillir. . .

Je croyais que vieillir me rendrait bien maussade,

Craignant chaque saison, les années, le tapage,

Le grand vent et la pluie, l’esprit qui se dégrade,

Les cheveux clairsemés, les rides du visage....

 

 

             

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Ċ
DIA80.pdf
(1127k)
VN Enterprise,
Dec 13, 2012, 3:31 PM
Comments