Duc In Altum‎ > ‎

DUC IN ALTUM - 79

Số 79 – Quý 3/2012

 

Ghi nhanh

Ngày Gia đình An Phong Sydney mừng Giỗ Tổ

và Gây Quỹ yểm trợ Dòng Mẹ VN

Phóng viên Mây Chiều ở Úc

 

Cả tuần nay, hầu như ngày nào trời cũng mưa tại Sydney và bầu trời thường xuyên u ám. Rồi, những làn khí lạnh của mùa đông như ập xuống vào mỗi tối, cái bầu không khí se lạnh làm cho ai nấy ngại ngùng bước ra khỏi nhà.

Nhưng bữa nay, quả thực là một hồng ân của Thiên Chúa, trời bỗng nhiên trở nên ấm áp và nắng ráo. Cảnh vật trở nên sinh động hơn hẳn những ngày mùa đông lạnh lẽo. Sinh hoạt sẽ chính thức bắt đầu lúc 3 giờ chiều, nhưng gia đình anh chị Vũ Nhuận và Bích Nông là những người tới đầu tiên.

Không những anh chị, mà cả các cháu cũng tới dự lễ. Cô Trần Thị Bích Huyền là người đến kế tiếp. Cô là cháu của anh Tá, tuy là thân hữu nhưng lần hội họp nào cô cũng đến dự và còn đóng góp hiện kim rất rộng rãi. Gia đình anh chị Mai Tá là những người đến tiếp theo đó là Anthony Trần, trưởng nam của anh chị Mai Tá, không những đến chia sẻ mà còn là người trẻ đóng góp rộng rãi nhất. Rồi lần lượt anh chị em cũng đến đông đủ, lần này có mặt cả anh chị Nguyễn An Bình vốn từ lâu vắng mặt, nay cũng tới tham dự lễ cùng anh em.

Một điểm nữa cần nói là cha Mai Văn Thịnh, người anh em thân thương của chi hội, tuy không còn ở Sydney nữa, mà làm việc tông đồ ở Melbourne, nhưng cha cũng một lòng cùng chi hội luôn có mặt trong hai buổi họp chínhy của chi hội vào dịp Tết Âm lịch và ngày mừng lễ thánh Tổ. Lần này, còn có cả thày sáu Trần Xuân Anh DCCT Úc đi theo cha Thịnh tới thăm chi hội. Thày Xuân Anh sắp lĩnh nhận chức linh mục vào khoảng thoáng 11/2012, tại Melbourne.

 Đúng 3 giờ chiều, thì anh em tụ họp trong nhà để cha Thịnh bắt đầu cử hành thánh lễ. Thời tiết đang mùa đông lạnh, nhưng phòng khách nhà anh chị Phạm Văn Chương chật ních anh em, nhiều người phải ngồi ngoài hành lang để dự lễ. Cha Thịnh đã dành phần thuyết giảng cho thày sáu Xuân Anh. Trong bài giảng, thày đã nói tới kinh nghiệm bản thân việc thày đi rao giảng Tin Mừng cho những người mà thày cho là khó nghèo nhất, khó nghèo tới mức cuối cùng.

Sau thánh lễ, đến phần bầu cử Chi Hội Trưởng và Chi Hội Phó mới cho hai năm tới. Theo thông lệ bất thành văn, cứ hai năm vào dịp mừng lễ thánh tổ An Phong thì anh em sẽ bầu cử Chi Hội Trưởng mới. Và Chi Hội Trưởng mới sẽ chọn Chi Hội Phó để phụ giúp mình trong công việc. Anh Vũ Nhuận vốn là người thường hay tạo ra vua, đã đề nghị người bạn trẻ Nguyễn Văn Dũng, cữu Chi Hội Trường Phạm Văn Chương thì đề nghị chị Nguyễn Thị Kim Phụng là Chi Hội Trưởng. Nếu chị Phụng đắc cử, thì đây là lần đầu tiên chi hội Sydney có một nữ Chi Hội Trưởng.

Cuộc bầu cử diễn ra khá sôi nổi, và trong phần đếm phiếu bầu, anh Nguyễn Đắc Dzũng là người đếm phiếu đã tuyên bố kết quả cuộc bàu cử năm 2012: anh Nguyễn Văn Dũng được 20 phiếu, chị Nguyễn Thị Kim Phụng được 5 phiếu và đương kim Chi Hội Trưởng Phạm Văn Chương được 1 phiếu. Tất nhiên nếu anh Chương bầu lại hoặc tự nguyện hy sinh thêm, thì cũng không được vì lý do anh em đã nhất trí luôn phiên vác thánh giá. Mà kể cũng lạ, cái chức Chi Hội Trưởng đối với các hội đoàn khác thì nó thơm như múi mít, thế nhưng đối với chi hội Sydney thì chẳng ai ham mà còn tìm cách tránh né, như trường hợp lần này, có một anh nghe tin phong phanh mình sẽ được bầu, thế là anh bèn làm một đường “tẩu vi thượng sách”.

Sau khi được anh Vũ nhuận, người tổ chức bầu cử, chính thức hỏi anh NVDũng xem anh ta có đồng ý không, thì tình hình thật tốt đẹp là anh Dũng đã nhận làm Chi Hội Trưởng cho hai năm tới. Còn việc anh em đề cử chị Nguyễn Thị Phụng làm Chi Hội Phó, vì chị được 5 phiếu, thì anh Dũng không chịu, thấy có vẻ gia đình trị quá. Anh hứa sẽ chọn Chi Hội Phó khi anh em ăn tiệc sau đó. Lễ bàn giao đã được tổ chức ngay lập tức giữa cựu CHT Phạm Văn Chương và CHT mới Nguyễn Văn Dũng.

Sau phần bầu cử, tới phần quan trọng nhất của ngày mừng lễ là anh em đóng góp tiền để yểm trợ công việc truyền giáo của DCCT bên quê nhà. Theo thông lệ, thì từ mấy năm nay, anh em đều đóng góp số tiền vượt quá qui định, đặc biệt năm nay, ngay trong ngày mừng lễ thánh An Phong, số tiền thu được đã lên tới con số $6,200, một số tiền kỷ lục chưa từng có, và sau ngày này cũng còn có những đóng góp thêm nữa.

Hy vọng món quà này của chi hội Sydney sẽ đem lại một niềm vui và sức mạnh cho DCCT Việt Nam, mà anh em dầu đã xa cách nhà Dòng, nhưng vẫn nhớ tới công ơn dưỡng dục của các cha DCCT Vuiệt Nam và nhất là các cha Canada đã hy sinh tận tuỵ để đào tạo chúng ta nên người, nếu không là linh mục Dòng thì cũng trở thành những con người tốt.

Sau phần đóng góp tiền/quà, thì đến lúc anh em ra sân sau để cùng thưởng thức những món ăn do mỗi nhà mang tới để cùng chia sẻ, nào là thịt heo quay tại nhà do bà xã anh Chương chế biến, mì xào, xôi vò của cựu CHP Đàm Thị Mai đem tối, bánh bột lọc của chị Phụng, và nhiều món ăn khác nữa, món nào cũng ngon miệng.

Tuy nhiên, vì đồ ăn thức uống quá nhiều, mỗi anh em đều vui vẻ mang về nhà để ăn tiếp. Tiệc đang lúc hào hứng thì cũng là lúc anh CHT mới Nguyễn Văn Dũng thông báo đã chọn mặt gửi vàng trao cho anh Phạm Văn Chương làm CHPhó.

Theo lẽ thường tình, từ trưởng xuống phó thì ít ai thích, một là như bị giáng cấp, hai là đang có quyền quyết định, lại phải đi phục tùng người khác, nhưng vì mục đích là phục vụ chi hội, anh Chương đã nhận lời làm CHPhó cho anh Dũng. Quả thực là một cuộc bầu cử kỳ lạ, nếu nhìn bằng con mắt thế gian.

Tuy còn sớm, nhưng vì là mùa đông nên 6 giờ chiều mà trời đã tối mịt. cái lạnh của ban đêm đang buổng toả bao trùm vạn vật, anh em nào còn ở lại thì vào trong nhà, còn một số anh em thì đã kiếu từ ra vaề để mai còn dạy sớm đi làm, nhất là các anh làm theo ca.

Và ngày vui nào thì cũng phải đến lúc chấm dứt. Thế là những lời chào chúc như “về nhé” “bye bye” liên tục được tung lên, và đến phút cuối thì tất cả anh em đã ra về, trả lại cho gia đình anh chị Chương, người đứng ra đón nhận anh em lần mừng lễ này. Một bầu không khí đến im lặng lạ thường, âm vang của ngày mừng lễ hình như vẫn còn phảng phất đâu đây.

Mây Chiều ghi nhanh.      

 

Danh sách anh chị Sydney góp tiền

yểm trợ công cuộc truyền giáo

của Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam

 

1.  A/c Nguyễn Tiến Hùng và Nga                                       $500

2.  Hai cháu trần Đàm Thiên Ân & Minh Thư                     $100

3.  A/c Nguyễn Kim Linh                                                       $150

4.  Bà Quả Phụ nguyễn Văn Kim                                         $100

5. A/c Nguyễn Thị Đào & Hưởng                                        $200

6.  Chị Nguyễn Thị Phụng (tự Tính)                                     $150

7.  Chị Hoàng Thị Thả                                                           $120

8.  A/c Nguyễn Hồng Phước & Mai                                    $130

9.  Bà Ngô Thị Bá                                                                 $120

10.A/c nguyễn Duy Lâm                                                       $200

11. A/c Vũ Hải Nam                                                              $50

12.A/c nguyễn Văn Dũng & Phụng                          $300

13. A/c Lê Duy Phước                                                         $150

14.A/c Vũ Nhuận &Bích Nông                                              $300

15. Nhóm g/đ anh Vũ Nhuận                                                $1,000

16. A/c Nguyễn An Bình                                                        $100

17. A/c Nguyễn Minh Tâm                                                    $100

18.Anh Trần Kajang                                                  $100

19. A/c Trần Ngọc Tá & Mai Đàm                           $450

20.A/c Mai Trung Thành & Uyển                                          $50

21. Cô Trần Thị Bích Huyền                                     $150

22. A/c Phạm Văn Chương & Tuyết Lê                             $250

23. A/c Nguyễn Đắc Dzũng & Vân                          $200

24. A/c Nguyễn Công Thành                                                $200

25. A/c Đỗ Quốc Dũng & Loan                                            $100

26. Cháu Trần Đàm Việt QUốc (tiền lon ống)                    $724

27. Cháu Trần Đàm Thiên Ân & Minh Thư(tiền lon)          $58

28. Anh Phạm Văn Chương (tiền lon ống)             $148

29. A/c Huỳnh Công Lợi                                                       $150

30. A/c Hoà - Tiên (Chester Hill)                                         $200

 

                                                            Tổng cộng:                 $6,550

                        Đã trao cha Giám Tỉnh DCCT VN $6,200

                        Tồn quỹ                                                           $350

 

Lễ thánh An Phong 2012

Gia đình An Phong chi hội Sydney

bầu Chi Hội Trưởng mới

Phóng viên Mây Chiều

 

Vào ngày mừng lễ thánh An Phong, cứ mỗi năm 2 lần, các anh chị em có mặt theo nội qui bất thành văn, đều tham gia bầu cử Chi Hội Trưởng mới, thay thế CHTruởng chấm dứt nhiệm vụ cũng vào ngày lễ này, sau hai năm làm việc.

Trong nhiệm ký trước, CHTrưởng Phạm Văn Chương cùng CHPhó Đàm Thị Mai đã làm việc thuận buồm xuôi gió cũng như con thuyền nhỏ bé trên giòng nước êm đềm, lặng sóng. Phải nói thêm rằng CHPhó Đàm Thị Mai , người nữ lưu đầu tiên trong gia đình An Phong Sydney đã lãnh nhận chức CHPhó tiên khởi và hoàn thành nhiệm vụ thật hoàn hảo, chị đã đem lại một nguồn sinh lực mới cho chi hội, vốn gồm đa số những anh em đã cao niên và không thích thay đổi.

Trở lại kỳ bầu cử nhiệm kỳ 2012-2014, anh Vũ Nhuận thường được anh em gán cho cái danh hiệu “Người nặn ra vua”, do đó mà sự đề cử một anh em nào đó vào chức vụ Chi Hội Trưởng rất nặng ký, chẳng thế mà trước đây khá lâu, chỉ nghe phong phanh là anh Vũ Nhuận có ý tiến cử mình, thì anh nào đó bị tiến cử đã đánh mùi được, liền làm một hành vi là không tới mừng lễ cùng anh em, và vắng mặt thì anh em không bầu cho, thế là né được.

Năm nay, lễ mừng thánh An Phong được tổ chức tại nhà anh Phạm Văn Chương. Đây là một ngày sinh hoạt quan trọng của chi hội, một ngày mà anh em và thân hữu cùng tự nguyện đóng góp tiền bạc để gửi về quê nhà, yểm trợ cho công cuộc truyền giáo của DCCT mà thời xa xưa, anh em không ít thì nhiều, đã nhận lãnh một nền giáo dục vững chắc, mà nay hồi tưởng lại, anh em hướng về Dòng Mẹ để ít ra là bày tỏ một sự tri ân sâu đậm.

Theo đề nghị của CHTrưởng tại chức, anh em nên chọn những người trẻ tuổi để làm việc vì đây là chiều hướng chung của tất cả các hội đoàn, gia đình. Thế là chẳng cần hội ý nhiều, anh Vũ Nhuận đã đề cử anh Nguyễn Văn Dũng, một người anh em còn tương đối trẻ trung, năng động, trong số những anh em “quá đát”. Cuộc bầu cử diễn ra ngay sau đó và tiếp theo là phần kiểm phiếu, anh NVDũng đã về đầu với đa số tuyệt đối. Một lần nữa, việc này chứng minh quả thực anh Vũ Nhuận rất xứng đáng để mang danh hiệu “Người nặn ra vua”. Cái chức vụ CHTrưởng gia đình An Phong chi hội Sydney xem ra nó chẳng hấp dẫn tí nào, và chẳng lôi cuốn được ai. Không như những hội đoàn khác, vào được chức vụ này cũng phải qua vận động, nổi hoặc ngầm,; ngược lại, nhận chức vụ CHTrưởng cũng như lãnh nhận một cây thánh giá, vì chức vụ này chẳng mang lại một cái gì hào nhoáng bề ngoài, mà là lãnh nhận một sự hy sinh, đóng góp vào sinh hoạt của hội, để hội có thể sống còn, mà ngay như cha Mai Văn Thịnh DCCT cũng từng nói: cứ tưởng rằng hội đã chìm xuồng từ lâu trồi chứ, ai dè hội ngày càng mạnh mẽ.

Hàng năm, hội có hai sinh hoạt chính thức, trước nhất là mừng lễ thánh An Phong và trong lễ này, tất cả số tiền đóng góp sẽ được gửi về DCCT/Vn để cha Giám tỉnh tuy nghisử dụng cho công cuộc truyền giáo, mà không kèm theo đòi hỏi nào. 

Sinh hoạt thứ hai, cũng quan trọng không kém, là họp mặt mừng Xuân. Thường thì, anh em tụ tập tại nhà anh chị Mai Tá, người xứng đáng là nòng cốt, vì không những riêng bản thân anh, mà hai người con trai của anh cũng hết lòng tham gia sinh hoạt và đóng góp tiền rất rộng rãi, nhất là cháu Anthony, còn độc thân và cùng ở chung với anh chị.

Cái hay của hội, là trong các dịp sinh hoạt như vậy, mỗi gia đình đều tự tay nấu nướng chế biến những món ăn gia truyền của mình, rồi đem tới để cùng với các anh chị em khác, cùng ăn chung với nhau, cùng chia sẻ với nhau, trong một bầu không khí gia đình đầm ấm.

60 năm cuộc đởi đâu có là bao. Cứ xem như bác Nguyễn Anh Cung, bác Trần Ngọc Liên là những anh em thuộc bậc truởng thượng nay đã trên dưới 90 rồi. Hai bác không còn sức để tới sinh hoạt cùng anh em nữa, nhưng lòng thì vẫn nhớ đến anh em. Rồi những anh em cựu trào còn lại tuổi cũng đã trên hoặc tròm trèm 70, và những anh em trẻ tuổi nay cũng đang bước vào ngưỡng cửa ngũ tuần. Ôi, thời gian trôi qua thật mau, với bao nhiêu đổi thay. Nhưng ai cũng cầu mong cho gia đình An Phong chi hội Sydney vẫn còn hiện hữu, vẫn còn sinh hoạt đều đặn. Đạt được ước muốn này, cũng là một hồng ân của Chúa.

Mây Chiều.

 

Bạn có biết?

 

Giáng Sinh

 

Lễ hội Liên hoan này sử dụng danh xưng xuất tự tiếng Anh cổ xưa Cristes maesse, sau này chuyển qua thành “Mass of Christ” (Thánh Lể Chúa Kitô). Tục lệ mừng kính Chúa Giáng Sinh chỉ bắt đầu từ thế kỷ thứ 5 theo tính đại trà, mà thôi.

 

Tháp Chuông (Campanile)

Tháp này lúc đầu được xây dựng cách xa khỏi giáo đường; nhưng về sau, đã được ghép sát cạnh giáo đường mẹ. Trường hợp tháp chuông nổi tiếng ở Ý là tháp Giotto dính liền với Nhà thờ Chánh toà Santa Maria del Fiore ở Florence, được kể là kiến trúc về tháp chuông nhà thờ đẹp nhất thế giới. Đồng thời, tháp chuông Cremona sừng sững cao ngất 110 mét, tháp Pisa nổi tiếng nghiêng nghiêng nhưng không đổ và tháp chuông nhọn nhà thờ thánh Mác-cô ở Venice có tuổi thọ 1000 năm sụp đổ vào năm 1902 và từ đó được xây dựng lại theo kiểu cổ đại lúc ban đầu.

 

Bẩy ngọn đồi Rôma

Đó là các ngọn đồi có tên gọi là Quirinal, Viminal, Esquiline, Caelian, Capitoline, Palatine và Aventine.

 

Bẩy vị Vua của Rôma

Theo truyền thống, được biết các vị này có tên là: Romulus, Numa Pompilius, Tullus Hostilius, Ancus Martius, Tarquinius Priscus, Servius Tullius và Tarquinius Superbus.

 

Sứ vụ thừa sai

Truy tầm nguyên ngữ, cụm từ này mang nhiều ý nghĩa:

 

1)      Dịch cho sát, thì cụm từ này chỉ về những người được sai đi thực hiện một số việc như sứ vụ cứu độ của Chúa xuống thế làm người chuộc lỗi thiên hạ. Và, cũng có nghĩa là công việc mà tông đồ và các thành viên trong Hội thánh quyết tâm thực hiện vai trò tiên tri, tư tế và hoàng tộc của Chúa.

2)      Cụm từ này còn có nghĩa là những nơi chưa nghe biết Tin Mừng của Chúa. Lại cũng có nghĩa là: Hội thánh chưa được thiết lập vững vàng hoặc Hội thánh đã thiết lập rồi nhưng còn khá yếu.

3)      Cụm từ này lại cũng có nghĩa là: phần đất thuộc Giáo hội chỉ có duiy nhất mỗi tổ chức đơn giản thuộc về Cộng đoàn rao giảng Lời của Chúa.

4)      Là nhà thờ hoặc nguyện đường không có linh mục sở tại;

5)      Là: một chuỗi các bài giảng đặc biệt và nghi thức linh đạo tổ chức ở giáo xứ với mục đích canh tân và đào sâu đời sống tinh thần của giáo dân ngõ hầu mọi người quay về với Hội thánh Công giáo. (theo Sách Niên Giám Công Giáo)

 

Thần Jupiter

Từ khởi thuỷ, ông là thần trời của người Ý. Về sau, ông được người La Mã coi là “Thần Ban Ngày”. Mãi sau này, ông được coi như thần Zeus tức Vua của các thần trong huyền thoại Hy Lạp. Người Etruscan gia nhập thờ phượng thần Jupiter đưa vào đất La Mã và dựng đền thờ để con dân có thể thờ ông qua danh xưng Jupiter cao cả và tốt lành trụ tại đền Capitol nổi tiếng. Các tư tế thần này gồm đoàn ngũ tư tế rất nổi danh. Thần Jupiter là thần bảo vệ đế quốc và thành phố Rôma, tức La Mã của thời cổ. Nhiều nơi còn thờ thần này qua danh xưng người sáng lập và duy trì đế quốc gọi là Stator, hoặc Teretrius tức thần chớp, Ultror, tức thần trả đũa và Tonans, thần sấm.            

     

Thiên Ân sưu tầm

 

 

 

 

BÂNG KHUÂNG NHỚ CẢNH NHỚ NGƯỜI

Anthony Trần Đàm Việt Quốc

 

Cảm tác viết cho riêng mình nhân chuyến Tây du năm 2010

 

Bâng khuâng nhớ cảnh, nhớ người

Nhớ nơi kỳ ngộ, vội dời chân đi

(Nguyễn Du: Truyện Kiều)

 

Hai câu thơ trên của đại thi hào Nguyễn Du viết trong Truyện Kiều đã gợi lại cho tôi biết bao mối xúc cảm, mỗi khi nhớ về chuyến Tây du hai tuần mà gia đình chúng tôi vừa hoàn tất hồi đầu tháng 8 năm 2010 vừa qua nhân dịp lễ ngân khánh 50 năm khấn dòng của người chị họ đã rũ áo phong sương ngót nửa thế kỷ nay. Nhớ đến anh chị em họ hàng thân yêu đã không quản ngại đường xá xa xôi, cách nửa vòng trái đất, họp nhau về xum vầy, nơi miền miên viễn Castagniers hẻo lánh thuở nào. Ước gì thời gian ngừng đọng, để tôi có dịp gặp lại những bóng hình thân quen mà giờ đây đã ‘nghìn trùng xa cách’.   

Du lịch đây, là để tìm cảnh lạ ở chốn chân trời xa tắp, những mỹ cảnh kỳ quan trên thế giới, hầu giúp cho cuộc sống vợi bớt đi phần nào căng thẳng. Âu đó cũng là một thú tiêu khiển lành mạnh vậy. Đã là con người, tôi cũng không ờ vào trường hợp ngoại lệ.

Nói cách khác, nhiều người trong chúng ta đã không quản ngại tốn kém thì giờ và tiền bạc để khao khát kiếm tìm hạnh phúc cho riêng mình, bằng cách này hay cách khác, như du lịch đó đây. Dù,  đấy chỉ là thứ ‘tình trong giây phút’ như trong bài thơ mà nhà văn Khaí Hưng đã dịch từ bài thơ tiếng Pháp của thi sĩ Felis Arves (1806- 1850)

 

Lòng ta chôn một khối tình

Tình trong giây phút mà thành thiên thu...

Hỡi ôi! Người đó ta đây

Sao ta thui thủi đêm ngày chiếc thân?

(Khái Hưng: Tìinh tuyệt vọng - Félix Arvers: Sonnet D’Arvers)

 

Người Tây phương cũng như các cụ nhà ta thường hay dạy con cháu bằng ngạn ngữ như sau: ‘Đi xa về nhà nói khoác’, nên mỗi khi định đặt bút xuống viết đôi hàng lược thuật cuộc lãng du trên đất Pháp vừa qua, tôi cứ ngại ngần. Và lòng vẫn dặn lòng: sau bao lần phân vân nghĩ ngợi, rằng mình phải luôn lấy câu ngạn ngữ đó để tự khuyên răn chính mình.

Nhưng, cớ sao mà lại có câu ngạn ngữ hay như thế? Có lẽ bởi con người ta thường có tính hiếu thắng, nhất thiết mọi sự đều muốn có một cái gì đặc biệt hơn kẻ khác, để dựa vào đấy mà tự cao. Phương xa cõi lạ, là những nơi ít người năng tới, mà một mình được qua, đó là một sự đặc biệt hơn người. Muốn làm tăng lên nét đặc biệt ấy, nên khi trở về sẽ thuật lại những chuyện mình trải nghiệm, không khỏi có ý thêm thắt khoa trương cho nó tốt đẹp hơn lên. Khiến người nghe phải nức nở khen hay mà tự mình tăng thêm phần giá trị. Bởi, biết rằng dù có nói thế nào đi nữa thì người khác cũng sẵn lòng tin mà không ai có thể nhất thời kiểm chứng. Tôi nghĩ đó là ý nghĩa sâu xa của câu ngạn ngữ trên, và cũng là tâm lý chung của khách du lịch xưa nay vậy.

Đã là tâm lý chung, thì ít ai có thể tránh khỏi. Tôi đây cũng không dám chắc rằng có tránh khỏi được cái lẽ thường tình đó không. Song cũng hết sức thành thật và mong rằng sẽ không đến nỗi như anh học trò ngông trong chuyện ngụ ngôn của La Fontaine nói khoác rằng đã trông thấy cây bắp cải to bằng cái nhà!

Trước tôi, đã có biết bao nhiêu bậc tiền nhân nước Việt nắn bút viết nên các thiên du ký về nước Pháp thật lãng mạn. Một trong những vị đi tiên phong về thể loại du ký viễn du này phải kể đến cụ Nguyễn Trọng Hợp (1834 -1902) trong tác phẩm viết bằng tiếng Pháp “Paris, capital de la France: recueil de vers.” (Nguyên văn tiếng Pháp: ‘ Paris, tu ne’s pas pour moi une decouverte, mais un souvenir’.) Cụ đỗ Tiến sĩ vào năm 1865 dưới triều Nguyễn, làm quan dưới bảy đời vua từ Tự Đức đến Thành Thái, từng giữ chức Kinh Lược Bắc Kỳ (1886),  rồi được tôn làm Phụ chính đại thần dưới triều vua Thành Thái (1889-1897). Cụ còn là một trong những đại thần chủ chốt trong việc nghị hòa với người Pháp, khi Pháp sang xâm lược nước ta. Lúc cụ đi Pháp vào năm 1897 để học hỏi, quan sát văn minh nước người để về canh tân đất nước, cụ có sáng tác bài thơ bằng tiếng Pháp sau đây qua một bản dịch tiếng Anh, phản ánh khá trung thực cảnh quan đô thị Ba Lê (Paris) vào thời “belle époque” trong giai đoạn cực thịnh nhất:

 

The waters are blue and the vegetation pink:

The evening sweet to behold;

People are out walking. Great ladies promenade;

            and behind them walk the small ladies.

 

Nhưng sau khi về nước, cụ lại nghi ngờ dã tâm của người Pháp, vốn không thật lòng với chủ trương cải cách xứ thuộc địa nghèo đói như nước Việt Nam ta. Nên Cụ đã cảm khái viết ra bài thơ Nôm rất cảm động sau đây, nói lên được phần nào nhân cách lớn của một vị đại thần trước thời cuộc suy tàn:

 

Nay vâng mệnh triều đình đi sứ

Sắc cầm tay khó xử muôn phần

Không đi mang tội khi quân

Đi thì mang tiếng phản dân cầu hòa

Nếu biết trước ở nhà làm ruộng

Còn hơn làm ông thượng ông quan

Mấy lời nhắn nhủ thế gian

Học để mà biết làm quan đừng màng!

(Nguyễn Trọng Hợp , Paris, capital de la France: recueil de vers ( Hanoi: F.H.Schneider, 1897).

 

Sau cụ, các vị Tây học lần lượt đến Pháp làm chuyến lãng du, viết nên nhiều thiên du ký đặc sắc vào đầu thế kỷ 20 vừa qua, như các ông Trương Minh Ký, 2 Trần Đình Bảo, 3 Bùi Thanh Vân, 4 Phạm Quỳnh 5, Lê Văn Đức 6, Trần Bá Vinh 7, Nhất Linh dưới bút hiệu Lãng Du. 8 Tất cả  đều để lại trong tâm hồn tôi một cảm giác lâng lâng mỗi khi nhớ về Ba Lê, nơi đã hai lần tôi dừng chân trong quá trình du lịch đó đây.

            Tôi chọn bài thơ này vì nguyên bản tiếng Pháp (và cả bản dịch tiếng Anh nữa) khá thanh tao và có ý vị. Hơn nữa, bài thơ này lại được trích trong lời dẫn nhập của Walter Benjamin khi ông viết thiên tiều luận nổi tiếng, ‘Paris, capital of the nineteeth century’ trong sách reflections (New York: Schocken Books, 1978, tr. 146-62). Bản dịch tiếng Anh này cũng được trích từ thiên tiểu luận trên.

            Người Tây phương còn ngưỡng phục Ba Lê không kém người Việt chúng ta, vì Ba Lê ‘không phải đơn thuần là một đô thị, mà Ba Lê chính là một thế giới thu nhỏ. Sử sách nhiều lần trích dẫn câu nói bất hủ tán tụng Ba Lê của vị Bá tước người Nga tên Feodor Vasilievich Rostopchin (1763-1826). Ông là người công nhiên coi nước Pháp như cựu thù khi Hoàng đế Napoleon xua quân chiếm nước Nga. Khi chưa đến Ba Lê thì gọi kinh đô nước Pháp là cái ‘nhà chứa người điên’, thế mà sau khi đến ở được ít lâu rồi, thì phải chịu lỗi là xét lầm, nói rằng:

 

Tôi xét ra chốn Kinh đô này thật là chúa tể cả toàn Âu: bao giờ người lịch sự trong thiên hạ còn nói tiếng Pháp, đàn bà còn thích ‘ mốt’ đẹp, người ta còn lấy ăn ngon là một thú ở đời, thì thành Ba Lê còn ảnh hưởng đến các xứ khác mãi. Chắc là không có tỉnh thành nào trên thế giới gồm được nhiều người giỏi giang, thông thái, nho nhã phong lưu bằng ở đây’.

 

Người Tây phương có lưu truyền một giai thoại bất hủ về một Đức Giáo Hoàng, mỗi khi đón tiếp các bậc chính khách ngoại quốc vào bệ kiến ngài để từ giã về nước, ngài thường hỏi :‘Ông ở La Mã  (Rome) được bao lâu?’ nếu khách trả lời: ‘Ở được vài ba tuần’, thì ngài phán một tiếng:’Adieu!’ Nghĩa là ‘ Xin vĩnh biệt’. Còn nếu khách trả lời: ‘Ở được dăm ba tháng một năm’, lúc bấy giờ, ngài mới ban cho một câu: ‘Au revoir!’ nghĩa là ‘Hẹn tái ngộ’.

Khách du lịch đến Kinh thành Ba Lê cũng vậy, nếu chỉ qua loa một vài tuần thì chưa đủ cảm được cái thú thâm trầm, có lẽ khi rời bước không nghĩ có ngày sẽ trở lại. Nhưng nếu đã ở đến dăm ba tháng một năm thì tất nhiễm được cái phong vị tuyệt trần mà khi đi không nỡ dứt, tự nguyện sẽ có ngày trùng lai mới thỏa chí tang bồng. Vì ở Ba Lê không thiếu một vẻ gì, mà vẻ gì cũng ‘mười phân vẹn mười’:cái xấu có, cái tốt có, cái hay có, cái dở có, cái thanh có, cái thô cũng có. Nếu chỉ biết một phần vật chất mà không xét đến phần tinh thần, thì phán đoán tất sai lầm và không thể gọi là biết Ba Lê được.

Thường những khách ngoại quốc đến du lịch Ba Lê, nhiều người chỉ ham những cách ăn chơi thật phong lưu phóng túng của Ba Lê. Nhưng Ba Lê không phải chỉ là chốn ăn chơi phóng đãng mà thôi. Cái vinh dự, cái giá trị, cái đặc sắc, cái phong phú của Ba Lê, không phải là ở những nơi phòng trà, quán rượu, vũ trường, hộp đêm. Những nơi ấy chẳng qua là chỗ bán vui cho khách hiếu kỳ trên thế giới mà thôi, chính người ở Ba Lê nhiều khi cũng không đi tới đó bao giờ. Thành thử nếu lấy một khía cạnh đó mà xét cả Ba Lê, thì xét sai là phải lắm. 

            Bây giờ, xin mời các bạn hãy cùng tôi lên xe ‘về miền quá khứ’, với bao kỷ niệm của một đất nước mà người Việt chúng ta đã một thời mến mộ. Cũng xin nói thêm rằng, trong gần 2 tuần dừng chân trên đất Pháp, Thủ đô ánh sáng, những việc mắt thấy tai nghe, bụng suy trí nghĩ cũng nhiều. Nay thuật ra đây, trong một bài viết ngắn ngủi như thế này, tôi không biết phải bắt đầu kể gì trước. Xin hãy xem những giòng tâm sự này chỉ như là cưỡi ngựa xem hoa, như là bất chợt một thoáng gặp mà thôi.

“Đập cổ kính ra tìm lấy bóng Paris”, đối với tôi, nàng không phải là một phát hiện, mà là một hoài niệm. Cố giáo sư Nguyễn Mạnh Tường (1909 -1997) đã nhận xét như vậy khi ông lần đầu tiên đặt chân tới Ba Lê cách đây gần mô thế kỷ. Ông là người duy nhất đã giành hai bằng Tiến sĩ Luật khoa và Tiến sĩ Văn chương trong cùng một niên giảng tại Đại học Montpellier năm ông mới 23 tuổi. Đó là một kỷ lục mà cho đến tận bây giờ cả người Pháp chính gốc cũng chưa ai phá nổi.

Quả thật, nét đặc sắc nhất của Kinh thành Ba Lê là cái dáng vẻ vừa tân kỳ mà lại vừa cổ kính đan xen lẫn nhau. Hai nét ấy không phản trái nhau mà còn dung hòa với nhau, là một kết hợp hài hòa giữa khung cảnh xưa và nay, một hình thức kim cổ giao duyên vô cùng độc đáo của thành phố. Ở Ba Lê, cái hồn của quá khứ vàng son, của một thời vang bóng vẫn luôn bàng bạc trong khắp phố phường ngõ hẻm, khiến cho người lữ khách Việt Nam lưu lạc nơi xứ người không khỏi chạnh lòng nhớ đến mấy vần thơ của vua Tự Đức đã từng viết lên:

 

Đập cổ kính ra tìm lấy bóng,

Xếp tàn y lại, để dành hơi.

(Vua Tự Đức: Khóc Bằng phi)

 

Chính điều này đã tạo cho Ba Lê một phong thái riêng, tưởng khắp thế giới không có đô thị nào sánh được. Những thành phố lớn khác trên thế giới như New York,  San Francisco, Sydney, có lẽ có nhiều đường phố rộng, nhà lầu cao hơn ở Ba Lê, nhưng vẫn kém Ba Lê về cái vẻ thanh tao lịch sự. Vì là những nơi ấy mới chỉ thành lập trong khoảng thời gian ngắn mà thôi, và trước sau chưa có lịch sử gì. Đến Ba lê, du khách không thể không tìm ra một kiến trúc cao tầng hiện đại nào trong lòng thành phố. Mà toàn là những kiến trúc cũ kiểu Gothique, không sơn phết. Có thể nói những gì làm nên Ba lê, những gì khiến người Pháp tự hào về Ba Lê, những gì hấp dẫn du khách đến với Ba Lê, trước hết là ở những công trình mang dấu ấn truyền thống dân tộc và dấu tích lịch sử: tháp Eiffel, đại lộ Champs – Élysées, nhà thờ Đức Bà, bảo tàng viện Louvre, cung Versailles, v.v....

Nhưng lạ thay! Đến Ba Lê người ta không cảm thấy như đến một thành phố cổ mà là đến một thành phố của thời nay. Có lẽ bởi sinh khí của nó, bởi nét hiện đại của nó tỏa lên từ các phương tiện và cung cách sinh hoạt của người dân, từ cảnh trí đến gương mặt đô thị nhìn chung. Những con đường lớn nhỏ chằng chịt ở đây thôi đôi khi dẫn ta tới những khu ồn ào náo nhiệt, xe hơi chạy như nước chảy, hàng quán hai bên bày la liệt dọc theo lối đi. Thế mà bỗng chốc thấy mình đưa chân lạc vào một cái ngõ tĩnh lặng rợp bóng hoa, nhà cửa xưa cũ, như một cái xóm trung cổ đời xưa. Nếu đi xa vào trong nữa, tất sẽ bắt gặp đây đó những mảnh tường rêu xám, những tấm đá dãi dầu cùng mưa nắng, hoặc một giáo đường xây từ thời Trung Cổ, hoặc một pho tượng đá tạc vào đời Phục Hưng.

Có nhiều người Việt xa xứ, lần đầu đặt chân đến Ba Lê đã phải thốt lên rằng: ‘Ba Lê giống bên nhà quá, gần gũi lắm’. Có những con đường đi ngang tưởng mình đang sống giữa Sài Gòn hoa lệ của miền Nam thuở nào, có những góc phố cứ như là Hà Nội văn vật thời trước 1954. Vẫn những căn phố cổ kính với lối vào nhỏ hẹp ấy, trổ cửa sổ từ các căn hộ để mấy bồn hoa, rồi những vỉa hè lát đầy đá xanh rất tinh tế. Những đá hoa như ánh mắt trẻ thơ nhìn lên bầu trời xanh thẳm, vươn ra từ bậu cửa sổ để nhắc nhớ về thế giới truyện cổ tích Andersen, có những bé gái ngoan đạo ngồi suốt mùa đông bên cửa sổ và hát bài thánh ca, có những bé trai vui đùa trong gió tuyết trước sân nhà. Những khuôn cửa gỗ trên căn gác xưa với hàng trăm năm tuổi đời, những lan can cửa sổ sắt uốn cong nghệ thuật bên những khách sạn sang trọng. Mỗi nơi một dáng vẻ như muôn ngàn ánh mắt khác nhau trong cuộc đời. Những lúc ấy, phải đọc thơ Nguyên Sa qua tài phổ nhạc của Ngô Thụy Miên mới nghe lòng mình ray rứt trong từng nỗi nhớ triền miên:

 

Tôi đi giữa trời Paris mà nhớ thương Saigòn,

Nắng Sàigòn hôm nao dìu bước chân em

Em ở đâu hỡi người em rất nhớ

Trời Paris nào có áo lụa Hà Đông.

(Ngô Thụy Miên- nguyên Sa: Nắng Paris nắng Sài Gòn)

 

Nhưng với tôi, Ba Lê gợi nhớ Sài Gòn nhất là các quán cà phê vỉa hè dọc hai bên đường phố đông người qua lại. Có khác chăng là ở đây, họ trật tự và lịch sự hơn nhiều. Vào mùa hè, người dân Ba Lê cảm thấy nóng nực, nhàn tản ra ngồi quán cà phê nhâm nhi, hút dăm ba điếu thuốc, rồi đọc báo, tán gẫu với nhau đủ thứ chuyện thời sự. Nói là quán cà phê nhưng có bán đầy đủ thức uống, có cả vang, cả bia, rượu mạnh và thức ăn nhẹ. Người Ba Lê thì rất đủng đỉnh, trái ngược lại với đời sống vật chất tất bật ở những đô thị lớn trên thế giới khác. Sáng thứ bảy, 10 giờ sáng mà ra đường phố vắng ngắt. Đến quá trưa người ta mới ra đường đi chơi. Còn các siêu thị, cửa hàng thì đã đóng cửa từ 9 giờ tối thứ Sáu. Chỉ có những quán cà phê vỉa hè là đầy ắp người đến nhâm nhi ly rượu Bordeaux và nhìn xuống phố xem người qua lại.

Nói như thế, không phải là Ba Lê không có những công trình hiện đại được xây cất. Ở đây, phần xây dựng hiện đại được tách riêng và mở rộng ra phía ngoại ô của Ba Lê, và không được làm phá đi cảnh quan cổ kính vốn có của thành phố. Các khu mới của Ba Lê được xây dựng cách đây 15 năm từ những cánh rừng nay đã là những khu dân cư sầm uất. Điển hình là khu vực gần sân bay quốc tế Charles de Galle, nơi có rất nhiều người Viêt hiện sinh sống. Để khuyến khích người dân ra sống ở những khu mới này, hệ thống xe điện ngầm được kéo ra mãi tận đây. Và dù ở ngoại ô, những khi đi làm cũng chỉ mất 20 phút để vào khu trung tâm như những người sống trong thành phố. Trong nội ô đi bằng xe hơi có khi còn lâu hơn.

Trông người lại ngẫm đến ta. Người mình vẫn tự xưng là có tính hiếu cổ. Tuy nhiên tôi cho rằng lòng hiếu cổ của mình không bằng người nước Pháp, vì có hiếu cổ mà không biết tồn cổ. Không xứ nào có mật độ cao như nước ta (gần gấp đôi Trung Quốc), mà việc nhà cửa lại  bị ‘thả nổi’, ‘tự do vô tội vạ’ như thế, nhất là từ sau năm 1975 trở đi. Thậm chí có thể lấn chiếm, ‘chịu chi’ cho các vị ’có chức năng’ để tồn tại. Sau đó, khi người ta cần ‘giải phóng mặt bằng’ thì lại được ‘đền bù thỏa đáng’. Còn cái ‘cổ’ ở ta thì lại như bị lạc lõng bên cái ‘mới’, nhiều khi còn bị uy hiếp, có nguy cơ bị phủ lấp là đằng khác.

Ngay như chốn Thăng Long ngàn năm văn vật kia, chưa nói về thời nhà Trần nhà Lý, chỉ nói đến thời kỳ cận đại thôi, đến nay còn được di tích gì? Nếu nhà khảo cổ có ý muốn tìm đến tận nơi để khảo sát, dễ thường cũng không biết ở vào chốn nào nữa. Không như ở Ba Lê kia, không những các lâu đài cung điện đời xưa, đời đời bảo tồn, tới nay vẫn y nguyên như cũ. Đến những chỗ tầm thường mà đã có xảy ra một việc gì hơi có quan hệ đến quốc sử, cũng đều được giữ gìn trân trọng để lưu lấy dấu tích cho hậu thế sau này. Như ngày nay người ta còn chỉ được đích xác chỗ nào là chỗ vua Nã Phá Luân hồi còn nhỏ mới đến Ba Lê lần thứ nhất đậu xe ở đấy để sửa soạn đi vào học trường võ bị, cái sân nào là sân nơi ông Molière đi qua để ra diễn kịch, tập hát v.v...

Đó là vì Ba Lê lưu giữ cái ‘cổ’, chứ không duy trì cái ‘cũ’. Cái ‘mới’ phải tôn cái ‘cổ’. Muốn tận hưởng và thưởng thức hai cái đó ở Ba Lê, dầu chỉ sơ qua, phải bỏ nhiều thời gian, lại phải nặng tri thức trong đầu và nặng tiền trong ví nữa!

                                                                                    (còn tiếp)

N.B.

1  Nguyễn trọng Hợp, Kim Giang thi tập.

2  Trương Minh Ký, De Saigon à Paris ( Saigon: Reget Curiol, 1889)

3  Trần Đình Bảo, relations d’un voyage dipolmatique en 1873 de Phan Thanh Giản (Saigon:Huỳnh Kim Danh, 1916

4  Bùi Thanh Vân, Dạo khắp hoàn cầu (Huế: Đắc Lập, 1929).

5  Phạm Quỳnh, ‘Pháp du hành trình nhật ký’, tạp chí Nam Phong số 58, tháng 4/1922; Ba tháng ở Paris ( Hanoi, nxb Đông Kinh ấn quán, 1927)

6  Lê Văn Đức, Tây hành lược ký, Đinh Văn Sắt dịch từ hán Việt ra Việt Văn ( Quy Nhơn , 1923)

7  Trần Bá Vinh, Pháp du ký sự (Chân Tín, 1932).

8  Lãng Du ( Nhất Linh), ‘Đi Tây’, báo Phong Hóa từ số 151 (31/08/1935) đến số 180 (27/03/1936), sau in thành sách.

9  Trích trong thư của Vua Francois đệ nhị viết cho vua Charles Quint: ‘Ce n’est pas une ville, mais un monde’.

10  Nguyên văn tiếng Pháp: ‘une maison des fous

 

François Hollande trên đỉnh vinh quang

-------------------------------------------------------

Nguyễn Ngọc Lan Chi

 

Ứng viên đảng Xã hội François Hollande, 57 tuổi đã chính thức trở thành Tổng thống thứ 7 dưới thời Đệ ngũ Cộng hòa sau khi giành chiến thắng tại vòng 2.

 

Theo thông cáo chính thức của Bộ Nội vụ Pháp vào sáng 7.5, ông Hollande với tỷ lệ phiếu ủng hộ 51,63% đã vượt qua Tổng thống sắp mãn nhiệm Nicolas Sarkozy (48,37%) và cán đích trong cuộc đua đến Điện Élysée. Chính trị gia từng bị đánh giá là thiếu chính kiến, mờ nhạt, “cánh tả mềm” đã tỏa sáng đúng lúc để giành chiến thắng một cách thuyết phục.

 

Lấy nhu thắng cương

 

Một trong những sai lầm lớn của cả ông Sarkozy lẫn đảng cầm quyền là đã đánh giá thấp François Hollande. Giữa tháng 10.2011, khi ông Hollande giành chiến thắng ở bầu cử nội bộ để chính thức đại diện đảng Xã hội ra tranh cử, nhiều chính trị gia UMP xoa tay: “Tin tốt lành cho chúng tôi”. Quả thật, nếu so về bề dày kinh nghiệm chính trường, đại diện đảng cầm quyền trội hơn hẳn. Trước khi đắc cử tổng thống năm 2007, ông Sarkozy từng nắm giữ các bộ “nặng ký” như nội vụ, ngân sách. Trong khi đó, ông Hollande chưa từng là bộ trưởng, các vị trí cao nhất từng kinh qua là Tổng thư ký đảng Xã hội (1997-2008) và Chủ tịch Hội đồng tỉnh Corrèze (đương chức).

 

Nổi tiếng là người hay đùa lại có dáng vẻ hơi tròn trịa, không ai cho rằng François Hollande là một đối thủ chính trị đáng gờm. Nhưng trên thực tế, trong lúc mọi người “mất cảnh giác”, với mình, ông bền bỉ xây dựng chiến lược của bản thân, lúc tiến, lúc thoái nhưng hầu như đều đạt được mục đích. Cứ thế, François Hollande “lẳng lặng” trở thành nghị sĩ của tỉnh Corrèze vào năm 1988, khi mới 34 tuổi và sau đó tiếp tục giành luôn chức Chủ tịch Hội đồng tỉnh. Khi ông đã yên vị, mọi người mới giật mình rằng đây là vùng đất truyền thống của cựu Tổng thống Jacques Chirac (cánh hữu).

 

Cũng chính vì mất cảnh giác nên khi liên tục chê bai ông Hollande không nắm vững các vấn đề kinh tế, nhiều chính trị gia UMP không nhớ rằng ông từng tốt nghiệp Trường Thương mại cao cấp (HEC) của Pháp. Đã 6 năm liên tục HEC dẫn đầu bảng xếp hạng các trường về quản trị kinh doanh tại châu Âu của Finantial Times. Ngoài ra, ông tốt nghiệp trường SciencesPo (lớn nhất của Pháp về khoa học chính trị), Trường Hành chính quốc gia (ENA) và còn “đút túi” một bằng cử nhân luật.

 

Từ François đến François

 

Chính nhờ ôn hòa và không đưa ra những luận điểm chính trị cứng rắn nào mà ông Hollande có thể là cầu nối giữa nhiều nhóm chính trị gia có lập trường khác nhau trong đảng Xã hội khi giữ chức tổng thư ký trong suốt 11 năm. Nhưng kể từ lúc tuyên bố tham gia bầu cử nội bộ của đảng Xã hội vào cuối tháng 3.2011, ông đã thay đổi hoàn toàn. Ông ốm đi trông thấy so với trước đây, ăn mặc sang trọng hơn, không còn hay bông đùa hơn hẳn. Cùng lúc đó, François Hollande phát biểu ngày càng đanh thép hơn, luận điệu vững chắc, quan điểm rõ ràng và cho đến buổi tranh luận trực tiếp trên truyền hình ngày 2.5 thì “ăn miếng trả miếng” ngang cơ với ông Sarkozy.

 

Một cách tình cờ, dưới thời Đệ ngũ cộng hòa, cánh tả chỉ có 2 tổng thống thì đều cùng tên François: François Hollande vừa đắc cử và François Mitterrand (1981-1995). Cả 2 François này có nhiều điểm chung về từ ngữ, điệu bộ, phong cách, vừa vô tình, vừa do ông Hollande cố ý gợi nhớ về tượng đài của đảng Xã hội. Ông Sarkozy và Tổng thống Valéry Giscard d’Estaing là 2 tổng thống Pháp duy nhất không tái đắc cử và cùng là bại tướng của… François. Ông Hollande và ông Mitterrand đều rất thích gặp gỡ cử tri trong chiến dịch tranh cử của mình.

 

Tổng thống François Mitterrand đã đạt đến đỉnh vinh quang. Nguyên thủ các nước ồ ạt gửi điện chúc mừng và mời ông sang công du. Tuy nhiên, sau thảm đỏ trong ngày chuyển giao quyền lực 15.5 sẽ là những nhiệm vụ vô cùng gai góc. Nước Pháp vẫn còn chịu ảnh hưởng từ khủng hoảng kinh tế và đảng Xã hội phải bằng mọi giá chiến thắng trong kỳ bầu cử Hạ viện vào giữa tháng 6 để đảm bảo cho ông Hollande nắm quyền trọn vẹn.

 

N.N.L.C

 

Box 1: Bastille mở hội

 

Sau 24 năm chờ đợi, cánh tả mới trở lại Điện Élysée. Dù đã xây dựng một chiến dịch tranh cử quanh các vấn đề nhập cư, bản sắc dân tộc nhằm thu hút sự ủng hộ của cử tri đảng cực hữu Mặt trận dân tộc (FN) nhưng ông Sarkozy đã không thành công. Theo kết quả thăm dò của viện Ipsos, chỉ 51% cử tri từng chọn ứng viên Marine Le Pen của đảng này ở vòng 1 bỏ phiếu cho đại diện UMP ở vòng 2, còn lại bỏ phiếu trắng (35%) hoặc chọn ông Hollande (14%). Ngược lại tân Tổng thống Pháp được ủng hộ nhiều hơn ở tất cả thành phố có trên 20.000 dân và những cử tri dưới 60 tuổi. Thất bại này đã chính thức khép lại sự nghiệp chính trị hơn 30 năm của Tổng thống Sarkozy như ông đã tuyên bố từ tháng 1.

 

So với buổi lễ mừng chiến thắng của ông Sarkozy năm 2007, quảng trường Bastille tối 6.5 vẫn tưng bừng champagne, rộn rã âm nhạc nhưng đa dạng văn hóa hơn hẳn. Những người Pháp gốc nhập cư phần lớn đều ủng hộ ông Hollande nên họ đến mừng ông với cả các điệu nhảy, bài hát đặc trưng của mình. Ngay sau khi kết quả sơ bộ được công bố vào 20 giờ, toàn bộ các đường từ đường Solférino, tổng hành dinh của đảng Xã hội đến Bastille tràn ngập “fan” hâm mộ của ông Hollande. Những tiếng hô vang “Sarkozy hết thời”, “chúng ta đã chiến thắng” cùng tiếng còi xe bấm phụ họa vang lên không ngớt. Bắt đầu từ 20 giờ nhưng cho đến khi ông Hollande xuất hiện vào lúc gần 1 giờ sáng, Quảng trường Bastille luôn “nóng” với khí thế hừng hừng của hàng chục ngàn cử tri đảng Xã hội.

 

Box 2: Không có “đệ nhất phu nhân”?

 

Nếu như ông Sarkozy là tổng thống Pháp đầu tiên ly dị trong nhiệm kỳ của mình thì ông Hollande cũng là tổng thống Pháp đầu tiên chưa… lấy vợ. Tuy chưa từng đăng ký kết hôn nhưng ông đã sống cùng bà Ségolène Royal, ứng viên Tổng thống của đảng Xã hội năm 2007 hơn 20 năm và có với nhau 4 con. Cách đây 5 năm, 2 người chia tay nhau và ông “đi bước nữa”, sống như vợ chồng với nhà báo chuyên mảng chính trị Valérie Trierweiler của Đài truyền hình Direct 8 và báo Paris Match. Cho đến nay, ông Hollande vẫn chưa tiết lộ gì về việc liệu sẽ chính thức cưới bà Trierweiler khi đắc cử Tổng thống hay không. Nếu ông vẫn lờ chuyện này thì Pháp sẽ không có đệ nhất phu nhân. Cơ quan ngoại giao các nước cũng sẽ bối rối khi đón tiếp bà Trierweiler vì không có quy định nào dành cho… “đệ nhất tình nhân”.

 

Giọng cũ xa gần

Dân Gầy phụ trách

*Có những vần thơ rất hiếm hoi

Thơ về mẹ vẫn rất nhiều. Mẹ tôi và mẹ người, chẳng khi nào thiếu. Duy có giòng thơ về Cha, lại khá hiếm như sau:

 

CHA TÔI.

Mỗi ngày cha tôi phải làm việc,

Cố gắng sao kiếm đủ miếng ăn,

Cho có đôi giày tôi ấm chân,

Giữ gia đình sống luôn đầy đủ.

Cứ hàng đêm tới giờ đi ngủ,

Cha đặt tôi nằm xuống tận giường,

Và không quên tặng một chiếc hôn,

Sau khi tôi xong lời cầu nguyện.

Nhớ những năm dập dồn đủ chuyện,

Có đau buồn, có nước mắt rơi,

Đi cùng nhau suốt cả buồn vui,

Chúng tôi đã vượt qua sóng gió.

Những lúc cuộc đời đầy khốn khó,

Chỉ làm Cha thêm sức bền dai.

Mẹ ở bên ông suốt cuộc đời.

Đã có họ, chúng tôi chẳng sợ.

Thời gian dần trôi theo cách đó,

Năm tháng cứ vầy thoăn thoắt qua.

Tôi lớn khôn họ cũng thêm già.

Phải nói rằng mẹ tôi không khỏe,

Và Cha biết, cũng buồn theo mẹ.

Ngày mẹ đi Cha đã khóc nhiều.

Ông gục đầu miệng chỉ dám kêu:

"Lạy Chúa, tại sao nàng từ bỏ?

Đây đời con, xin Ngài nâng đỡ!"

Và hàng ngày ông xuống xích đu,

Nằm ngủ vùi trong tiếng gió ru.

Cha không hề lên căn gác nhỏ,

Vì mẹ tôi chẳng còn ở đó.

Rồi một ngày Cha nói: "Này con!

Cha hãnh diện con đã lớn khôn."

Rồi ông tiếp: "Con cần tự lập,

Cha ở một mình, thôi cũng được!

Con đừng nên lo lắng về cha.

Phải đi nhiều cho thấy trời xa,

Có những điều con cần thực hiện."

Mắt ông buồn trong giờ đưa tiễn,

Khi đành lòng nói tiếng chia tay.

Lời Cha như văng vẳng đâu đây,

Cứ mỗi lần tôi hôn lũ trẻ.

Cha từng nói: "Rồi con cũng thế.

Các trẻ thơ sẽ sống cùng con.

Và tới ngày đã đủ lớn khôn,

Chúng cũng phải rời xa con, nữa."

Từng lời Cha dặn dò buổi đó,

Tôi vẫn hoài ghi nhớ mỗi khi,

Hôn các con, tôi ước nguyện gì:

Rằng một ngày con tôi cũng sẽ,

Nghĩ về tôi theo cách như thế.

Nguyễn Tường chuyển ý

New York City, Father's Day, June 19, 2011

 

*Tiếng Việt phong phú hay tiếng Việt Phú phong:

Cả hai đều đúng hết. Duy có câu kết của người gửi điện thư là không ổn. Đấy, mời các đấng bậc cứ thế mà suy tư rồi sẽ thấy trúng phóc như lời bàn:

Tiếng Việt mình không biết đâu mà rờ.

 

Bảo đảm hết dịch nổi vì có 5 chữ mà đổi qua đổi lại thành biết bao nhiêu là câu như dưới đây :

 

GẶP NÓ SAO KHÔNG HỎI

 

GẶP NÓ HỎI SAO KHÔNG

 

GẶP NÓ KHÔNG HỎI SAO

 

GẶP NÓ HỎI KHÔNG SAO

 

GẶP SAO KHÔNG HỎI NÓ

 

GẶP SAO NÓ KHÔNG HỎI

 

GẶP KHÔNG HỎI NÓ SAO

 

GẶP HỎI NÓ KHÔNG SAO

 

HỎI NÓ SAO KHÔNG GẶP

 

HỎI NÓ SAO GẶP KHÔNG

 

HỎI NÓ KHÔNG GẶP SAO

 

HỎI SAO NÓ KHÔNG GẶP

 

HỎI SAO NÓ GẶP KHÔNG

 

HỎI SAO KHÔNG GẶP NÓ

 

HỎI KHÔNG GẶP NÓ SAO

 

HỎI GẶP NÓ SAO KHÔNG

 

HỎI GẶP NÓ KHÔNG SAO

 

NÓ KHÔNG HỎI SAO GẶP

 

NÓ KHÔNG GẶP SAO HỎI

 

NÓ HỎI SAO KHÔNG GẶP

 

NÓ HỎI KHÔNG GẶP SAO

 

NÓ GẶP SAO KHÔNG HỎI

 

SAO GẶP NÓ KHÔNG HỎI

 

SAO GẶP NÓ HỎI KHÔNG

 

SAO GẶP KHÔNG HỎI NÓ

 

SAO KHÔNG GẶP NÓ HỎI

 

SAO NÓ GẶP KHÔNG HỎI

 

SAO HỎI NÓ GẶP KHÔNG

 

KHÔNG GẶP NÓ SAO HỎI

 

KHÔNG GẶP HỎI NÓ SAO

 

KHÔNG GẶP SAO HỎI NÓ

 

KHÔNG GẶP SAO NÓ HỎI

 

KHÔNG HỎI NÓ SAO GẶP

 

 RÕ RÀNG RẤT RẮC RỐI !

 

*Đàn ông và đàn bà, những chuyện trên đời, thật ôi thôi!

Ôi thôi. Thế rồi, chuyện ở đời.

Chuyện, vẫn là chuyện về đàn bà và đàn ông. Chẳng lông nhông cũng chẳng tà tà, thế vẫn là bộ mặt của cuộc đời, rất con người. Không tin, mời quý vị cứ đọc những giòng thơ như sau:

 

ĐÀN BÀ

Riêng tặng tất cả đàn ông.

 

Cho tôi hỏi, đàn bà là chi rứa?

Là những gì rung động trái tim ta

Làm cho ta cảm thấy nổi da gà

Là gặp gỡ, xốn xang, là tiếng sét... 

Là hợp "gu" vì cùng chung tính nết

Là âm thầm nhung nhớ lúc chia xa

Là nụ hôn. Ôi rợn cả thịt da

Là ẻo lả vòng tay nhưng rất chắc 

Là mái tóc mùi chanh thơm hăng hắc

Là làn môi mềm ấm tẩm bùa mê

Là đôi chân thoăn thoắt đến, đi, về

Là son phấn ngào ngạt hương, rực rỡ... 

Là niềm vui cho hồn ta cởi mở

Là đắng cay, nhục nhã lúc ghen tuông

Là dễ thương trong những lúc thẹn thùng

Là bẳn gắt, dữ dằn khi la lối 

Là những người sợ ma về ban tối...

Là ôm chặt để kiếm sự chở che

Là đắm say lúc má tựa vai kề

Là hay nói: "suốt đời yêu anh mãi"

Là cái tật tối ngày chuyên lải nhải

Là chỉ mình lẽ phải - Các ông thua!

Là shopping, hay đi sắm đi mua

Là phục vụ đến gẫy lìa xương sống 

Là hay hờn, mặt chầm dầm một đống

Là hỏi gì không nói, gọi không thưa

Là ngoài trời vừa nắng lại vừa mưa

Là phải trái, trắng đen không phân biệt 

Là cãi cọ, ta nắm chắc phần thiệt

Là chịu thua. Thôi đi ngủ cho xong.

Là vắng nhà một bữa đã nhớ mong

Là đủ thứ hầm bà làng trong đó.  

Tạ ơn Trời. Đàn bà hãy còn đó

Để đàn ông vẫn còn có niềm vui

Chỉ đàn ông? Thôi chết quách cho rồi

Không phụ nữ, ôi chẳng thà tận thế!!!

(1993)

BX Trần Đình Ngọc  

 

 ĐÀN ÔNG

Riêng tặng tất cả các bà.

Cho tôi hỏi đàn ông là chi rứa?

Là những gì mạnh mẽ quá đi thôi

Làm tim ai cứ bổi hổi bồi hồi

Là gặp gỡ, tán, đeo thật tha thiết 

Là nghẹt thở những vòng tay ôm xiết

Là yêu cuồng sống vội rất si mê

Là những người tính nết khỏi có chê

Là độc tài và đôi khi phát xít 

Yêu rất nhiều nhưng khai rằng rất ít

Là đời anh duy chỉ có mình em

Là lăng nhăng vẫn thích chả với nem

Là tán tỉnh cua bò ra khỏi lỗ 

Là tỉnh bơ - không bao giờ mắc cở

Là họp hành bận "chính chị chính em"

Là ở dơ quần áo quá lem nhem

Là lái xe thì quanh cua rất gắt 

Là vợ con phục vụ nhoèn con mắt

Là anh hùng hảo hán rất oai phuông

Là nhiều ông tính khí quá luông tuồng

Là cờ bạc rượu chè thôi đủ cả.  

Bừng mắt ra. Còn đàn ông đấy hả?

Thế là yên, thế là khỏe ru rồi

Có đàn ông ta yên chí vui chơiT

hiếu ông xã hình như đời thiếu thiếu...

Bút Xuân Trần Đình Ngọc

GHI CHÚ: Những điều ghi trên chỉ đúng với một số quí vị đàn ông

 

*Hết về đàn ông/đàn bà rồi nay lại về “Bu nó” và tôi

Nói về đàn ông đàn bà, vẫn không chán. Nhưng nói về “bu nó” và ta, không biết có chán hay không? Trả lời câu hỏi không dễ dàng này, cũng xin mời vào với lời thơ như sau:

 

BU NÓ VÀ TA

 

Ai bảo ngày xưa chỉ nhìn sơ

Chưa chi đôi mắt đã dại khờ

Nên tưởng là hiền trong Bu nó

Rước về mới thấy mình ngu ngơ

 

Bu nó ngày xưa thật ngây thơ

Gần nhau Bu nó mặt đẫn đờ

Bây giờ của mình Bu nó nắm

Lệnh lạc ra oai cứ tỉnh bơ

 

Tưởng bở ngày xưa rước được Nai

Dè đâu qua những tháng năm dài

Nai mọc thêm ra bốn nanh hổ

Trong tay Bu nó mới là Nai

 

Bu nó và Ta ở tuổi này

Đàn con khôn lớn, chim đã bay

Chỉ còn Bu nó bên Ta nhỉ

Nương tựa vào nhau thế mà hay

 

Căn nhà trống vắng chỉ đôi ta

Quẩn quanh hai bóng ở trong nhà

Ta cho Bu nó  ly nước uống

Bu nó làm cơm lại cho Ta

 

Những đêm thanh vắng, nhà thênh thang

Gió đông làm Bu nó cảm hàn

Ta nấu nước xông cho Bu nó

Xoa dầu cạo gió lạnh mau tan

 

Việc làm  căng thẳng Ta nhức đầu

Bu nó hỏi thăm mặt lo âu

Bắt Ta nằm nghỉ, Bu nấu cháo

Bóp đầu, bưng cháo Bu nó hầu

 

Đi xa Bu nó cứ hay lo

Sợ Ta mắt kém lại lò mò

Ta là tài xế, Bu nó lái

Chỉ chỏ nhắc chừng khúc quanh co

 

Đi đâu Ta lại phải nhắc chừng

Thuốc thang Bu nó nhớ lận lưng

Máu cao , tiêu mỡ Bu nó nhớ

Đừng để tim kia nó bị ngừng

 

Bu nó bắt ta đi bộ hoài

Đi cho gối chắc, gân chắc dai

Sợ Ta rảnh rỗi tu bia rượu

Gối lỏng gân mềm, chơi với ai  ?

 

Bu nó cùng Ta đã sánh đôi

Trên đường xuống dốc mặt kia đồi

Quay sang Ta thấy là Bu nó

Dìu dắt nhau đi tận chân đồi

 

Quý Bùi ( THĐ 69 )

 

*Tin vui cho cựu đệ tử ở khắp nơi

Đã lâu lắm, nay mới lại được tin vui từ quê nhà và quê tạm về sinh hoạt cựu đệ tử mừng ngày mừng thánh tổ phụ An Phong, như sau:

 

Ngày: 10:33 Ngày 10 tháng 7 năm 2012

Chủ đề: MOI DU LE GIO TO

 

Một năm mới có một lần, kính mời quý anh chị, các bạn xa gần về tham dự lễ giỗ Thánh tổ AnPhong.

Buổi lễ được tổ chức tại tu viện Dcct Mai thôn như sau :

Địa điểm : tu viên Dcct Mai thôn, 970D đường Bình quới, BT

Thời gian : từ 9g sáng ngày Chúa nhật 05/08/2012.

 

Sau thánh lễ có tổ chức ăn trưa, do đó các anh chị, các bạn tham gia vào bữa cơm gia đình

vui lòng đăng ký qua trưởng lớp để chúng tôi tiện sắp xếp. Hạn chót là ngày 14/07/12.

Có thể đăng ký trực tiếp với Nghi hoặc Thanh Hà :

email : alp.nghi@gmail.com

Tel. 0918073548 (nghi) - 0918173213 (Thanh Hà)

 

*Lại nói về tuổi…không còn trẻ

Tuổi này nói hoài không hết. Chí ít, lại nói bằng thơ lục bát nữa, làm sao không. Có nói hay không cũng chỉ là nói như thế này, sau đây:

 

Tuổi già

Lâu nay cứ tưởng mình già

Bây giờ mới biết quả là y chang

Suốt ngày nói chuyện thuốc thang

Gặp nhau lại kể cả tràng chuyện xưa

Tivi dỗ giấc ngủ trưa

Sức khoẻ lại giảm, mắt mờ, da nhăn

Đọc chữ phóng đại mấy trăm

Lại còn đãng trí, tần ngần, hay quên

Cả ngày mỏi mắt đi tìm

Hết tìm khoá cửa lại tìm khoá xe

Nhiều hôm thăm viếng bạn bè

Được dăm ba phút nằm phè ngủ ngon

Tóc bạc chen chúc tóc non

Không dám nhổ nữa sợ còn bình vôi

Kiến thức mới nuốt chẳng trôi

Bước ra khỏi cửa trùm người áo len

Ra đường chẳng ai gọi tên

Cứ gọi chú, bác có phiền hay không?

Khi lên xe buýt dẫu đông

Dăm người nhường chỗ 'Mời ông cứ ngồi’

Lại hay nhạy cảm, tủi đời

Thích được săn sóc hơn thời ngày xưa

Thấy tình nhân trẻ vui đùa

Mà lòng chua xót phận vừa cuối thu

Suốt ngày trung tiện lu bù

Cơm thì phải nhão, phở cho thật mềm

Thích nghe tiếng hỏi, lời khen

'Lúc này thon thả, trẻ hơn dạo nào'

Thức ăn cứ lấy ào ào

Ăn thì chẳng nổi mà sao cứ thèm

Ngủ trưa giấc cứ dài thêm

Đứng, ngồi, 'chuyện ấy' ngày thêm chậm rì

Đánh răng, tìm thuốc loại gì

Để răng được trắng không thì khó coi

Cà phê chỉ hớp một hơi

Đêm về trắng mắt nhìn trời đếm sao

Gặp người cùng tuổi như nhau

Thường hay hỏi 'Bác thế nào? Khoẻ không?'

Cell Phone thì khổ vô ngần

Lúng ta lúng túng thường không trả lời

Để chuông reo mãi một hồi

Mở ra thì đã chậm rồi còn đâu?

Bệnh tật nó đến từ đâu

Cao mỡ, cao máu lâu lâu ... tiểu đường

Tránh né việc nặng là thường

Việc nhẹ thì cũng đau xương, mệt nhoài

Đi chơi càng khổ gấp hai

Đi đâu cũng ngại đường dài lái xe

Giữ thân cho khỏi tròn xoe

Vòng hai sao cứ bè bè phình to

Thang lầu càng nghĩ càng lo

Chỉ sợ trượt ngã khổ cho thân này

Ngủ thì chẳng ngủ được say

Bốn năm giờ sáng dậy ngay tức thì

Sinh nhật, sinh nhiếc làm gì

Cái chuyện lẻ tẻ ấy thì nên quên

Vẫn hay nhìn kiếng thường xuyên

Xem chân dung đã trở nên thế nào

Buồn tình đếm thử xem sao

Bao nhiêu triệu chứng ấy bao nhiêu già!

 

*Có lẽ cũng nên…

Nên đây là nên chuyền cho nhau một vài tâm tình của những người anh em ở Chi hội Sydney, vẫn có những trăn trở gửi đến nhau, như sau:

 

Chị ơi,

Thật không có gì phải tranh cải về ý của bài viết này, thật đúng và thật hay.

Hạnh phúc nhất là khi mình đã từng tuổi này mà chưa nghe bác sĩ bảo là ..thuốc này uống ngày một viên thuốc kia uống ngày 2 viên sáng tối cho đến hết đời ăn uống thì kiên thứ này thứ kia,,, Ra khỏi phòng mạch bác sĩ,'ăn sung mặc sướng" đã bị 50% off !!!!

 

Hạnh phúc là khi nhìn con cái lớn lên và tự đứng vửng bằng đôi chân của nó, hạnh phúc là vợ chồng con cái bên nhau trong những bửa cơm hiếm hoi hôm nay, thật hạnh phúc.

Chủ nhật đi lễ,những lúc chia trí, nhìn lên khoảng cách từ Bàn Thánh đến hàng ghế đầu của giáo dân,,,,em cũng hình dung ra được sẽ có một lúc nào đó mình sẽ được đặt nằm ở đó trong quan tài buồn, cô đơn và chắc chắn là lạnh lẽo xa cách những người mà mình từng thương yêu,xa cách không gian rất quen thuộc, tay không về nơi vô định. Có thấy được dung nhan Chúa ? Hay là vào chổ tăm tối luyện hình !

 

Ngay ngả ba đường này,không phải Chúa chọn mà là em chọn.Sống tốt lành theo ý Chúa hay bị cám dổ bởi tiền tài danh vọng.Là lúc này và khi này khi em còn hơi thở.

 

Nhưng thở dài !!!,đã có quá nhiều tiếng thở dài xưa kia,nay lại cũng thở dài...Gần 60 tuổi ....danh vọng thì không thể nào có rồi,tài không nhưng tiền thì em vẫn còn ham lắm ! Chị thấy buồn cho em không? em còn thấy buồn hơn chị nữa,buồn hơn rất nhiều lần !

 

Như chị vẫn biết, em làm ở warehouse quá cực,công việc đòi hỏi làm việc rất cực lực cả về sổ sách và lao động, do đó sau khi em nghỉ vài ngày thì họ có kêu đi làm lại nhưng anh Dũng bảo thôi tìm việc khác đi.Thế là nay em làm chổ mới này, công việc nhẹ nhàng nhưng tuần làm có 1 hay 2 ngày hoặc như tuần qua nghỉ cả tuần,cứ như vậy .Than thì cũng vậy,nhưng vẫn cứ than, hôm qua lại mới xách resumer đi xin việc, chị thấy chán cho em không? Rõ chán,

 

Cứ nghỉ,em đi làm ngày tệ lắm được 120 so với VN cháu em đi làm hơn 2 tuần lễ ngày 10 giờ tuần 6 ngày rưởi vì làm fortnight 13 ngày,rất cực,rất khổ.Hoàn ảnh gia đình bên em ở VN không được tốt,Giúp hoài,giúp hoài vẫn cứ chìm,lớp sau lại đè lên lớp trước... không phải vì ăn xài ỷ lại mà vì không có base nên không đứng được,không trình độ nên cứ phải chìm.Do đó ..em thật rất muốn có việc làm dù rằng em cũng mệt.Rất mê tiền, những đồng tiền làm bằng mồ hôi để dệt ước mơ cho các cháu của em bên VN.

 

Ai cũng có những quá khứ để tự hào nhưng em thì không ,từ trước 75 nhà em rất nghèo,là con đầu học mới xong lớp 9 là ba mẹ em cứ rỉ rã ,con gái học chi cho  lắm rồi cũng nấu cơm, nghỉ học đi làm phụ nuôi các em.Ráng bịt tai lại, vừa làm vừa học để ngoi lên với ước mơ rất tầm thường...không phải đi ở đợ  Đến 2 năm cuối của bậc trung học những tưởng phải bó tay nghỉ học, may nhờ có học bổng nên được tiếp tục học tiếp..Bước chân vào được đại học...thật một kỳ công,một cuộc vật lộn tranh cải liên miên trong những bửa cơm gia đình.Nay ba mẹ em nhìn em với những ước mơ,,trông cậy.

 

Rồi ,,75 sụp đổ VNCH cũng là sụp đổ luôn giấc mộng ngoi lên của em.của gia đình em...nhà em bị pháo kích ngay hôm 28/4/75, cháy rụi.Không thể nào còn ai nghèo hơn gia đình em nữa rồi trong đoàn cái bang có gia đình em đi hàng đầu.!Gia đinh ly tán,nữa ở Saigon vất vưởng đói no, nữa về quê lam lũ có đói nhưng không có no ! Và rồi ...có hiền mà không có gian nên đến ngày nay vẫn còn cố ngoi lên mà chưa ngoi được...Chìm rất là sâu !!!..Trong những bạn bè em bên này không ai có gia đình nghèo như gia đình em,chắc chắn là như vậy.Đôi lúc em cứ nghỉ,số của gia đình nhà em chắc là bị ếm!

 

Chị có hiểu không vì cớ gì mà em cứ mãi mê tiền?

tkp

 

*Những tin buồn vẫn không thiếu

Tin buồn lần này, lại từ anh cựu Chi Hội Trưởng đương kim Chi Hội Phó Phạm Văn Chương. Gọi là buồn cũng không đúng, vị soeur Andrée, chị của anh nay đã về cùng Chúa sau 88 năm lưu lạc ở thế trần. Tin vừa buồn vừa vui ấy, như sau:

 

Toi la Pham van Chuong, cung lop voi Tran ngoc Ta, Cha Nguyen tien Loc, Dao quang My , Vu ngoc Loi,

co ba chi la Soeur Andree, di tu tai Dong Carmel o Quebec, Canada,

moi duoc Chua goi ve, sau thoi

gian tu tap tai Dong carmelo gan 60 nam,

trai dai tu Dong kin Hanoi, roi Phap, roi Canada,

huong tho 88 tuoi.

Xin anh em giup loi cau nguyen cho linh hon Sr Andree,

nguoi toi to Chua da hi sinh ca cuoc doi

trong Dong tu kho khan de phung su Chua,

duoc Chua don ve nuoc Chua huong phuoc muon doi,

Xin cam on tat ca cac ban huu,

Chuong

 

Và những lời phản hồi cũng đã nhiều:

 

Xin hiệp thông trong Lời Kinh

cầu cho linh hồn Andree được hưởng Nhan Thánh Chúa.

Kính,

GĐ Hương Nam

 

Và nhiều anh em khác, ở khắp nơi:

 

Xin Chúa Nhân Từ đón Chị vào vòng tay ân ái của Ngài.

Và cũng xin chị Andree hộ phù bà con trong gia đình và tất cả.

Gia đình Mai Tá ở Sydney.

 

Một phản hồi từ người cùng lớp, lớp Têrêsa, bên Mỹ:

 

Chuơng ơi! "Ông Bạn Vàng" ơi!

Chân thành chia buồn về đại tang này, với Ông Bạn, với đại tang quyến!

Trong niềm tin vào Chúa Quan Phòng và Nhân Hậu, chắc chắn Chúa đã tưởng thưởng linh hồn Sr Andree trên Thiên Đàng.

Dù sao trong thân phận "người trần", Ông Bạn nên giữ gìn sức khỏe và tinh thần trong thời gian thử thách này, Chuơng nhé!

Luôn nhớ đến Ông Bạn Vàng của tớ - cũng như luôn nhớ đến Lớp Mình Têrêsa!

Đào Quang Mỹ

 

Và đôi lời của người bạn đồng môn bên Mỹ, họ Vũ tên Lợi:

 

        Thành Kính Phân Ưu

       Được tin Soeur Andree, mới được Chúa gọi về tại Dòng Carmel Quebec Canada.

       Xin chân thành chia buồn cùng Anh Chị Phạm Chương (Nguyệt) cùng tang quyến.      

      Nguyện cho Linh hồn Soeur Andree sớm được hưởng Nhan Thánh Chúa,

      và xin Chúa luôn nâng đỡ, an ủi anh chị cùng tang quyến trước sự ra đi của người chị thân yêu.

      Chân thành phân ưu,

      Gia đình Vũ Ngọc Lợi,

      California 

 

Và thư hồi âm của anh Phạm Văn Chương:

Men goi qui ban huu xa gan,


Gan day, toi co nhan duoc nhieu loi phan uu cua anh chi em goi den,
de chia buon voi toi ve su ra di moi day cua ba chi toi tai canada, xin
chan thanh goi den qui ban huu loi cam on sau sa cua toi, va toi luon
ghi nho nhung tinh cam qui men ma qui ban huu da chia xe voi toi trong
dip qua. Mot lan nua, xin goi den tat ca qui ban huu xa gan loi cam on
chan thanh nhat,

Cam ta

Chuong

 

Từ Nguyễn Minh Sang, CSsR (củng lớp với anh CHương)

 

Men goi qui ban huu trong GD AP

Hợp lòng với bạn Phạm Văn Chương phó dâng linh hồn chị Andree

cho lòng thương xót của Chúa.

Trong niềm tin vào sự Phục Sinh của Chúa Kitô,

chúng ta hy vọng chị được hưởng nhan thánh Chúa.

Sang CSsR Nha Trang.

 

Từ anh Trần Tuấn, ở Mỹ:

 

Thanh that chuc mung cho Chi va gia dinh.

Chi Andrea da chon phan tot hon

va chi cung da tron ven trung tin voi su chon lua do.

Congratulations !

 

*Gia Đình An Phong mừng lễ giỗ tổ

 

Một thành viên tận bên ấy, nay đóng góp vài tư tưởng về thánh tổ, rất hôm nay:

 

    Hôm nay 01 08 2012, thánh  lễ như mọi ngày, 8giờ 30.

    Nhưng bất ngờ lý thú: 4 cha, - 3 maristes, 1 khách ( từ Pháp qua “nghỉ hè”, tuy bên này bây giờ là mùa lạnh), - hóa thành “lễ trọng”.

    Trước cử hành, vị chủ tế nhắc lại những nét đậm đời thánh tổ. Giọng ngài nghe thật rõ, tưởng như xuất phát từ miệng một rédemp. Ai nấy đều nghe rõ, chăm chú thua gì “các chú” thuở đó, trong nhà nguyện vuông vắn ( chiều ngang 0 thua gì chiều dài ), cũng sáng sủa như thời ở Vũng Tầu.

        Hôm nay cũng là ngày thứ tư, phiên các chị các cô tu hội Eau vive linh hoạt. Lời bài rước lễ là một bài thơ của Thê Diệu Sa. “Tu m’as cachée pour toujours dans Ta face”- Chúa giấu con trên gương mặt Chúa. “giấu” trên gương mặt sáng láng , vinh hiển, ngự bên Chúa Cha ? Hai tông đồ xưa xin được ngồi bên hữu Con Chiên mà đã bị các bạn đồng môn nghen đến muốn nhai sống, mà đây lại xác nhận rằng Chúa đã đặt con trên gương mặt Chúa. Cô bé 0 sợ toàn thể  Thiên cung và toàn thể dân Chúa dưới  thế nghen sao?

Cô bé – tôi hãnh diện mà nói - là quan thầy lớp chúng tôi thời Đệ tử viện Vũng Tầu. Môt trong những sinh nhoạt lớp 0 quên là truyền tay nhau viết nhật ký chung...có anh chàng nọ luôn sẵn sàng viết thay thế bất cứ ai, cầm đến bút là chảy thành văn.

Hôm nay, lễ kính thánh tổ An Phong, nhớ lại sứ mệnh mà thời trẻ đã nhận lãnh,  mà sao lãng suốt mấy chục năm dài dài...

    - Bây giờ ?

    - Về hưu rồi! 

    - Cuộc đời gió thoảng mây trôi! 

    - Trễ quá chăng ?

    - Nhưng 0, một phút sống là một phút công bố TIN MỪNG.

    - ...Với điều kiện đó thực sự là NIỀM VUI KHÔNG BỜ BẾN đến độ không thể giấu nổi.

 

Nguyễn Quý Bân ( New Caledonia)

 

*Sinh hoạt của Hội Ân Nhân DCCT VN ở Melbourne

Lễ bổn mạng Hội Ân Nhân DCCT tại Việt Nam ở Úc Châu, Chi hội Melbourne

VRNs (06.08.2012) – Melbourne – Chiều thứ bảy ngày 4 tháng 8 năm 2012 lúc 3g00 chiều, Chị Hội Ân nhân Dòng Chúa Cứu Thế tại Việt Nam ở Melbourne – Australia đã tổ chức lễ tạ ơn mừng bổn mạng tại nhà Dòng Chúa Cứu Thế Kew – Australia.

Thánh lễ được cử hành bởi linh mục Joseph Mai C.Ss.R. qui tụ khoảng hơn 50 hội viên, đặc biệt có sự hiện diện của đại diện cộng đoàn dân Chúa tại Keysborough nơi mà Cha Joseph Mai C.Ss.R. sẽ về nhận nhiệm sở vào cuối năm 2012. Keysborough đã được Tổng Giáo Phận Victoria giao cho Dòng Chúa Cứu Thế Úc Châu Tỉnh Canberra phụ trách, là một cộng đoàn đông đảo người gốc Việt và có nhiều hoạt động văn hóa Việt Nam. Ngoài ra cũng có một số quan khách đến từ St. Albans, Sunshine,Deer Parktham dự, số người có mặt khoảng 70 người.

Cuối lễ Cha Bề trên nhà Kew, Fr. Bill Goldman ngỏ lời chúc mừng Hội Ân nhân, chia sẻ tâm tình với mọi người và nói lên lời cám ơn đến Tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam về những đóng góp và cộng tác giữa hai Tỉnh Dòng trong các lãnh vực đào tạo, tông đồ và truyền giáo. Cha cũng khuyến khích các hội viên hăng say quảng đại để cùng đồng hành với Tỉnh Dòng Việt Nam trong giai đoạn khó khăn này.

Đặc biệt Cha Joseph Mai thông báo về quyết định tấn phong giám mục của Tòa Thánh cho Cha Paul Bird, Bề trên Giám Tỉnh Tỉnh Dòng Canberra (Úc Châu), lễ tấn phong dự định vào ngày 16 tháng 10 năm 2012, ngày lễ Thánh Giêrađô. Tân Giám mục Paul Bird sẽ đảm nhận Giám mục chính tòa Giáo Phận Ballarat. Cha Paul Bird là giáo sư Phụng vụ, cùng với Cha Giám Tỉnh Việt Nam là thành viên của Liên hiệp DCCT vùng Á – Úc châu. Ngài đã đến thăm Việt Nam nhiều lần và có những công trình liên kết với Tỉnh Việt Nam trong nhiều lãnh vực. Trong dự định ngài sẽ đến thăm Tỉnh Dòng Việt Nam vào cuối tháng 9 năm nay, nhưng nay chắc chắn chương trình sẽ phải đổi khác.

Kết thúc lễ tạ ơn mọi người chia sẻ với nhau buổi liên hoan trong phòng cơm của Nhà Dòng ở Kew, phần văn nghệ do các Thầy DCCT Việt nam đang theo học ở Melbourne phục vụ.

Cha Joseph Mai C.Ss.R. chủ tế thánh lễ kính Thánh Anphongsô

Hội viên Hội Ân nhân DCCT tại VN ở Úc châu-chi Hội Melbourne

Cha Bề trên nhà Kew, Fr. Bill Goldman

Ông Phạm Quang Tuyên, Chi Hội trưởng

Chi hội Melbourne – Úc châu

Liên hoan

Các Tu sĩ DCCT giúp vui văn nghệ

 

Thanh Thảo

Cộng tác viên VRNs ở Úc Châu

*Thơ về Vợ:

Thơ này viết mãi vẫn không cạn. Vấn đề chỉ là: thơ có hay hoặc dở không thôi. Quyền phán đoán, xin dành để cho bạn đọc, nhưng người từng có vợ, xem có đúng hay không…Một vợ đã thấy sợ, huống hồ những mười cô, ô hô.

 

MƯỜI VỢ 

Vợ 1 dành để nấu ăn

Vợ 2 tôi để quét sân lau nhà

Vợ 3 da dẻ nõn nà

Nên dành cất kỹ để mà tối ôm

Vợ 4 tội nghiệp ốm ròm

Thôi thì coi sóc chăm nom vịt gà

Vợ 5 có tính thật thà

Đi làm mang check về nhà bỏ băng

Vợ 6 tính nết cọc cằn

Ai mà ăn hiếp chỉ cần gọi tên

Vợ 7 giặt giũ chiếu mền

Đấm lưng cạo gió khi mình ốm đau

Vợ 8 xinh đẹp làm sao

Để dắt đi phố hỏi chào bà con

Vợ 9 có tính hát đàn

Thôi thì ca múa nhịp nhàng tôi nghe

Vợ 10 làm lụng sau hè

Trồng rau bửa củi chẳng nề chuyện chi

10 vợ tôi vẫn cười khì

Kiếm thêm bà nữa lỡ khi tối trời

10 vợ sướng lắm ai ơi

Không tin làm thử .. .ối giời khoẻ re!

 

*Về “Chồng” dù chỉ muốn một thôi, nhưng vẫn cứ là:

 

Chồng là một đấng anh hào

Là duyên, là nợ trời trao cho mình

Chồng là trụ cột gia đình“

Ba đồng một mớ” ta rinh về nhà

 

Chồng là Bố của con ta“

To đầu mà dại” đến già chưa khôn

Chồng là loài sống bằng cơm

Lại ham món phở, bia ôm vỉa hè

 

Chồng là một gã lái xe

Uống nhiều, hút lắm, lè phè ngày đêm

Chồng là anh của nhiều em

Ga lăng nên hễ có tiền là vung

 

Chồng là cái thế anh hùng

Mát xa, sàn nhảy vẫy vùng khắp nơi

Chồng là hào kiệt trên đời

Vợ mình thì sợ, vợ người thì yêu

 

Chồng là quân tử hạng siêu

Cứ ai phái yếu là chiều, là thương

Chồng là một gã ương ương

Bỏ đi thì tội, phải vương cả đời!

 

*Tỉnh Dòng VN đã nhận quà 2012 Chi Hội Sydney góp tặng:

Cứ như thông lệ, quà tặng dịp thánh tổ là để tặng tỉnh Dòng Việt Nam sử dụng theo quyết định của cha Giám tỉnh. Năm nay, cha Giám tỉnh Phạm Trung Thành nhận được số qua như sau:

 

Và quà này là nhờ hồng ân của anh Nguyễn Kim Linh, trao tận tay hôm ấy:

Hello Chi Hội Trưởng Nguyễn Văn Dũng

Hôm tôi qua 2 ngày, thì bên trường mấy đứa nhỏ gọi qua có chuyện bất ngờ (bệnh), thành ra quay về gấp, không kịp vô Nhà Dòng, phải nhờ thằng cháu đem vô.

Cha Thành có viết mấy chữ đính kèm (hôm tôi đổi $6300 = VND136,500,000)

Thân chào  

Nguyễn Kim Linh

Comments